Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Dệt may là một ngành công nghiệp có đóng góp đáng kể vào tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu của cả nước, là một trong những mặt hàng có kim
ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu cao nhưng phần
lớn các sản phẩm dệt may đều được sản xuất dưới hình thức gia công. Tuy gia
công không phải là hoạt động chủ lực mà Việt Nam hướng tới trong bước
phát triển ngành dệt may nhưng hiện nay, gia công hàng may mặc xuất khẩu
đang đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động xuất khẩu của ngành.
Công ty cổ phần May 10 là một trong những công ty được thành lập đầu tiên
trong ngành dệt may, chuyên sản xuất và kinh doanh hàng may mặc trên thị
trường nội địa và thị trường quốc tế. Trong hoàn cảnh nền kinh tế đất nước
chưa phát triển, các doanh nghiệp may mặc Việt Nam chưa có thương hiệu
trên thị trường quốc tế, cũng như rất nhiều các doanh nghiệp dệt may khác,
công ty cổ phần May 10 cũng tiến hành xâm nhập thị trường quốc tế bằng
hình thức gia công sản phẩm cho các đối tác nước ngoài.
Sau một thời gian thực tập tại công ty cổ phần May 10, tôi đã chọn đề
tài “Hoạt động gia công hàng may mặc xuất khẩu của công ty cổ phần
May 10: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” làm báo cáo thực tập tốt
nghiệp.
Mục đích của đề tài nghiên cứu là tìm hiểu hoạt động gia công tại công
ty nhằm đưa ra một số giải pháp khả thi cho hoạt động gia công tại công ty cổ
phần May 10.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng và những giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả gia công hàng xuất khẩu may mặc tại công ty cổ phần May
10
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những lí luận cơ bản của gia công
hàng may mặc xuất khẩu, những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động gia công
Đàm Thị Hồng Thắm – TMQT - K46 1
Chuyên đề thực tập
hàng may mặc xuất khẩu và thực trạng hoạt động này tại công ty cổ phần May
Đàm Thị Hồng Thắm – TMQT - K46 3
Bên đặt gia
công
Bên nhận gia
công
Tổ chức quá
trình sản xuất
Chuyên đề thực tập
Như vậy, hoạt động gia công xuất khẩu là quan hệ hợp tác giữa hai hay
nhiều bên để sản xuất ra hàng hóa phục vụ cho xuất khẩu. Trong mối quan hệ
này, bên nhận gia công có lợi thế về nhân lực nhận tổ chức quá trình sản xuất
sản phẩm theo hợp đồng sau đó sẽ trả sản phẩm hoàn chỉnh cho bên đặt gia
công để lấy tiền công.
2. Phân loại hoạt động gia công hàng may mặc xuất khẩu
Hoạt động gia công hàng may mặc xuất khẩu là một hoạt động mang
lại nguồn ngoại tệ, góp phần phát triển đất nước nói chung và nền kinh tế nói
riêng. Căn cứ vào các tiêu chí, có thể phân loại hoạt động gia công hàng may
mặc xuất khẩu như sau:
• Căn cứ theo quyền sở hữu nguyên liệu trong quá trình sản xuất sản
phẩm, hoạt động gia công có các hình thức sau:
+ Hình thức nhận nguyên liệu, giao sản phẩm: bên nhận gia công sản
xuất sản phẩm từ nguyên liệu và bán thành phẩm thuộc quyền sở hữu của bên
đặt gia công, sau đó giao sản phẩm và nhận tiền công. Phương thức này còn
gọi là phương thức gia công xuất khẩu đơn thuần, là phương thức sơ khai của
gia công xuất khẩu. Theo phương thức này, bên nhận gia công có lợi thế là
không phải bỏ vốn ra mua nguyên phụ liệu, không những thế, nếu thực hiện
sử dụng tiết kiệm nguyên phụ liệu so với định mức thì bên nhận gia công còn
có thể hưởng số nguyên phụ liệu còn dư ra đó. Tuy nhiên gia công theo hình
thức này hiệu quả kinh tế không cao vì bên nhận gia công chỉ được hưởng
tiền công gia công. Bên cạnh đó, bên nhận gia công còn phụ thuộc vào tiến độ
đặt gia công toàn bộ chi phí thực tế của mình cộng với tiền thù lao gia công.
