ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐẶTVẤN ĐỀ
Kinh tế đối ngoại là một mặt hoạt động không thể thiếu ở một nước
nào đó trong thời kì hội nhập và phân công lao động quốc tế vì vâỵ Việt
Nam cũng không phải là ngoại lệ
Kinh tế đối ngoại góp phần nối liền sản xuất và trao đổi quốc tế, nối
liền thị truờng trong nước và quốc tế, khu vực nó góp phần thực hiện trao
đổi khoa học kĩ thuật và công nghệ quản lý giữa các nước với nhau. Hoạt
động kinh tế đối ngoại góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài: như vốn
đấu tư trực tiêp FDI vốn viện trợ chính thức từ các tổ chức tiền tệ và các
chính phủ ODA. Ngoài ra nó còn thu hút khoa học kĩ thuật và công nghệ
khai thác và ứng dụng những kinh nghiệm xây dựng và quản lý nền kinh tế
hiện đại vào nước ta. Trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước
ta kinh tế đối ngoại còn góp phần tích luỹ vốn, thúc đẩy sự tăng trưởng
kinh tế tạo nhiều công ăn việc làm cho nhân dân lao động.
Việt Nam có khả năng mở rộng quan hệ buôn bán và hợp tác kinh tế
với thị trường lớn và những cường quốc công nghệ lớn trên thế giới, đa
phương hoá quan hệ thị trường và đối tượng hợp tác phát triển lĩnh vực
kinh tế đối ngoại với tốc độ cao.
Vậy vấn đề đặt ra ở đây đối với chúng ta là đã làm được gì trong công
cuộc xây dựng đất nước, thực trạng và giải pháp cơ bản để mở rộng và
nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay. Để kinh tế
đối ngoại đạt được những thành tựu thì cần phải vượt qua được những thử
thách của toàn cầu hóa giữ vững đinh hướng xã hội chủ nghĩa.
Là mét sinh viên kinh tế quốc tế chúng ta cần thiết phải nắm rõ tình
hình kinh tế trong nước và quốc tế vậy đề tài này đã giúp chúng ta hiểu
được phần nào về thực trạng kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay.
1
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Để hoàn thành được đề tài này, tôi đã nhận được nhiều sự hướng dẫn
của thầy giáo cùng sự giúp đỡ từ các sinh viên khoá trên và bạn bè. Tôi xin
3
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
của thị trường quyết định phát triển thành phân công do xí nghiệp, chủ yếu
là do các công ty xuyên quốc gia kinh doanh và phân công do thành viên
các tập đoàn kinh tế, thương mại khu vực tổ chức, sự phân công có tính
hiệp định. Phân công theo chiều ngang trở thành hình thức phân công quốc
tế chủ yếu, nội dung của nó là phân công theo sản phẩm, theo linh kiện sản
phẩm và theo quy trình công nghệ sản phẩm.
Phân công quốc tế đã hình thành mạng lưới sản xuất có tính thế giới, làm
cho các nước trở thành bộ phận của nền sản xuất thế giới, trở thành một
khâu trong dây chuyền giá trị hàng hoá. Nó có lợi cho các nước trên thế
giới phát huy đầy đủ ưu thế, tiết kiệm lao động xã hội, làm cho các yếu tố
sản xuất được phân bố một cách hợp lý, nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy
kinh tế thế giới phát triển.
Thứ tư, kinh tế đối ngoại sẽ làm cho mối quan hệ quốc tế ngày càng tăng
cường và phát triển. Đến nay, lợi ích chung của các quốc gia trên thế giới
không ngừng mở rộng, các nước phát triển và đang phát triển, các nước lớn
và nhỏ ngày càng nâng cao mức độ phụ thuộc dùa vào nhau cùng tồn tại,
cùng hợp tác và cùng phát triển.
Xét một cách cụ thể, kinh tế quốc tế hoá là xu thế tất yếu biểu hiện sự
phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất do phân công lao động quốc tế
ngày càng diễn ra sâu sắc, rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới dẫn tới sự
hình thành nền kinh tế thế giới thứ nhất.
