đánh giá và tuyển chọn một số giống ngô lai phù hợp với điều kiện vụ đông tại bắc giang - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN TIẾN DŨNG

ĐÁNH GIÁ VÀ TUYỂN CHỌN MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI
PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN VỤ ĐÔNG TẠI BẮC GIANG CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ : 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Có được kết quả nghiên cứu này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến:
TS. Nguyễn văn Cương, người đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn và tạo
mọi điều kiện tốt cho tôi trong suốt thời gian học tập, thực hiện đề tài nghiên
cứu và hoàn chỉnh luận văn này.
Tập thể các thầy cô giáo bộ môn Cây lương thực, Khoa Nông học, Học
viện Nông nghiệp Việt Nam, luôn giúp đỡ và có những góp ý sâu sắc trong
thời gian tôi học tập và thực hiện đề tài.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân và gia đình đã
động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Dũng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Vật liệu nghiên cứu 28
2.1.1 Địa điểm thí nghiệm 28
2.1.2 Thời gian thí nghiệm 29
2.2 Nội dung nghiên cứu 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 29
2.3.2 Quy trình kỹ thuật: 29
2.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 31
2.3.4 Xử lý số liệu 34
CHƯƠG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Diễn biến thời tiết khí hậu của Bắc Giang vụ Đông năm 2013 35
3.2 Thời gian sinh trưởng và phát triển của các giống ngô lai trong
thí nghiệm 36
3.3 Các chỉ tiêu về hình thái cây của các giống ngô lai thí nghiệm 44
3.3.1 Chỉ tiêu về số lá trên cây và chỉ số diện tích lá: 47
3.3.2 Một số đặc điểm về bắp và hạt của các giống ngô lai tham gia
thí nghiệm 49
3.3.3 Khả năng chống chịu của các giống ngô lai tham gia thí nghiệm 54
3.4 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô lai 60
3.4.1 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô thí nghiệm 60
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69
1 Kết luận 69
2 Đề nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
nghiệm (tiếp theo) 63
3.13 Năng suất của các giống ngô lai tham gia thí nghiệm 64
3.14 Dạng hạt, màu sắc hạt của các giống ngô lai tham gia thí nghiệm 68

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC HÌNH

STT Tên hình Trang

3.1 Thời gian sinh trưởng của các giống ngô lai tham gia thí nghiệm 41
3.2 Năng suất thực thu của các giống ngô tham gia thí nghiệm 67 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

Từ viết tắt Giải thích
CIMMYT Trung tâm Nghiên cứu Ngô và Lúa mì Quốc tế
IFPRI Viện nghiên cứu chương trình Lương thực thế giớ
FAOSTAT Tổ chức Nông lương thế giới
CS Cộng sự
KHKTNN Khoa học kỹ thuật nông nghiệp
KHKT Khoa học kỹ thuật
NN&PTNN Nông nghiệp và phát triển nông thôn
D Diện tích
N.suất Năng suất

sữa. Ngô cũng là cây thực phẩm như ngô bao tử làm rau, ngô nếp, ngô đường
dùng làm quà ăn tươi hoặc đóng hộp làm thực phẩm cao cấp, là nguyên liệu
của nghành công nghiệp thực phẩm và công nghiệp nhẹ để sản xuất rượu, cồn,
tinh bột, dầu, bánh kẹo…Đặc biệt, gần đây ngô ngô là nguồn nguyên liệu của
ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học (ethanol).
Trong gần 50 năm qua, ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng
suất cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu. Năm 2009, sản xuất ngô thế
giới đạt kỷ lục cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Với 159 triệu ha, năng
suất 51,2 tạ/ha và sản lượng 817,1 triệu tấn, cao hơn lúa nước 138,4 triệu tấn
và lúa mỳ 135,2 triệu tấn (theo FAOSTAT). So với năm 1961, năm 2009
năng suất ngô trung bình của thế giới tăng thêm 32,2 tạ/ha (từ hơn 19 tạ/ha
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