• Căn cứ theo mức độ cung cấp nguyên phụ liệu:
+ Bên đặt gia công cung cấp 100% nguyên phụ liệu và bên nhận gia
công sản xuất sản phẩm theo định mức đã thỏa thuận trong hợp đồng, sau đó
Đàm Thị Hồng Thắm – TMQT - K46 5
Chuyên đề thực tập
sẽ trả lại thành phẩm cho bên đặt gia công hoặc sẽ giao cho bên thứ ba theo
chỉ định.
+ Bên nhận gia công chỉ nhận nguyên liệu chính theo định mức còn
nguyên liệu phụ thì tự khai thác theo đúng yêu cầu của khách hàng.
+ Bên nhận gia công không nhận bất cứ nguyên liệu phụ nào của khách
hàng mà chỉ nhận ngoại tệ để mua nguyên liệu theo đúng yêu cầu.
• Căn cứ vào nghĩa vụ của bên nhận gia công
- CM (cutting and making): Người nhận gia công chỉ tiến hành pha cắt
và chế tạo sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công
- CMP (cutting, making and packaging): Người nhận gia công phải pha
cắt, chế tạo và đóng gói sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công.
- CMPQ (cutting, making, packaging and quota fee): Người nhận gia
công ngoài việc cắt may, đóng gói sản phẩm còn phải trả phí hạn ngạch theo
quy định những mặt hàng được quản lí bằng hạn ngạch.
Hiện nay, công ty cổ phần May 10 chỉ thực hiện gia công hàng may
mặc xuất khẩu thông qua hai hình thức: gia công nhận nguyên liệu, giao thành
phẩm và gia công mua nguyên liệu, bán thành phẩm. Phương thức mua
nguyên liệu bán thành phẩm bên cạnh việc công ty tìm kiếm đối tác đặt gia
công theo phương thức này thì đa số các hợp đồng đặt gia công mua nguyên
liệu bán thành phẩm của công ty đều do các bạn hàng chuyển từ gia công
nhận nguyên liệu, giao thành phẩm chuyển sang. Hiện nay, số hợp đồng gia
công nhận nguyên liậu, giao thành phẩm của công ty đã giảm đi đáng kể, thay
vào đó là hợp đồng mua nguyên liệu, bán thành phẩm bởi các hợp đồng này
sẽ làm tăng giá trị gia công mà công ty nhận được. Số hợp đồng mua nguyên
Đàm Thị Hồng Thắm – TMQT - K46 7
Chuyên đề thực tập
- Bên đặt gia công phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của quyền sở
hữu công nghiệp đối với hàng hóa gia công. Khi đặt gia công, các mẫu mã mà
bên đặt gia công giao cho bên nhận gia công để sản xuất hàng hóa phải là
những mẫu mã thuộc quyền sở hữu của bên đặt gia công. Các mẫu mã này
phải được bên đặt gia công đăng kí bản quyền tác giả và bên đặt gia công phải
chịu mọi trách nhiệm nếu phát hiện những mẫu mã đó là vi phạm quyền tác
giả.
- Bên đặt gia công có quyền cử thanh tra để kiểm tra, giám sát việc gia
công tại nơi nhận gia công theo thỏa thuận giữa các bên nhằm tránh tình trạng
sai sót trong khi sản xuất hàng gia công.
- Bên nhận gia công giao sản phẩm hoàn thiện đáp ứng yêu cầu đề ra
và nhận tiền công.
4. Vai trò của hoạt động gia công hàng hóa xuất khẩu
4.1 Đối với nền kinh tế quốc dân
Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế mở cửa thì ngoại thương đang
ngày có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Hoạt động ngoại thương một
mặt giúp cho đất nước có được nguồn ngoại tệ để nhập khẩu, qua đó góp phần
công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, mặt khác giúp cho nền kinh tế và
các doanh nghiệp học tập được các kinh nghiệm tiên tiến về quản lý và các
tiến bộ khoa học công nghệ nhằm hiện đại hóa sản xuất. Bên cạnh các hoạt
động xuất nhập khẩu thì hoạt động gia công hàng hóa có một vai trò quan
trọng, nhất là đối với nền kinh tế còn đang phát triển như nước ta.
- Hoạt động gia công thu hút một lượng lớn lao động phổ thông,
do đó nó có vai trò tích cực trong việc giải quyết việc làm cho người lao động,
góp phần giảm tỉ lệ thất nghiệp cho xã hội, tăng thu nhập cho người dân.