Vấn đề mở rộng kinh tế đối ngoại, vượt khỏi biên giới quốc gia, hướng
tới phạm vi toàn cầu là một quá trình mà mọi cơ hội và nguyện vọng của
mọi người của các chủng tộc và dân tộc khác nhau ở các khu vực và các
nước khác nhau cần tìm ra những điểm chung giữa những nét đặc thù khác
biệt để có được một cơ chế mới trong mối quan hệ kinh tế xã hội ngày càng
phát triển hơn nữa. Đó là mong muốn của bất kỳ dân tộc nào hiện nay.
4
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
trong phát triển cơ sở hạ tầng, cả phần cứng và phần mềm đối với Việt
Nam. Tính ra mức vốn nước ngoài hiện nay chiếm khoảng 30% tổng vốn
đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ đóng góp của khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài trong GDP đều tăng lên qua các năm. Năm 1993 đạt ,6% đến năm
1998 đạt 9%, năm 1999 đạt khoảng 10,5%. Nguồn thu ngân sách từ khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 370 USD.
Đây còn là môi trường mở ra giúp cho nước chúng ta tìm và thực hiện
được các dự án đầu tư từ nước ngoài vào. Nó thực sự có ý nghĩa quan trọng
trong phát triển cơ sở hạ tầng, cả phần cứng lẫn phần mềm đối với Việt
Nam.
Bên cạnh cơ hội tận dụng khả năng sử dụng các nguồn vốn, nước ta còn
được thụ hưởng những thành quả tiến bộ của kỹ thuật và công nghệ sản
xuất mới. Ngày nay, tốc độ phổ cập tri thức mới, kỹ thuật và công nghệ tiên
tiến diễn ra nhanh chóng, đa dạng thông qua nhiều hình thức và các kênh
truyền thông khác nhau, mà chuyển giao công nghệ là một đặc trưng, một
yêu cầu đối với chúng ta trong sự phát triển. Thông qua tiếp nhận và
chuyển giao công nghệ, Việt Nam có thể nhanh chóng tiếp cận, bám đuổi
và thu hẹp khoảng cách tụt hậu so với các nước đi trước, nhất là với các
ngành công nghệ mới, công nghệ mòi nhọn hay các lĩnh vực thuộc lợi thế
của mỗi quốc gia, nhờ đó nâng dần sức sản xuất và năng lực khoa học trong
nước.
Việt Nam được xếp vào các nước có tốc độ phát triển hạ tầng công nghệ
thông tin nhanh nhất thế giới, là bằng chứng cho tốc độ và sự chủ động hội
nhập của chúng ta.
Bên cạnh đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ làm cho quá trình
cạnh tranh giữa nước ta và các nước khác trên thế giới thêm gay gắt, thị
trường mở rộng không ngừng, do đó thúc đẩy chuyên môn hoá sản xuất,
6
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
có quyền kinh doanh tù do tự chủ như mọi quốc gia khác. Vì thế phải đảm
bảo tư cách pháp nhân của mỗi quốc gia trước luật pháp và cộng đồng quốc
tế.
2. Nguyên tắc cùng có lợi
Đây là cơ sở kinh tế để thiết lập và mở rộng quan hệ kinh tế giữa các
quốc gia. Mỗi quốc gia cần biết sử dụng lợi thế của mình trong quan hệ
kinh tế cụ thể. Nguyên tắc này được cụ thể hóa thành các điều khoản được
ký kết giữa các đối tác kinh tế với nhau.
Mỗi một quốc gia, theo lý thuyết của A. Smith, đều có lợi thế tuyệt đối
với các quốc gia khác. Điều đó được hiểu rằng, họ có nguồn lực khan hiếm
được phân bổ và sử dụng để sản xuất ra một hàng hoá nào đó với ưu thế
hơn hẳn các quốc gia khác cùng sản xuất ra mặt hàng đó. Hay theo lý
thuyết lợi thế so sánh của Dicardo, mỗi quốc gia có lợi thế để sản xuất sản
phẩm với ưu thế tuyệt đối hơn hẳn khi sản xuất các mặt hàng khác…
Sử dụng các lợi thế, các quốc gia khi tham gia vào quan hệ đối ngoại sẽ
tận dụng được nhiều cơ hội thu về những món lợi lớn cho đất nước.
3. Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc
nội bộ của mỗi quốc gia
Trong đời sống của cộng đồng quốc tế, quốc gia có tính độc lập, có chủ
quyền về các mặt kinh tế, chính trị xã hội và địa lý. Nguyên tắc này bắt đầu
từ nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia với
nhau. Nó cũng bắt đầu từ nguyên tắc cùng có lợi, mà xét đến cùng là cùng
có lợi về mặt kinh tế với tư cách là cơ sở để cùng có lợi ích khác về chính
trị, quân sự, xã hội… Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi bên, trong hai hoặc nhiều
bên phải thực hiện đúng các vấn đề như :
Tôn trọng các điều khoản trong nghị định thư và trong hợp đồng kinh tế
đã ký kết.
8
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Không đưa ra những điều kiện có phương hại đến lợi ích của hau.
theo chiều hướng tích cực, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công
nghiệp trong GDP, tỷ trọng công nghiệp đạt 38%, dịch vụ 39% và nông –
lâm – thuỷ – hải – sản chiếm 23% so với các con số tương ứng của năm
2000 là 36,6%; 39,1% và 24,3%. Xét về sự đóng góp của các ngành trong
việc thực hiện tốc độ tăng trưởng 6,8% GDP thì khu vực công nghiệp đóng
góp quan trọng chiếm 3,7%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,5% và nông – lâm
– thuỷ – hải – sản đóng góp 0,6%. Sự đóng góp nổi bật của các ngành công
nghiệp vào tốc độ tăng trưởng và cơ cấu GDP của nền kinh tế nước ta đánh
dấu bước tiến mới về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong năm 2001.
Đối chiếu với các chỉ tiêu đã đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội về
nhiệm vụ năm 2001, thì còn 4 chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch, trong đó có 2 chỉ
tiêu quan trọng về kinh tế là mức tăng trưởng GDP đạt 6,8%, cao hơn mức
của năm 2000 nhưng thấp hơn so với kế hoạch là 7,5%. Kim ngạch xuất
khẩu tuy có tăng về lượng song bị thua thiệt về giá khoảng 1,5 tỷ USD nên
chỉ tăng 4,5% ( so với mức đề ra là 16% ). Mặc dù chưa thực hiện được các
chỉ tiêu đề ra, song trong bối cảnh kinh tế khu vực và thế giới đang có
chiều hướng xấu đi, suy giảm mạnh, có nước tăng trưởng âm thì đạt được
kết quả như trên là điều đáng khích lệ.
10
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Năm 2001, tình hình kinh tế xã hội tiếp tục ổn định, nước ta được công
nhận là nơi có môi trường đầu tư ổn định nhất khu vực sau sự kiện 11/9, đó
là những thuận lợi cơ bản mà ta phải tận dụng và phát huy. Công nghiệp
nước ta có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục phát triển và tăng trưởng ổn định
với tốc độ tăng 13,8% Những thành tựu của năm 2001 đã tạo ra thế và
lực mới để nước ta tiếp tục phát triển, thực hiện các mục tiêu của kế hoạch
5 năm 2001 – 2005.
Tuy nhiên điểm nổi bật kinh tế của nước ta nói chung là chất lượng tăng
trưởng và sức cạnh tranh của các sản phẩm, của doanh nghiệp còn thấp.
Theo đánh giá của tổ chức diễn đàn kinh tế thế giới ( WEF ) chỉ số cạnh
chúng ta thúc đẩy mối quan hệ kinh tế với một môi trường rộng lớn và đầy
sôi động.
Năm 1995 là một năm hết sức quan trọng khi Việt Nam gia nhập vào tổ
chức ASEAN ( vào ngày 28 tháng 7 năm 1995 ) – một hiệp hội trọng yếu
của khu vực. Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh từ năm 1995 đến năm 1996 :
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào các nước ASEAN năm 1995 là
23,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, năm 1996 là 33,4%.
