1
Luận văn
Phân tích đánh giá tình hình
kinh doanh của Khách sạn Dân
Chủ
2
Lời mở đầu
Trong vài năm trở lại đây, Việt Nam thực sự đã đạt được một số thành tựu
nhất định. Trước cơn lốc, khủng hoảng kinh tế khu vực chúng ta vẫn đứng vững.
Ước tính của Tổng cục thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP) trong 9 tháng
đầu năm 2000 tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước. Dự kiến mức tăng trưởng GDP
của cả năm 2000 đạt 6,7%. Những con số này phần nào đánh giá được thực trạng
nền kinh tế nước ta.
Nhân dân ta có câu "Phi thương bất phú" một số nước muốn giàu có thì ngành
thương mại phải thực sự phát triển. Ngành thương mại nói riêng và nền kinh tế nói
chung của chúng ta đang trên đà hội nhập và phát triển ngày một cao hơn. Thương
mại và dịch vụ là hai ngành đem lại khối lượng ngoại tệ lớn. Trong cơ chế cạnh
tranh khá phức tạp và gay gắt thì sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp
thương mại chứng tỏ một khả năng tiềm tàng và sức mạnh thực sự của nó.
Hiện chúng ta thấy xuất hiện rất nhiều các doanh nghiệp với cái tên công ty
Thương mại - Dịch vụ - Du lịch. Vậy tại sao các công ty thương mại lại có chức
nâng lên 5 tầng nâng tổng số phòng nghỉ lên 41 phòng. Khách sạn được công nhận
đạt tiêu chuẩn quốc tế 2 sao.
Đến 8/94, khách sạn tiếp nhận thêm cơ sở số 2 Phạm Sư Mạnh trước kia thuộc
khách sạn Hoà Bình, nâng cấp cải tạo thành văn phòng cho thuê và Villa Dân Chủ.
Sau một thời gian hoạt động hiệu quả. Đến 1999 khách sạn tiếp tục được cải tạo và
chính thức được công nhận là khách sạn 3 sao từ tháng 4 năm 2000 từ tháng 4 năm
2000. Do yêu cầu và trong điều kiện mới, hiện nay khách sạn gồm 41 phòng, toàn
bộ khu số 2, số 4 Phạm Sư Mạnh cộng với nhà hàng chuyển thành văn phòng cho
thuê. Với vị trí và điều kiện hiện có khách sạn Dân Chủ vẫn và sẽ phát triển ngày
càng mạnh hơn.
2. Chức năng và nhiệm vụ của khách sạn Dân Chủ.
Là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Công ty Du lịch Hà Nội, khách sạn
là một đơn vị kinh doanh độc lập tự hạch toán kinh doanh và chịu trách nhiệm trước
Công ty.
4
Chức năng và nhiệm vụ chính của khách sạn là tổ chức thực hiện việc kinh
doanh lưu trú, nhà hàng và các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú và khách du lịch
khách sạn tổ chức hoạt động kinh doanh theo kế hoạch đã được Công ty Du lịch Hà
Nội phê duyệt và thực hiện nghĩa vụ đối với Công ty và nhà nước.
3. Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động kinh doanh.
Khách sạn tổ chức hoạt động kinh doanh theo cơ cấu trực tuyến chức năng.
Người chịu trách nhiệm cao nhất là giám đốc khách sạn. Tiếp đó là các phó giám
đốc phụ trách các bộ phận chức năng, đứng đầu các bộ phận chức năng là trưởng bộ
phận chịu trách nhiệm trước phó giám đốc phụ trách.
Tính đến tháng 9 năm 2000, khách sạn có 152 nhân viên được tổ chức theo sơ
đồ hình I.3.1.
* Ban giám đốc:
Ban giám đốc gồm Giám đốc và ba Phó giám đốc
lên BGĐ.
Mỗi một tổ chuyên môn đều có một trưởng bộ phận và một phó.
Trong đó trưởng bộ phận chịu sự quản lý trực tiếp của phó giám đốc phụ trách
và chịu trách nhiệm về hoạt động bộ phận, cung cấp thông tin cần thiết về các hoạt
động cho giám đốc và phó giám đốc phụ trách. Chất lượng, giá cả, chi phí sắp xếp
nhân lực v.v để giám đốc có thể giải quyết kịp thời.
Ưu điểm của mô hình tổ chức này:
(+) Về công tác quản lý.