Thông qua hoạt động gia công, nước ta tận dụng được nguồn lao động dồi dào
Đàm Thị Hồng Thắm – TMQT - K46 8
Chuyên đề thực tập
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
- Gia công hàng xuất khẩu cho các nước phát triển, được họ cung
cấp cho các mẫu hàng, các trang thiết bị để hoàn thành công việc. Chính sự
cung cấp đó sẽ đưa các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận với thị trường thế
giới. Thông qua các mẫu mã mà họ cung cấp, các doanh nghiệp của ta có thể
phân tích để từng bước định hình được phong cách tiêu dùng của thế giới, từ
đó có thể tiến tới tự cung cấp mẫu mã cho thị trường.
- Hoạt động gia công xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp tiếp cận
với thị trường thế giới một cách dễ dàng hơn. Thị trường tiêu thụ có sẵn,
doanh nghiệp không phải bỏ chi phí cho hoạt động bán sản phẩm xuất khẩu.
5. Một số chỉ tiêu phân tích hoạt động gia công
5.1 Doanh thu gia công (TR)
TR = Pi * Qi
Trong đó: Pi: Đơn giá gia công của sản phẩm i
Qi: Số lượng sản phẩm i
5.2 Chi phí gia công (TC)
Chi phí gia công bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất
như chi phí nhân công, chi phí nguyên vật liệu cung ứng, chi phí bán hàng, ...
(trừ chi phí nguyên vật liệu chính)
5.2 Lợi nhuận gia công (P)
P = TR – TC
Lợi nhuận gia công là toàn bộ khoản tiền thu được sau khi lấy doanh
thu gia công trừ đi chi phí gia công.
Đàm Thị Hồng Thắm – TMQT - K46 10
Chuyên đề thực tập
5.4 Tỷ suất doanh thu / chi phí
Tỷ suất Doanh thu/ Chi phí = TR/ TC*100%
Chỉ tiêu này có ý nghĩa là bỏ ra một đồng chi phí vào gia công thì thu
được bao nhiêu đồng doanh thu.
5.5 Tỷ suất Lợi nhuận/ Doanh thu
- Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán;
- Danh mục, số lượng, trị giá nguyên liệu, phụ liệu, vật tư nhập
khẩu và nguyên liệu, phụ liệu, vật tư sản xuất trong nước (nếu có) để gia
công; định mức sử dụng nguyên liệu, phụ liệu, vật tư; định mức vật tư tiêu
hao và tỷ lệ hao hụt nguyên liệu trong gia công;
- Danh mục và trị giá máy móc thiết bị cho thuê, cho mượn hoặc
tặng cho để phục vụ gia công (nếu có);
- Biện pháp xử lý phế liệu, phế thải và nguyên tắc xử lý máy móc,
thiết bị thuê mượn, nguyên liệu, phụ liệu vật tư dư thừa sau khi kết thức hợp
đồng gia công.
- Địa điểm và thời gian giao hàng;
- Nhãn hiệu hàng hoá và tên gọi xuất xứ hàng hoá;
- Thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
2. Quy trình thực hiện hợp đồng gia công hàng may mặc xuất khẩu
Sơ đồ 2: Trình tự thực hiện hợp đồng gia công
Đàm Thị Hồng Thắm – TMQT - K46 12
Kí kết hợp
đồng
Nhận nguyên phụ
liệu
Cắt May thành
phẩm
Xuất hàng Phúc tra Hoàn thiện Kiểm tra
Chuyên đề thực tập
Đây là quy trình mang tính chung nhất cho việc thực hiện hợp đồng gia
công hàng may mặc của công ty, mỗi công đoạn bao gồm nhiều công việc
khác nhau. Tùy từng đơn đặt hàng với mỗi loại mặt hàng khác nhau sẽ có
thêm những công việc cụ thể để hoàn chỉnh đơn hàng theo yêu cầu của từng
khách hàng. Trong tất cả các công đoạn trên thì may mẫu vẫn là khâu rất quan
trọng vì sau khi nhận nguyên phụ liệu thì bên nhận gia công phải nhanh chóng
và các nước trên thế giới rất tốt đã tác động tích cực tới hoạt động kinh doanh
giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Các nước có quan hệ kinh tế với
Việt Nam có tình hình chính trị ổn định đã giúp cho các doanh nghiệp may
mặc Việt Nam có cơ hội tìm hiểu thông tin và nắm bắt cơ hội để đưa ra các
chiến lược cho phù hợp với từng thị trường.
1.1.2 Môi trường luật pháp
Môi trường luật pháp có ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp kinh
doanh trên môi trường quốc tế.