Kim ngạch xuất khẩu 1996 so với 1995 tăng 129,3%. Kim ngạch nhập
khẩu của Việt Nam với các nước ASEAN từ 1995 đến 1999 tăng bình quân
11,2%. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ các nước ASEAN vào Việt Nam là
máy móc, thiết bị phụ tùng chiếm khoảng 10 – 12% trong tổng kim ngạch
nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN, khoảng 60 – 65% là nguyên vật liệu
phục vụ cho sản xuất và công nghệ lắp ráp.
Còng trong năm này Việt Nam trở thành thành viên của AFTA, cũng có
nghĩa Việt Nam bắt đầu tham gia vào các cam kết giảm quan thuế cho các
hàng nhập khẩu nông – công nghiệp cho các nước ASEAN.
12
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Năm 1996, Việt Nam ban hành tiếp danh mục các hàng hoá với các mức
thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung dành cho AFTA, sẽ được áp dụng rộng
rãi vào năm 1997. Nhìn chung mức thuế nhập khẩu tối đa giảm xuống còn
80%. Chính sách nhập khẩu tiếp tục giảm số lượng hàng hoá quản lý bằng
hạn ngạch nhập khẩu xuống còn 6.
Năm 1998, vào tháng 11 Việt Nam đã trở thành thành viên đầy đủ của
Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương ( APEC ). Việt Nam đã
trình kế hoạch hành động về các lịch trình ngắn, trung và dài hạn cho việc
thực thi các biện pháp thuế quan, phi thuế quan, thương mại, dịch vụ, v.v…
Năm 1999, chóng ta chứng kiến nhiều thay đổi của Việt Nam theo
hướng hội nhập, tự do hoá nền kinh tế. Ngân hàng Trung Ương điều chỉnh
linh hoạt lãi xuất trần cho vay của các ngân hàng thương mại. Việc này tiếp
ngoại thì đúng là thập kỷ hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực của
Việt Nam. Thời gian đó tuy chưa dài nhưng cùng với những kết quả đạt
được, đó là bài học kinh nghiệm cả thành công và thất bại trên bước đường
hội nhập, đó là hành trang để chúng ta vững bước đi vào giai đoạn mới -
đẩy nhanh hơn nữa hội nhập quốc tế.
II. Những thuận lợi của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế và
khu vực
1. Những yếu tố ổn định về chính trị
Chóng ta bắt đầu tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện đất
nước hoà bình, chính trị xã hội ổn định. Đây là một nhân tố quan trọng
trong giao lưu hội nhập đảm bảo chúng ta chỉ hoà nhập chứ không hoà tan.
Phân tích tình hình thực tế, hội nghị Trung Ương khoá VI đã khẳng định
tính tất yếu lịch sử của chủ nghĩa xã hội, khẳng định tính khách quan và
phương hướng xã hội chủ nghĩa của qua trình cải cách đổi mới. Đại hội VII
14
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
cũng khẳng định : “Nhân dân ta quyết không chấp nhận con đường nào
khác ngoài con đường xã hội chủ nghĩa”. Trên thực tế gắn liền với sự vận
động hiện thực của cuộc sống, Đảng ta đã từng bước hoàn thiện, bổ sung cụ
thể hoá thêm đường lối đổi mới, mở cửa hội nhập. Trong quá trình đó,
Đảng ta đã được củng cố về chính trị và tổ chức, vai trò lãnh đạo của Đảng
trong xã hội được tăng cường. Đảng xác định đường lối ở tầm vĩ mô “xu
thế không thể tránh khỏi đối với sự phát triển” của việc tham gia kinh tế đối
ngoại. Từ nhận thức này, Việt Nam đã có những bước chuyển lớn trong
chính sách phát triển kinh tế nói chung, kinh tế đối ngoại nói riêng. Các
chính sách này đều theo hướng tự do hoá, tất nhiên ở các tầng cấp khác
nhau, phụ thuộc vào thực lực cụ thể ở mỗi lĩnh vực
2. Những yếu tố thuận lợi về kinh tế
Một yếu tố thuận lợi là nền kinh tế có trình độ và chất lượng phát triển
cao hơn. Thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp đã được
tiền vốn… sang lợi thế về trình độ trí tuệ tri thức cao của con người. Chất
xám trở thành nguồn vốn lớn và quý giá, là nhân tố quyết định sự tăng
trưởng và phát triển của mọi quốc gia.
Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo cơ hội để nguồn nhân lực của nước ta
khai thông giao lưu với thế giới bên ngoài. Ta có thể hội hập để xuất khẩu
lao động qua các hợp đồng gia công chế biến hàng xuất khẩu. Đồng thời
tạo điều kiện nhập khẩu lao động kỹ thuật cao, công nghệ mới mà hiện nay
ta đang rất cần. Như vậy với lợi thế nhất định về nguồn lao động cho phép
lùa chọn dạng hình phù hợp tham gia hội nhập và chính qua đó, chúng ta có
điều kiện để nâng cao chất lượng nguồn lao động Việt Nam.
4. Thuận lợi của nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phó
Về vị trí địa lý, nước ta là cửa ngõ đi ra Thái Bình Dương của một số
quốc gia Đông Nam Á, là điểm tiếp giáp các tuyến đường giao thông quan
16
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
trọng của thế giới. Đáng chú ý với bờ biển rộng, trải dài từ bắc tới nam với
nhiều hải cảng, đặc biệt là cảng Cam Ranh có độ sâu thuận lợi cho sự phát
triển giao thông hàng hải cũng như phát triển kinh tế hàng hoá.
Ngoài một số khoáng sản như Bôxit có trữ lượng lớn : 5 tỷ tấn, đứng thứ
ba thế giới, quặng đất hiếm cũng có trữ lượng đứng thứ hai thế giới các
loại khoáng sản khác của nước ta không có trữ lượng lớn nhưng rất đa dạng
và phong phó. Trong thời gian qua việc khai thác và chế biến còn vô cùng
hạn chế. Để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hiện đại hóa thì việc khai thác
sử dụng nguồn lực đó thông qua hợp tác quốc tế là rất cần thiết. Với thực
trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên, chúng ta cần phát huy năng lực bên
trong, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang xuất khẩu các
mặt hàng chế biến. Chúng ta cần tập trung phát triển các ngành vật liệu xây
dựng, gốm sứ du lịch kết hợp phát triển các sản phẩm từ cây công nghiệp
để tạo sản phẩm xuất khẩu. Đồng thời chú ý phát triển các loại hình xí
nghiệp vừa và nhỏ trên cơ sở liên doanh để tận dụng nguồn khoáng sản
ngoài khủng hoảng nhưng tốc độ lại sụt giảm khá mạnh và sự phục hồi xem
ra rất chậm với 5,8% năm 1998, 4,7% năm 1999 và 6,7% vào năm 2000 so
với khoảng 9% của thời kỳ 1993 – 1997.
Dòng FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988 – 1997 là khả quan, đã tiếp sức
đáng kể cho sự tăng trưởng, nhưng sự kỳ vọng đó thật ngắn ngủi và hiện
đang trong thời kỳ tụt dốc kéo dài, trong khi Trung Quốc lại đang có sức
hấp dẫn lớn đối với đầu tư nước ngoài. Hiện nay các nước châu Á nói
chung và khu vực nói riêng đang cạnh tranh gắt gao với nhau trong việc cải
thiện môi trường để gia tăng các hoạt động thương mại, thu hút xuất khẩu
thì ở Việt Nam cả mức độ cạnh tranh, dòng FDI và xuất khẩu lại có xu
hướng giảm xuống, hoặc tốc độ cải thiện rất chậm chạp, mức độ cạnh tranh
của Việt Nam hiện nay được xếp thứ 53/59 quốc gia, vì thế có thể nhận
18
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
thấy khoảng cách giữa Việt Nam và các nước đang có nguy cơ dãn rộng
thêm.