Mọi thông tin chỉ đạo được truyền đạt nhanh chóng tới người chịu trách
nhiệm. Người quản lý phải có đủ năng lực và trình độ để xử lý những thông tin tiếp
nhận được và giải quyết mọi vấn đề sau đó báo cáo lại.
Chính vì thế nó đòi hỏi và quản lý luôn biết lắng nghe và phải luôn đổi mới.
Mô hình này cũng cho phép công tác quản lý luôn linh hoạt, không cứng nhắc quá.
(+) Về hoạt động kinh doanh phục vụ.
Mọi hoạt động được chuyên môn, nhiệm vụ có thể tích luỹ kinh nghiệm thực
tế và có điều kiện phát huy năng lực. Mô hình này đảm bảo tiết kiệm trong chi phí
trung gian, dễ bố trí lao động, phục vụ khách hàng nhanh chóng. Đồng thời nó cũng
tạo sự phối hợp cao giữa các bộ phận chức năng kể cả bộ phận lãnh đạo.
4. Sản phẩm và định hướng kinh doanh.
* Sản phẩm
Hiện nay khách sạn có 56 phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế 3 sao bên cạnh đó:
+ 01 nhà hàng á + 01 văn phòng du lịch
+ 01 nhà hàng Âu + 01 khu vực vật lý trị liệu
7
+ 01 Quầy Bar + Quầy lưu niệm
+ 01 Trung tâm dịch vụ văn phòng + Khu văn phòng cho thuê.
Khách sạn thực hiện tất cả các dịch vụ phục vụ khách lưu trú và du lịch như
3/ Đối với xã hội.
* Tạo công ăn việc làm cho người lao động
* Đóng góp vào sự phát triển chung của ngành và nền kinh tế.
* Tham gia tích cực và đi đầu trong các hoạt động từ thiện.
* Tạo uy tín của một đơn vị kinh doanh cạnh tranh lành mạnh.
Hướng tới việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng phục vụ khách sạn đã và
đang thực hiện việc đa dạng hoá sản phẩm, cải tiến quá trình phục vụ.
II. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Môi trường bên ngoài:
a. Môi trường vĩ mô:
Các nhân tố chính của môi trường này như: vấn đề dân số và giáo dục, các
vấn đề văn hoá - xã hội, tài nguyên, nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp, những tập
quán tiêu dùng, các quy định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những công
nghệ phát minh mới có thể gây ra những ảnh hưởnglớn đối với hoạt động của doanh
nghiệp trong khi đó doanh nghiệp không thể kiểm soát được môi trường này khách
sạn phải xác định được tầm quan trọng của môi trường này để có sự quan tâm đúng
đắn, nghiên cứu, phân tích dự đoán được những thay đổi của môi trường nhằm hạn
chế những ảnh hưởng tiêu cực.
Hiện khách sạn đang trong một môi trường được ưu đãi, giàu tiềm năng, nền
kinh tế phát triển ổn định, chính trị, xã hội ổn định, nhiều chính sách ưu đãi, sự phát
triển ngày càng nhanh của các tiến bộ khoa học kỹ thuật.
b. Môi trường vi mô.
Khách sạn thiết lập mối quan hệ với các nhà cung cấp có uy tín trong nước.
Trong cơ chế mới, sự đa dạng của các ngành nghề sản xuất kinh doanh tạo thuận lợi
cho sự lựa chọn các đối tác và nhà cung cấp đảm bảo yêu cầu.
Khách hàng chính khách sạn là một lượng lớn các công ty du lịch, các văn
phòng đại diện của nước ngoài, các công ty liên doanh, doanh nghiệp nhà nước, cơ
quan quản lý của nhà nước có các mối quan hệ với quốc tế Lượng khách hàng đa
dạng về loại, quốc tịch
Trong điều kiện hiện nay thì khách sạn đang ở trong tình trạng bị cạnh tranh
có rất nhiều thuận lợi và ưu thế. Tuy nhiên, xác định được nhữn khó khăn chung,
khách sạn đã và đang thực hiện quá trình đổi mới thực sự nhằm khẳng định vị trí
của mình và phát triển hơn nữa.
10
Phần II. Phân tích đánh giá tình hình kinh doanh
của khách sạn
I. Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của khách sạn.
1. Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của khách sạn.
Trong nhiều năm qua khách sạn luôn đảm bảo phục vụ có uy tín, hoàn thành
kế hoạch được giao, thực hiện tốt nghĩa vụ đối với công ty và nhà nước.
Sản phẩm, dịch vụ chính của khách sạn là kinh doanh lưu trú và ăn uống.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, khách sạn đã và vẫn đứng vững
trên thị trường.