• Môi trường luật pháp trong nước
Hiện nay, môi trường luật pháp trong nước đang ngày càng được hoàn
thiện để các doanh nghiệp có một hành lang pháp lí lành mạnh, ổn định giúp
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh được ổn định. Trong những năm gần
đây, luật pháp nước ta luôn coi mặt hàng dệt may là mặt hàng phát triển chiến
lược của Việt Nam. Chính vì vậy mà luật pháp Việt Nam luôn có những văn
bản pháp luật để hướng dẫn và quy định về xuất khẩu, những ưu đãi dành cho
các doanh nghiệp dệt may.
- Đối với các nguyên phụ liệu của ngành dệt may nhập khẩu từ
nước ngoài hoặc mua trong nước để sản xuất hàng xuất khẩu thì không phải
nộp thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng.
Đàm Thị Hồng Thắm – TMQT - K46 14
Chuyên đề thực tập
- Doanh nghiệp dệt may nếu đầu tư mới thì số thu nhập thu được
từ đầu tư mới đó được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong hai năm
tiếp theo ( Luật khuyến khích đầu tư trong nước, chương 3 điều 10 khoản 1).
- Hồ sơ xin visa đã được giảm bớt nhiều giấy tờ. Hồ sơ xin visa
không cần phải có ba loại chứng từ như trước đây bao gồm hợp đồng xuất
khẩu, báo cáo quy trình sản xuất, tờ khai nhập nguyên phụ liệu mà chỉ kiểm
tra tờ khai nhập khẩu nguyên phụ liệu hoặc tờ khai nhập khẩu nguyên liệu
chính, đồng thời chấp nhận các loại chứng từ vận tải khác thay cho vận đơn.
rất nhiều các tổ chức quốc tế và khu vực, điều này đòi hỏi các doanh nghiệp
xuất khẩu Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu nói
chung phải hiểu tường tận về các quy định cũng như luật pháp của nước và tổ
chức mà doanh nghiệp tham gia kinh doanh. Ví dụ như khi Việt Nam tham
gia vào tổ chức ASEAN thì Việt Nam phải tuân thủ theo các điều khoản
CEPT/ AFTA. Theo điều khoản đó thì Việt Nam phải giảm thuế xuất nhập
khẩu xuống từ 0 – 5% trong vòng 10 năm. Khi Việt Nam là thành viên của Tổ
chức thương mại thế giới WTO thì phải thực hiện hiệp định về hàng dệt may
(ATC). Theo hiệp định này thì các nước phải dỡ bỏ hoàn toàn hạn ngạch dệt
may giai đoạn cuối cùng là 01/01/2005.
Mặt khác, các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải đối mặt với những vụ
kiện chống bán phá giá khi tham gia vào các thị trường như Mỹ, EU, Nhật
Bản... Đây cũng là một thử thách rất lớn mà các doanh nghiệp dệt may của
nước ta gặp phải khi tham gia vào thị trường nước ngoài.
1.2 Môi trường khoa học – công nghệ
Môi trường khoa học công nghệ luôn là một yếu tố quan trọng để
doanh nghiệp tham gia kinh doanh. Ngành may mặc là một ngành đòi hỏi dây
chuyền công nghệ hiện đại để đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về kỹ
Đàm Thị Hồng Thắm – TMQT - K46 16
Chuyên đề thực tập
thuật của các bạn hàng lớn trên thế giới. Ví dụ như để đáp ứng được yêu cầu
về tiêu chuẩn hàng dệt may xuất sang Nhật Bản thì các doanh nghiệp dệt may
Việt Nam phải có máy soi kim và ghim gãy lẫn trong quần áo xuất khẩu. Đây
là một dây chuyền hiện đại mà không phải doanh nghiệp dệt may nào cũng
đáp ứng được. Việt Nam là một nước có nền kinh tế còn non trẻ, do vậy còn
rất nhiều những dây chuyền công nghệ lạc hậu, không thích hợp để sản xuất
hàng xuất khẩu. Do vậy, muốn xuất khẩu được hàng dệt may của doanh
nghiệp mình sang các thị trường lớn trên thế giới thì các doanh nghiệp Việt
Nam cần chú trọng đầu tư, đổi mới trang thiết bị để đáp ứng được các yêu cầu
khắt khe về kỹ thuật của bạn hàng.