lên 51,2 tạ/ha), trong khi lúa nước tăng 23,3 tạ/ha (từ 18,7 tạ/ha lên 42,0 tạ
/ha), còn lúa mỳ tăng 19,3 tạ/ha (từ 10,9 tạ/ha lên 30,2 tạ/ha)
Ở nước ta ngô là cây lương thực quan trọng thứ 2 sau lúa nước, nhưng
trước đây do trồng các giống ngô địa phương với kỹ thuật canh tác lạc hậu
nên năng suất ngô còn hạn chế. Ngành sản xuất ngô nước ta có bước tiến nhảy
vọt từ giữa những năm 1990, nhờ phát triển giống ngô lai và cải thiện các
biện pháp canh tác. Năm 1991, diện tích trồng giống ngô lai chưa đến 1%
trong hơn 400 nghìn hecta ngô. Năm 2009, trong số 1.086.800 ha thì ngô lai
chiếm khoảng 95%, năng suất trung bình đạt 40,8 tạ/ha, sản lượng 4.431.800
tấn. Đây là năm có diện tích, năng suất và sản lượng cao nhất từ trước đến nay
(Tổng cục thống kê, 2008)
Mặc dù ngành sản xuất ngô ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu
đáng kể, nhưng sản xuất ngô ở nước ta vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra: Thứ nhất
là năng suất ngô (40,8 tạ/ha, 2009) vẫn thấp so với trung bình thế giới (51,2
tạ/ha, năm 2009), thấp hơn nhiều so với nước Mỹ (100 tạ/ha), Trung Quốc (
52 tạ/ha) và rất thấp so với năng suất ngô trong thí nghiệm (năm 2010 tại

chế chỉ đạt 36,2 tạ/ha (Tổng cục thống kê, 2012). Vì vậy, giải pháp tối ưu cho
việc nâng cao năng suất và sản lượng ngô ở vùng này là sử dụng các giống
ngô lai chịu hạn và áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới. Do đó, cần phải chọn
tạo được những giống ngô cho năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt, phù
hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng. Để tìm ra được những giống ngô
ưu việt nhất đưa vào sản xuất đại trà, cần tiến hành quá trình nghiên cứu, đánh
giá, loại bỏ những giống không phù hợp, giúp cho quá trình đánh giá và chọn
tạo giống đạt hiệu quả cao nhất.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Đánh
giá và tuyển chọn một số giống ngô lai phù hợp với điều kiện vụ Đông tại
Bắc Giang”
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

2. Mục đích và yêu cầu
2.1. Mục đích
Chọn ra được giống ngô lai mới cho năng xuất cao, khả năng chống
chịu tốt và phù hợp với điều kiện canh tác vụ Đông tại Bắc Giang
2.2. Yêu cầu
- Nghiên cứu các đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống
ngô lai vụ Đông tại huyện Lạng Giang và huyện Tân Yên
- Đánh giá một số đặc điểm nông sinh học và khả năng chống chịu với
điều kiện bất thuận và một số sâu bệnh hại chính của các giống ngô lai trong
điều kiện vụ Đông tại huyện Lạng Giang và huyện Tân Yên
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống
ngô lai.
2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: một số giống ngô lai mới của các công ty
trong và ngoài nước chọn tạo
- Phạm vi nghiên cứu: Xã Phi Mô huyện Lạng Giang và Xã Hợp Đức

Theo Viện Nghiên cứu chương trình lương thực thế giới (IPRI, 2003).
Đến năm 2020 nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm 1997, chủ yếu
tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), Riêng Đông Nam Á, nhu cầu tăng
70% so với năm 1997, sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh là do dân số thế giới tăng,
thu nhập bình quân đầu người tăng, nên nhu cầu thịt, cá, trứng, sữa tăng mạnh,
dẫn đến đòi hỏi lượng ngô dùng cho chăn nuôi tăng. Nhưng thách thức lớn nhất
là 80% nhu cầu ngô thế giới tăng (266 triệu tấn), lại tập trung ở các nước đang
phát triển. Hơn nữa chỉ khoảng 10% sản lượng ngô từ các nước công nghiệp có
thể được xuất khẩu sang các nước đang phát triển. Vì vậy, các nước đang phát
triển phải tự đáp ứng nhu cầu của mình (IPRI, 2003)
Theo đại học tổng hợp Iowa (2006), trong những năm gần đây, khi thế
giới cảnh báo nguồn dầu mỏ đang cạn kiệt thì ngô đã và đang được chế biến
ethanol, thay thế một phần nhiên liệu xăng dầu để chạy ô tô tại Mỹ, Braxin,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

Trung Quốc, …Riêng ở Mỹ, năm 2002 - 2003 đã dùng 25,2 triệu tấn ngô để
chế biến Ethanol, năm 2005 - 2006 dùng 40,6 triệu tấn (Oxfarm, 2004)
Bảng 1.1: Sản lượng ngô một số nước sản xuất chính trên thế giới
và một số nước Đông Nam Á
Đơn vị: 1.000 tấn
Năm 2009 2010 2011 2012
Toàn thế giới 602,932