Chất lượng buồng phòng và phong cách phục vụ luôn được cải tiến sao cho
đáp ứng được mọi nhu cầu của kế hoạch. Lấy đối tượng khách có khả năng thanh
toán trung bình nhưng chất lượng phục vụ phải đáp ứng tương đương của khách sạn
4 - 5 sao, sản phẩm của khách sạn vẫn luôn chiếm được lòng tin ở khách hàng. Sự
nhạy bén và sáng tạo của Ban lãnh đạo cũng tạo được thế mạnh riêng của khách
sạn.
Có thể nói với gần 40 năm qua, khách sạn đã thực sự khẳng định mình, có một
đội ngũ nhân viên sáng tạo nhiệt tình, có trình độ chuyên môn, tay nghề, khách sạn
đã chủ động nắm bắt, khai thác thị trường, nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng,
đáp ứng đúng, kịp thời, chất lượng cao, không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh.
* Tình hình bán ra của khách sạn:
Qua bảng tình hình bán ra của khách sạn cho thấy hầu hết các bộ phận đều có
tốc độ tăng cao hơn so với năm 99. Riêng có bộ phận mỹ nghệ có doanh số thấp
hẳn đi do một nhà hàng, quầy lưu niệm chuyển thành sảnh lễ tân, chỉ có thể bày bán
II. Nội dung tình hình lao động tiền lương trong khách sạn.
1. Tình hình lao động chung
Bảng phân bố lao động tại bộ phận
STT Bộ phận Số LĐ % Đại học TC&C
Đẳng
Dạy nghề
1 Lễ tân 20 13,16 13 05 02
2 Buồng 22 14,47 10 12
3 Bàn và Bar 22 14,47 02 10 10
4 Bếp 22 14,47 1 10 11
5 Bảo vệ 211 14,47 3 0 19
6 Giặt là 10 6,58 1 9
7 Tạp vụ 6 3,95 1 1 4
13
8 Dịch vụ 8 5,26 1 1 6
9 Tổng hợp 10 6,58 7 1 2
10 Kế toán 7 4,61 7
11 VPDL 03 1,98 03
Tổng cộng 152 38 39 75
% 25,00% 25,66% 49,34%
2. Tổ chức và quản lý lao động
Qua bảng phân bố lao động ta thấy việc phân công lao động khá hợp lý giữa
các bộ phận về số lượng và trình độ. Bộ phận lao động là bộ mặt của khách sạn có
đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên môn cao và có trình độ. Tổng số nhân viên
có trình độ đại học chiếm 1/4 lương lao động cho thấy trình độ cao của nhân viên.
Năm 2000 so với năm 1999 lượng nhân viên đã giảm 4 người trong khi số
nhân viên được đào tạo ngoại ngữ ở mức giao dịch được đã tăng đáng kể. Số nhân
viên có trình độ đại học, cao đẳng và trung học tăng đáng kể từ 43% tăng lên trên
lương 6 tháng đầu năm 2000 đã xấp xỉ bằng
Đơn vị:đồng
Tiêu chí 1999 6 tháng 2000
Tổng lương 1.477.920.192
1.440.960.000
Lương BQ/tháng 789.478
790.000
Chi phí đào tạo 49.920.000
53.200.000
Chi phí đào tạo BQ 320.000
350.000
Doanh thu/lao động 41.415.846
24.531.148
DT/LĐ/ngày 113.468đ
134.417
Lợi nhuận/LĐ 3.884.806
máy, sửa khu vực nhà hàng. Tổng số vốn đã tăng đáng kể. 6 tháng đầu năm tiếp tục
sửa chữa thay mới trang thiết bị nội thất làm tổng vốn tăng Chỉ tiêu 1999 6 tháng đầu năm 2000
Tổng số vốn 4.410.697.200
5.172.251.100
+ Vốn cố định 3.500.000.000
4.100.000.000
+ Vốn lao động 910.697.200
4.072.251.100
% Lợi nhuận/vốn 13,74%
8,55%
% doanh thu /vốn 146,50%
72,09%
761.553.900đ trong đó vốn CĐ tăng 600 triệu, vốn lưu động tăng
161.553.900đ. Sự đầu tư theo chiều sâu đã có kết quả đáng khích lệ. Thể hiện tỉ suất
lợi nhuận/vốn 6 tháng đã đạt 8,53%. Ước tính cả năm đạt 20% tăng so với năm
1999 là 6,26%. Doanh thu trên vốn không tăng nhiều do tốc độ tăng của vốn nhanh
hơn doanh thu, đồng thời do giá giảm. Tuy nhiên tỉ suất lợi nhuận tăng cho thấy
Vốn chiếm dụng 310.697.200
292.251.000
94,06%
Tiếp tục đầu tư, nguồn vốn doanh nghiệp tăng đáng kể do tự rút từ lợi nhuận
ra và do Công ty Du lịch Hà Nội bổ sung. Bên cạnh đó, khách sạn đã trả được một
số khoản vay và nợ tiền hàng của các doanh nghiệp khác. Rõ ràng, khách sạn đã và
đang kinh doanh có hiệu quả khá với cơ cấu vốn hợp lý.