60% nhu cầu vải dệt thoi vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Bên cạnh đó, các nguyên phụ liệu của ngành dệt may còn chủ yếu nhập
khẩu từ nước ngoài. Ngành dệt may hiện phải nhập khẩu hầu hết nguyên phụ
liệu cho sản xuất: bông là 90%, xơ sợi tổng hợp nhập gần 100%, hóa chất
thuốc nhuộm và máy móc thiết bị nhập gần 100%, vải 70%, sợi trên 50%, phụ
liệu may khoảng 50%. Mỗi năm các doanh nghiệp cần đến 450.000 tấn sợi
nhưng năng lực sản xuất trong nước chỉ đạt 200.000 tấn, trong đó Tập đoàn
Dệt may Việt Nam cung ứng được 120.000 tấn (60%), còn lại thuộc về các
Công ty tư nhân. Như vậy, hàng năm ta phải nhập khoảng 250.000 tấn. Thực
tế cũng cho thấy, toàn ngành chỉ sản xuất được khoảng 10 ngàn tấn xơ bông
(đáp ứng 5% nhu cầu), 50 ngàn tấn xơ sợi tổng hợp (khoảng 30% nhu cầu).
Riêng xơ sợi ngắn đạt khoảng 260 ngàn tấn (65% nhu cầu thị trường trong
nước).
Trang bị của ngành dệt lạc hậu, những năm qua, tuy đã nhập bổ sung,
thay thế 1.500 máy dệt không thoi hiện đại để nâng cấp tổng số máy hiện có
là 10.500 máy, đáp ứng khoảng 15% công suất dệt. Vì trang thiết bị lạc hậu,
Đàm Thị Hồng Thắm – TMQT - K46 18
Chuyên đề thực tập
chậm đổi mới nên việc sản xuất ra các loại vải cao cấp phục vụ sản xuất là
điều khó khăn. Ngoài ra, chính vì vậy mà các loại vải dùng để sản xuất hàng
xuất khẩu đều chủ yếu là do các nhà đặt gia công nhập khẩu vào Việt Nam.
Trang thiết bị của ngành dệt may hiện nay mới có 10% máy móc thiết
bị tiên tiến của các nước Tây Âu và Nhật (đã sử dụng từ năm 2000); 11% là
thiết bị qua sử dụng từ 10 – 20 năm, trong đó có rất nhiều dây chuyền của
Trung Quốc; 33% cũng qua sử dụng 10 – 20 năm nhưng chất lượng chỉ đạt
mức trung bình; 46% còn lại là hệ thống máy móc đã qua sử dụng trên 20
năm với sự xuống cấp nghiêm trọng. Tuy ngành dệt may đã có sự đầu tư về
trang thiết bị nhưng nhìn chung, vẫn còn rất lạc hậu. Chính vì thế mà ngành
dệt may không thể sản xuất ra những mặt hàng có chất lượng cao để đáp ứng
những khách hàng cao cấp.
khác, trong đó có Việt Nam. Có được sự tăng tốc như vậy là do nhiều nguyên
nhân, trong đó có các nguyên nhân chủ yếu sau. Thứ nhất, Trung Quốc có
một khu cung cấp nguyên phụ liệu lớn, đáp ứng được nhu cầu sản xuất trong
nước và xuất khẩu. Khi chủ động trong vấn đề cung cấp nguyên phụ liệu thì
chi phí sản xuất sẽ giảm xuống rất nhiều, từ đấy giảm được giá thành sản
phẩm. Giá thành sản phẩm thấp là một lợi thế lớn của Trung Quốc. Thứ hai,
các máy móc thiết bị sản xuất của Trung Quốc đều được sản xuất trong nước
và rất hiện đại. Ngoài ra chính phủ Trung Quốc có rất nhiều biện pháp hỗ trợ,
lao động quản lý có năng lực, kinh nghiệm kinh doanh trong lĩnh vực kinh
doanh quốc tế cao hơn so với Việt Nam rất nhiều. Bên cạnh Trung Quốc, Ấn
Độ, Bangladesh cũng là những đối thủ cạnh tranh lớn của Việt Nam trong
ngành dệt may.
Đàm Thị Hồng Thắm – TMQT - K46 20
Chuyên đề thực tập
Bên cạnh sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp nước ngoài, các
doanh nghiệp Việt Nam còn cạnh tranh gay gắt với nhau trên thị trường nội
địa để giành những hợp đồng gia công, giành quota để vào các thị trường hạn
ngạch, nhất là giữa các doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, làm cho giá gia công ngày càng giảm. Đây là một thực tại đáng
lo lắng của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam bởi khi giá gia công giảm thì
gia công sẽ không có tính hiệu quả.
2. Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp
2.1 Nguồn nhân lực
Các nguồn lực trong công ty ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dệt may nói riêng.