642,476 724,233 855,1
Một số nước sản xuất chính


châu lục trên thế giới có sự chênh lệch tương đối lớn.
Về sản lượng ngô trên thế giới năm 2011 là 794,5 triệu tấn và năm
2012 là 864,1 triệu tấn. Đứng đầu là Mỹ, tiêp theo là Trung Quốc, Braxin…
dưới đây là bàng thống kê diện tích trồng và sản lượng ngô của một số nước
trên thế giới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô trên thế giới và một số
nước tiêu biểu
Đơn vị: tấn/ha
Quốc gia
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
2011

2012

2011

2012

2011

2012


5,2

165,9

155

EU
-
27

8,86

8,39

7,1

6,6

62,72

55,77

Brazil 14,1

13,3

3,6

3,8


8

2,4

2,3

19,29

18

Pháp 1,7

1,69

9,3

8,9

15,82

15

Nam Phi 2,9

3,25

4,3

4,2


Khác 53,33

53,1

2,8

2,7

149,46

143,43

(Nguồn: FAO, 2012)
Nghiên cứu và sử dụng ưu thế lai cho cây ngô được tiến hành sớm và có
hiệu quả nhất là nước Mỹ, bằng những giống ngô lai trong thí nghiệm năng
suất ngô đã đạt được trên 25 tấn/ha. Trong sản xuất đại trà một số nước đã đạt
được năng suất 15 - 18 tấn/ha trong 1 vụ. (Trần Hồng Uy, 1999)
Theo số liệu thống kê của CIMMYT (1999/2000), ngô lai chiếm khoảng
68% diện tích ngô toàn thế giới, ở các nước phát triển là 98%, các nước đang
phát triển là 52%. Năm 2001, cây ngô có năng suất bình quân 4,3 tấn/ha,
sản lượng trên 600 triệu tấn, đứng đầu trong các cây ngũ cốc, trong khi
diện tích (140 triệu ha) chỉ đứng hàng thứ 3 sau lúa mỳ và lúa nước. Mỹ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

là nước có diện tích ngô lớn nhất gần 30 triệu ha, đạt năng suất bình quân
gần 9 tấn/ha (100% diện tích trồng giống ngô lai mà phần lớn là giống lai
đơn). (Ngô Hữu Tình, 2002)
Việc ứng dụng công nghệ gen, các nhà khoa học có thể chuyển đổi các
gen kháng sâu bệnh, kháng hạn, kháng lạnh, kháng mặn tạo ra các giống mới

1.067.900 ha, sản lượng vượt ngưỡng 4 triệu tấn (4.250.900 tấn). Năm 2009,
diện tích đạt 1.170.900 ha, tổng sản lượng lên tới trên 5.031.000 tấn. Các
giống ngô lai của Việt Nam bước đầu cũng đã được bán sang các nước
Bangladesh, Campuchia, Lào, Quảng Tây-Trung Quốc, Pakistan, Indonesia,
Ấn Độ… (Theo FAO, năm 2009)
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô từ năm 2005-2013
Năm
Diện tích
(1000ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
2005 1052,6 3,60 3787,1
2006 1033,1 3,73 3854,5
2007 1067,9 3,85 4250,9
2008 1126,0 4,02 4531,2
2009 1170,9 4,30 5031,0
2010 1125,7 4,11 4625,7
2011 1117,2 4,29 4799,3
2012 1.118,3 4,30 4803,6
2013 1172,6 4,43 5194,6
(Nguồn:Tổng cục thống kê, năm 2013)
Với diện tích, năng suất và sản lượng tăng nhanh (bảng 1.3) cho thấy từ
năm 2005 diện tích tăng từ 1052,6 nghìn ha và năm 2013 đạt 1.172,6 nghìn
ha, năng suất bình quân 3,60 tấn/ha lên 4,43 tấn/ha và sản lượng từ 3.787,1
nghìn tấn năm 2005 lên 5.194,6 nghìn tấn vào năm 2013. Tỷ lệ diện tích sử
dụng các giống mới có năng suất cao và chất lượng tốt ngày càng tăng lên
(Nguyễn Thế Hùng, 2002)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