2. Sự yếu kém trong quản lý kinh tế của Nhà nước
Kinh tế đối ngoại lấy tự do hoá kinh tế làm động lực, do đó khu vực kinh
tế tư nhận ở đa số các nước tỏ ra rất năng động và là lực lượng chủ lực, đối
với chúng ta thì khu vực tư nhân tuy đã có sự quan tâm khuyến khích, có sự
tăng trưởng đáng kể liên tục trong vòng 10 năm qua, tuy nhiên khu vực này
còn nhỏ bé, manh mún và thiếu vững chắc, khu vực này hiện chiếm chưa
đầy đủ 23% GDP. Trong khi khu vực nhà nước là chủ đạo nhưng lại hoạt
động kém hiệu quả và được sự bảo trợ quá lớn. Riêng ngành công nghiệp
thì kinh tế nhà nước chiếm khoảng 60% giá trị. Mặc dù sở hữu tới 3/4 giá
trị tài sản quốc gia nhưng chỉ góp phần tạo ra khoảng 42% GDP. Hơn nữa
số doanh nghiệp bị thua lỗ lại có xu hướng tăng lên : 16% năm 1995, 25%
năm 1997, 35% năm 2000, thậm chí theo ADB và WB con số đó có thể lên
đến 50%. Do được bảo hộ lớn nên khả năng cạnh tranh rất yếu vì giá thành
sản phẩm cùng loại cao nhiều so với các nước trong khu vực và thế giới,
không khai thác hết, làm cho nhiều doanh nghiệp thua lỗ. Chẳng hạn :
trong khi giá thành sản xuất đường trắng trên thế giới từ 200 đến 250
USD/tấn thì của Việt Nam từ 290 đến 350 USD/tấn, giá thành xi măng của
Việt Nam từ 42 đến 65 USD/tấn, giá xi măng nhập khẩu CIF từ 35 đến 40
USD/tấn. Giá thép xây dựng trên thế giới từ 280 đến 300 USD/tấn thì giá
bán tại Việt Nam từ 290 đến 350 USD/tấn; giá thành sản xuất xe máy chưa
có thuế trong nước trên 1250 USD, trong khi đó giá bán trên thế giới chỉ
khoảng 1000 USD…
3. Vấn đề về hàng xuất khẩu
Điều đáng chú ý là tỷ lệ hàng chế biến xuất khẩu có xu hướng tăng dần
lên nhưng tỷ lệ hàng xuất khẩu thô, sơ là chủ yếu, chiếm tới 60% tổng kim
ngạch xuất khẩu. Tỷ lệ còn cao này cho thấy trình độ công nghệ của các
20
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
doanh nghiệp, của ngành kinh tế còn thấp kém. Bên cạnh đó, hình thức
xuất khẩu của các mặt hàng công nghiệp chủ yếu là gia công lắp ráp cho
nước ngoài. Hàm lượng hàng nội địa còn thấp, chưa tạo được sự liên kết từ
khâu cung cấp nguyên liệu đến khâu sản xuất ra thành phẩm và xuất khẩu.
Điều này cho thấy xuất khẩu chưa thực sự trở thành một đầu tàu mạnh mẽ
kéo nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Năm 2001 kinh tế tăng trưởng
6,8% trong khi xuất khẩu chỉ tăng 4,5%, theo kế hoạch thì tốc độ tăng của
xuất khẩu phải gấp đôi GDP để tăng trưởng kinh tế đạt 7,5%.
4. Mất dần xu thế về lao động
Ngoài ra, lợi thế về lao động rẻ có xu hướng đang mất dần. Do trước mắt
giá nhân công còn rẻ và đang có thị trường phát triển, nên ngành may mặc
và giày da là hai ngành có lợi thế cạnh tranh cao nhất trong nhóm năm
ngành sản phẩm công nghiệp có khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, lợi thế về
nhân công đang mất dần vì giá nhân công của các ngành này theo điều tra,
hiện đang bằng và cao hơn so với một số nước trong khu vực.
Cơ cấu lao động của chúng ta thể hiện sự lạc hậu non yếu về trình độ. Tỷ
( bao gồm cả chứng khoán ), thị trường sức lao động, thị trường công nghệ,
thị trường bất động sản ( kể cả quyền sử dụng đất )… còn sơ khai.