Nguồn lực ảnh hưởng đầu tiên kể đến là nguồn nhân lực. Việt Nam là một
nước dân số trẻ với nguồn nhân công dồi dào và giá nhân công rẻ đang là một
lợi thế của ngành dệt may, đặc biệt là trong lĩnh vực gia công hàng xuất khẩu.
Mặt khác, lao động Việt Nam có tay nghề cao, khéo léo và dễ đào tạo nên lao
động ngành dệt may đã có những trường đào tạo để nâng cao tay nghề. Tuy
tăng cao, từ 14% - 15%/ năm đã khiến cho các doanh nghiệp dệt may rất khó
khăn. Việc tăng lãi suất từ 12%/ năm lên 15%/ năm làm cho chi phí về vốn
tăng cao, gây giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt
với ngành dệt may, một ngành có đặc thù là nguồn vốn vay luôn chiếm
khoảng 70% tổng nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp thì việc tăng
lãi suất này càng khiến cho các doanh nghiệp khó có thể đầu tư sản xuất. Nhu
cầu vốn vay của các doanh nghiệp dệt may luôn lớn nên với giá gia công ngày
càng thấp thì việc tăng chi phí vốn sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Đàm Thị Hồng Thắm – TMQT - K46 22
Chuyên đề thực tập
2.3 Cơ sở vật chất của công ty
Bên cạnh vốn thì trang thiết bị cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới hoạt
động gia công của doanh nghiệp may. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
phần lớn các trang thiết bị đều hiện đại, đáp ứng được nhu cầu sản xuất của
doanh nghiệp. Các nguồn cung cấp máy móc thiết bị cho ngành may đều từ
các nước Trung Quốc, Đức, Mỹ,... và các máy móc ngày càng đa dạng và
hiện đại, giúp cho các doanh nghiệp có thể trang bị để phục vụ cho sản xuất.
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, không có đủ vốn để trang bị máy
móc thì có thể được bên đặt gia công cung cấp máy móc thiết bị để hoàn
thành hợp đồng. Tuy có bất lợi trong việc chuyển giao công nghệ nhưng sẽ
giúp doanh nghiệp tiếp xúc với các trang thiết bị hiện đại, từ đó có thể định
hướng khi quyết định đầu tư cơ sở vật chất. Việc chuyển giao công nghệ sẽ
giúp cho các doanh nghiệp tiếp xúc với các trang thiết bị hiện đại trên thế
giới, từ đó doanh nghiệp có thể đánh giá khi có quyết định đầu tư trang thiết
bị.
Đàm Thị Hồng Thắm – TMQT - K46 23
Chuyên đề thực tập
Chương II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG XUẤT
KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY 10
hơn 60 năm hoạt động, công ty cổ phần May 10 đã trở thành một trong những
công ty may mặc hàng đầu của Việt Nam, trực thuộc Bộ Công nghiệp.
1.1. Chức năng và nhiệm vụ của công ty
• Chức năng của công ty
Công ty cổ phần May 10 trực thuộc Tổng công ty Dệt may Việt Nam
có chức năng chính là sản xuất và kinh doanh các sản phẩm may mặc như: áo
sơ mi các loại, áo Jacket các loại, quần âu, quần soóc, bộ ngủ, quần áo bảo hộ
lao động,… phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Phương thức chính
để sản xuấtcủa công ty là nhận gia công toàn bộ, sản xuất hàng xuất khẩu
dưới hình thức xuất FOB và sản xuất hàng phục vụ tiêu dùng nội địa. Ngoài
ra, công ty còn có thêm một số chức năng sau:
- Tổ chức thực hiện các chính sách bán sản phẩm, vận chuyển hàng hoá,
kết nối kênh phân phối tại thị trường trong và ngoài nước.
- Chức năng dự trữ, bảo vệ, quản lý chất lượng hàng hoá, nghiên cứu và
phát triển mặt hàng mới.
- Thu thập và phân tích các thông tin thị trường, các hoạt động của công ty
để đưa ra các quyết định điều chỉnh, bổ sung về việc sản xuất kinh doanh sản
phẩm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, lợi nhuận của công ty,…
- Thực hiện các hoạt động hạch toán kinh tế độc lập, có đầy đủ chức năng
pháp nhân trước pháp luật.
• Nhiệm vụ của công ty
- Trong giai đoạn hiện nay, công ty đề ra một số nhiệm vụ cụ thể như sau:
Đàm Thị Hồng Thắm – TMQT - K46 25