- Vùng Đông Bắc: Diện tích ngô khoảng 190.000 ha, ngô được trồng ở
độ cao 300 - 900m so với mặt nước biển. Vụ chính là vụ xuân, gieo vào tháng
2, tháng 3
- Vùng Tây Bắc: diện tích khoảng 105.000 ha, ngô được trồng ở độ cao
từ 600 - 1000 m. Vụ chính gieo tháng 2, tháng 3 và tháng 4
- Vùng Đồng Bằng Sông Hồng: Diện tích ngô 72.700 ha, ngô được
trồng ở độ cao 0 - 200m, vụ chính là vụ xuân gieo tháng 2, vụ thu gieo trong
tháng 8 và vụ đông gieo tháng 9 đầu tháng 10
- Vùng Bắc Trung Bộ: diện tích 122.900ha, ngô được trồng ở độ cao 0
- 200m, vụ chính là vụ xuân gieo tháng 1, tháng 2, vụ đông gieo tháng 10
- Vùng Tây Nguyên: diện tích 242.000ha, trồng ở độ cao 400 - 900m,
vụ chính hè thu gieo tháng 4, đầu tháng 5
- Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ: diện tích 79.200ha, trồng ở độ cao 0
- 1000m. Vụ chính hè thu gieo tháng 4, vụ đông gieo vào tháng 11, tháng 12
- Vùng Đông Nam Bộ: diện tích 89.400ha, trồng ở độ cao 0 - 400m, vụ
chính hè thu gieo vào cuối tháng 4, vụ đông xuân gieo vào tháng 11, đầu
tháng 12
- Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long: diện tích 37.100ha, trồng ở độ cao
0 - 10m. Vụ đông xuân gieo vào tháng 11, tháng 12
1.1.3. Tình hình sản xuất ngô ở Bắc Giang
Bắc Giang là một tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam, có tổng
diện tích đất tự nhiên là 384.945 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp
khoảng 275.796 ha chiếm 71,65% tổng diện tích tự nhiên. Dân số năm 2013
là 1.605 nghìn người. Cây ngô được coi là một trong những cây trồng chính
trong sản xuất nông nghiệp, những năm gần đây sản xuất ngô tại tỉnh đã có
những chuyển biến (bảng 1.4)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12



- Ngô còn là cây trồng có tính thích ứng rộng, trồng được nhiều vùng
trong tỉnh và rễ sản xuất.
- Ngô là cây lương thực đối với nhiều đồng bào dân tộc trong tỉnh, nhất
là nơi không có nhiều điều kiện trồng lúa nước.
- Là cây trồng để phát triển chăn nuôi sử dụng phần hạt hoặc sử dụng
cả cây làm thức ăn xanh có giá trị dinh dưỡng cao. Vì vậy cây ngô được nhiều
người dân quan tâm
*Mặt hạn chế:
- Cơ cấu giống còn hạn chế, chủ yếu các giống NK4300, LVN4,
LVN99, thời gian sinh trưởng trung bình, năng suất chưa cao (36,2 tạ/ha), và
bị nhiễm một số bệnh như khô vằn, gỉ sắt, nên còn gặp nhiều khó khăn, hơn
nữa, kỹ thuật thâm canh ngô còn chưa hiệu quả.
- Trong sản xuất, một số vùng còn phụ thuộc vào nước trời (như các
huyện vùng núi như Sơn Động, Lục Ngạn, Yên Thế, Lục Nam, Lạng Giang,
Tân Yên trong vụ Xuân vào tháng 2 tháng 3.
- Ngô là cây đòi hỏi nhu cầu thâm canh cao (phân bón, thuốc trừ sâu)
thì mới cho năng suất cao so với tiềm năng của giống.
- Chi phí vật tư như giá phân bón cao so với thu nhập người dân chuyên
lúa, nên nhiều gia đình chưa có đủ điều kiện chăm sóc kịp thời dẫn đến năng
suất còn thấp.
- Người dân sử dụng quen giống nào thì thường sử dụng giống đó, khó
thay đổi trong việc sử dụng giống mới.
* Tình sản xuất ngô tại huyện Lạng Giang và huyện Tân Yên
Huyện Lạng Giang và huyện Tân Yên là hai huyện có diện tích trồng
ngô cũng tương đối lớn trong tỉnh Bắc Giang, cây ngô cũng là cây chủ lực
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

Bảng 1.5. Tình hình sản xuất ngô tại Lạng Giang và Tân Yên

1930, giống lai ba và lai kép được sử dụng cho đến năm 1957, sau đó giống
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