3. Phân tích chỉ tiêu chủ yếu đánh giá thực trạng chủ yếu của khách sạn.
Theo bảng cho thấy nguồn vốn tự có của doanh nghiệp chiếm 63,47% so
với tổng số vốn năm 99 và 60% 6 tháng đầu năm 2000. Dự kiến cả năm sẽ tăng lên
3500 triệu chiếm 65% so với tổng vốn hiện có. Việc tăng vốn CĐ đồng thời tăng
vốn LĐ làm cho nhịp độ sản xuất phục vụ cũng tăng theo, giảm ứ đọng vốn, giải
quyết các khoản vay nợ ngắn hạn. Vốn tự có của khách sạn chủ yếu do khách sạn
chuyển từ lợi nhuận kinh doanh sang tăng các quỹ đầu tư phát triển.
Giảm nợ NH và các khoản phải trả cho người bán chứng tỏ khả năng tài chính
và thanh toán của khách sạn.
IV. Đánh giá kết quả hiệu quả hoạt động kinh doanh của khách sạn.
(Xem bảng trang sau)
17
18
Phần III. Đánh giá công tác quản trị của khách sạn.
I. Phân tích đánh giá công tác quản trị theo các hoạt động tác nghiệp
quản trị tài chính chiến lược.
1. Quản trị mua và bán dịch vụ, sản phẩm.
sn Ngi
tiêu
dùng
dch
v
Công
ty Du
lch
T
chc
cá
nhân
i lý
bán
qung
cáo
19
khác như gửi thư chào hàng, tham dự hội chợ, triển lãm, hội thảo gặp gỡ trực tiếp
người tổ chức Bộ phận kinh doanh của khách sạn là đội ngũ chủ chốt trong các
hoạt động này.
Với các công ty, tổ chức thường xuyên thì hầu hết khách sạn thực hiện ký kết
hợp đồng cung cấp với giá bán ưu đãi. Nhằm tăng cường các mối quan hệ và tăng
bán, khách sạn còn sử dụng các biện pháp về giá như giảm giá cho việc mua nhiều,
mua thường xuyên, giá khác nhau đối với các loại đối tượng khác nhau, giá cả linh
hoạt; các biện pháp về sản phẩm như đa dạng dịch vụ, phân biệt với các khách sạn
Văn ph
òng ph
ẩm
Gi
ấy B
ãi B
ằng, bút Thi
ên Long
7 Đào tạo ĐH KTQD, Trường TC Du lịch Hà Nội
8 Vận chuyển, du lịch Trung tâm Du lịch Hà Nội, Công ty TNHH
TM Hải Vân
9
Qu
ảng cáo
Công ty QC m
ạng VN, Báo đầu t
ư
10 Nghiên cứu Viện nghiên cứu và phát triển du lịch
Những yêu cầu chủ yếu đối với bên cung cấp chính được thiết lập thành hệ
thống tiêu chuẩn về:
20
* Chất lượng: Đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng phục vụ khách
quốc tế.
phụ trách bộ phận, ban lãnh đạo khách sạn tiến hành điều chuyển và tuyển dụng
nhân viên toàn bộ hồ sơ của nhân viên đã qua tuyển ở khách sạn được đưa lên Cng
21
ty Du lịch Hà Nội. Nhân viên được nhận sẽ ký hợp đồng trực tiếp với công ty chứ
không phải khách sạn. Về cơ bản, công việc này đảm bảo tính chặt chẽ, đáp ứng
được nhu cầu. Tuy nhiên do qua rất nhiều cấp nên nhiều lúc rất chậm và không
khách quan. Chẳng hạn nếu công ty ký và tuyển trực tiếp nhân viên sau đó chuyển
thẳng xuống khách sạn trong khi nhu cầu tuyển của khách sạn thực tế không có,
hoặc người lao động để tuyển của khách sạn không được chấp nhận vì lý do nào đó
trong khi người này rất phù hợp với vị trí đang thiếu. Trong cả hai trường hợp đều
ảnh hưởng đến công việc và mối quan hệ giữa hai cấp.
c. Công tác huấn luyện, đào tạo.