Những khó khăn nói trên không chỉ hoàn toàn là những thách thức mà nó
còn chứa đựng các yếu tố tích cực, bởi vì thông qua việc phải đối mặt với
những thách thức, đương đầu với cạnh tranh, chóng ta sẽ tìm ra được
những giải pháp hữu hiệu nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ,
đồng thời các doanh nghiệp Việt Nam sẽ trở nên năng động hơn, và hoạt
động hiệu quả hơn trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
IV. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA KINH TẾ ĐỐI
NGOẠI:
1. Kinh tế Việt Nam chủ yếu phải dùa vào chất lượng
22
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Nền kinh tế không chỉ dùa vào tăng trưởng về số lượng mà phải hết sức
coi trọng chất lượng thì mới có thể phát triển nhanh và bền vững. Muốn
vậy, phải đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với nhu cầu thị
trường và khai thác các lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh của đất nước,
nâng cao trình độ công nghệ và quản lý để tăng sức cạnh tranh của các sản
phẩm, của các doanh nghiệp và nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển hiệu quả,
bền vững. Theo hướng này cần khẩn trương xây dựng chiến lược tổng thể
về hội nhập kinh tế quốc dân với một lé trình cụ thể để các doanh nghiệp,
các địa phương khẩn trương sắp xếp lại và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh, đảm bảo hội nhập hiệu quả, thắng
lợi. Trên cơ sở này, cần tiến hành đánh giá, phân loại khả năng cạnh tranh
của các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ của các loại hình doanh nghiệp
thuộc mọi loại hình kinh tế nhằm xây dựng các giải pháp đồng bộ để nâng
cao sức cạnh tranh như : chó trọng chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, mẫu
mã đa dạng hấp dẫn, điều kiện thanh toán, giao hàng và dịch vụ sau bán
hàng thuận lợi, bắt kịp những thay đổi trên thị trường thế giới. Đồng thời
cần thực hiện chính sách bảo hộ có lùa chọn, có điều kiện và có thời gian,
- Chính sách thương mại, môi trường phải khuyến khích các nhà sản xuất
trong nước và nước ngoài đầu tư và phát triển theo hướng bền vững hay
thân thiện với môi trường. Thông qua chính sách pháp luật, các nhà đầu tư
và sản xuất phải quan tâm đến nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá thông
qua tạo ra những “sản phẩm xanh”, hạn chế tối đa những tác hại của hoạt
động sản xuất và kinh doanh đến môi trường trong nước cũng như quốc tế.
- Chính sách thương mại, môi trường phải phù hợp với luật pháp quốc tế
và các quy định pháp lý của các tổ chức thương mại và kinh tế quốc tế, các
hiệp định môi trường đa phương, các khối kinh tế mà Việt Nam đã và sẽ
tham gia. Cần thúc đẩy và tạo điều kiện lồng ghép những vấn đề môi
24
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
trường vào các chương trình và hiệp định song phương và đa phương mà
Việt Nam tham gia.
- Chính sách thương mại và môi trường phải góp phần nâng cao khả
năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ trên cả hai phương diện : chất lượng
hàng hoá và hình ảnh bảo vệ môi trường có liên quan đến hoạt động sản
xuất, góp phần thúc đẩy hàng hoá và dịch vụ đó xâm nhập được các thị
trường nước ngoài đặc biệt là những thị trường khó tính và nhạy cảm về
vấn đề môi trường, đồng thời ngăn chặn dòng nhập khẩu sản phẩm và công
nghệ không thân thiện với môi trường hoặc những đầu tư có thể huỷ hoại
hoặc sử dụng không hợp lý nguồn tài nguyên môi trường của quốc gia. Cần
ngăn ngõa hữu hiệu việc khai thác các nguồn tài nguyên môi trường và tài
nguyên sinh thái của quốc gia, quy trách nhiệm cụ thể trong việc tái tạo
những tài nguyên đã bị sử dụng, ngăn chặn triệt để sự du nhập các sản
phẩm độc hại, không thân thiện với môi trường.
- Chính sách thương mại, môi trường cũng cần phải định hướng và giáo
dục người tiêu dùng Việt Nam quan tâm hơn tới vấn đề môi trường, chuyển
dần sang lùa chọn và tiêu dùng những sản phẩm thân thiện với môi trường,
hướng tới xây dựng ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội gắn với các lợi