lai đơn cải tiến và lai đơn đã được tạo ra và sử dụng, chiếm 80 - 85% tổng, số
giống lai (Trần Hồng Uy, 1985). Hiện nay Mỹ là nước có diện tích trồng ngô
lớn nhất thế giới với 100% diện tích được trồng bằng ngô lai, trong đó, hơn
90% là giống lai đơn. Năng suất ngô tăng từ 1,5 tấn /ha năm 1930 đến 7 tấn
/ha những năm 90 (S. K. Vasal, et al., 1990). Theo tính toán của Duvick
(1990), mức tăng năng suất ngô của Mỹ trong giai đoạn 1930 - 1986 là 103
kg/ha/năm trong đó, đóng góp do cải tiến di truyền là 63kg/ha/năm. Năm
1997 - 1999, năng suất ngô trung bình của Mỹ là 8,3 tấn/ha trên diện tích là
29,1 triệu ha (CIMMYT, 1999/2000), đứng vào hàng ngũ các nước có năng
suất ngô cao nhất thế giới.
Việc nghiên cứu tạo giống ngô lai ở Châu Âu bắt đầu muộn hơn ở Mỹ
20 năm nhưng đã đạt được thành công rực rỡ. Tỷ lệ sử dụng giống ngô lai ở
Châu Âu là rất lớn và nó đã góp phần tạo nên năng suất cao ở nhiều
nước(S.K.Vasal, et al., 1999. Theo N. Tomov , 1979), công tác tạo dòng thuần
và giống lai ở Bungaria được bắt đầu từ năm 1951. Năm 1956 - 1958 những
giống lai kép đầu tiên là VIR-42, Wiscosin-641 và Ohio-92 đã được thử nghiệm
và khu vực hóa. Giống lai đơn đầu tiên được đưa vào sản xuất năm 1956 là SK-
4, và sau đó một số lượng lớn giống lai giữa các dòng thuần được tạo ra và đưa
vào thử nghiệm. Theo CIMMYT (1999/2000), năm 1997 - 1999, một số nước có
năng suất ngô bình quân cao là Italia (9,6 tấn/ha), Bỉ (9,5 tấn/ha), Tây Ban Nha
(9,3 tấn/ha), Hy Lạp (9,2 tấn/ha), Pháp (8,8 tấn/ha).
Việc nghiên cứu tạo giống ngô lai ở một số nước đang phát triển bắt
đầu từ những năm đầu thập kỷ 60 như Achentina, Braxin, Colombia, Chile,
Mehico, Ấn Độ, Pakistan, Hy Lạp, Zimbabwe, Kenya, Tanzania và một, vài
nước ở Trung Mỹ. Trong thời kỳ 1966 - 1990, có xấp xỉ 852 giống ngô được
tạo ra trong đó 59% là giống thụ phấn tự do, 27% là giống lai quy ước, 10% là

Giai đoạn 1986 - 1990, đề tài “ nghiên cứu chọn tạo các giống ngô có
năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu các điều kiện bất thuận của môi
trường phục vụ sản xuất các vùng sinh thái của Việt Nam” đã chọn tạo và phát
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17

triển giống ngô TPTD (VN1, MSB49…) đã thay thế các giống ngô địa phương
và góp phần đưa năng suất bình quân ngô của cả nước từ 10 tạ/ha nên 15,5 tạ/ha
Giai đoạn 1991 - 1995, đề tài “nghiên cứu lai tạo, chọn lọc bộ giống
ngô mới có thời gian sinh trưởng khác nhau, thích hợp với cơ cấu mùa vụ,
các vùng sinh thái trong cả nước, chống chịu với điều kiện bất thuận, có năng
suất cao phẩm chất tốt”, bước đầu nghiên cứu các giống ngô lai quy ước và
không quy ước, đã góp phần nâng năng suất ngô từ 15,5 ta/ha lên 21.1 tạ/ha
Chọn tạo được nhiều giống ngô lai tốt: Giống LVN98, HQ2000 công
nhận năm 2000; LVN10 công nhận năm 1994
Giai đoạn 1996 - 2000, đề tài “nghiên cứu chon tạo cây màu, rau năng
suất cao chất lượng tốt”, đã đưa ra sản xuất nhiều giống ngô lai đơn, lai ba,
lai kép đưa năng suất từ 21,1 tạ/ha lên 27,5 tạ/ha, các giống LVN4, LVN17,
giống LVN 25
Giai đoạn 2001 - 2005, đề tài “nghiên cứu chon tạo các giống ngô lai
thích hợp các vùng sinh thái”, đã thiết lập được hệ thống nghiên cứu cho các
vùng trồng ngô. Các giống mới tạo ra chủ yếu là lai đơn, các giống mới nhập
nội, nâng cao diện tích sử dụng giống ngô lai lên trên 80% và đưa năng suất
bình quân lên đạt 35,5 tạ /ha.
Giai đoạn 2006 - 2010, đề tài “nghiên cứu chon tạo các giống ngô lai
năng suất cao chất lượng tốt thích hợp các vùng sinh thái”Tiếp tục mở rộng
mạng lưới nghiên cứu ngô cho các đơn vị như Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ,
Viện KHKTNL miền núi phía bắc, Viện KHKTNN duyên hải Nam Trung
Bộ…, đề tài sơ bộ đã tạo ra giống ngô lai năng suất cao, chống chịu với điều
kiện bất thuận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status