Căn cứ vào kết quả đánh giá hàng tháng, phụ trách bộ phận tự tổ chức công tác
đào tạo, huấn luyện tại chỗ cho các nhân viên của bộ phận. Thường thì nhân viên
được học hỏi ngay tại khách sạn, ở những nhân viện khác. Biện pháp thứ hai thường
xuyên áp dụng là cử nhân viên sang thực tập, học hỏi tại các khách sạn 5 sao, tham
dự các buổi học tập tập trung do Công ty, Sở, Tổng cục tổ chức. Bên cạnh đó gửi đi
đào tạo tại các trường nghiệp vụ
Trong thời gian qua, đội ngũ nhân viên của khách sạn đã tích luỹ được nhiều
kinh nghiệm. Tuy nhiên do hạn chế về mặt tài chính và thiếu hẳn một bộ phận phụ
trách đào tạo thường xuyên nên công tác này còn mang tính tự phát, chưa được tổ
chức chặt chẽ. Hầu hết việc học tập bên ngoài của nhân viên do nhân viên tự trang
trải kinh phí và tự tổ chức thời gian đặc biệt là môn ngoại ngữ.
d. Công tác đãi ngộ nhân sự.
Đảm bảo thực hiện đúng luật lao động và các yêu cầu cần thiết của người lao
động. Khách sạn tổ chức một môi trường làm việc thuận lợi, sạch, an toàn. Quy
định về chế độ khen thưởng và kỷ luật được thảo ra và lấy ý kiến đóng góp của tất
cả nhân viên. Hàng năm còn tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể
thao, giải trí, nghỉ mát Thăm hỏi và ủng hộ vật chất cho các gia đình công nhân
Du lịch Hà Nội phê duyệt và căn cứ vào đó xét thưởng, lương kinh doanh cho khách
sạn. Trên thực tế khách sạn chỉ dừng lại ở việc lập kế hoạch hàng năm chứ chưa có
kế hoạch dài hạn và chiến lược lâu dài. Điều này dẫn đến nhiều công tác mang tính
tự phát, trước mắt, lãng phí ngân sách và khó quản lý.
2. Đánh giá tổ chức
Như đã trình bày tổng số nhân viên của khách sạn 152 nhân viên với 41 phòng
ngủ. Như vậy là xấp xỉ 3,7 nhân viên trên một buồng phòng. So với tiêu chuẩn của
khách sạn qui mô như vậy là 1,5 - 1,7 nhân viên thì quá cao. Nguyên nhân chính là
sau khi đưa Villa Dân chủ vào cho thuê, lực lượng lao động đã biên chế không thể
cho nghỉ được. Mặc dù nhu cầu thừa nhưng rất khó giải quyết nghỉ hẳn vì chế độ và
nhiều ràng buộc khác. Lực lượng lao động này chủ yếu là những cán bộ công nhân
viên đã cống hiến nhiều năm cho khách sạn, nhiều kinh nghiệm nhưng kém nhạy
bén, sắp đến tuổi nghỉ hưu nên hoạt động năng suất kém. Ngay cả cơ cấu ban lãnh
đạo cũng quá cồng kềnh với 1 giám đốc và 3 phó giám đốc. Các bộ phận do thừa
nhân viên nên phải có cơ cấu cồng kềnh để giải quyết chỗ ngồi. Bên cạnh đó khách
sạn phải quy định giảm ngày công làm việc của mỗi nhân viên để đảm bảo công
bằng và tiết kiệm chi phí dẫn đến thu nhập giảm, không kích thích được lao động.
23
Phương pháp quản lý có tính dân chủ nhưng lại chưa toàn diện dẫn đến hiểu
lầm, hiểu sai. Do cơ cấu cồng kềnh nên nhiều lúc mệnh lệnh chồng chéo khiến
người thực thi không biết làm như thế nào.
3. Công tác lãnh đạo.
Người lãnh đạo có vai trò quyết định cao nhất trong tổ chức. Do cơ chế dân
chủ và có truyền thống nên mối quan hệ giữa bộ máy quản lý và nhân viên rất
khăng khít. Người lãnh đạo cũng đồng thời là người bạn, đồng nghiệp nên quan hệ
dễ dàng hơn, đó là ưu điểm của khách sạn hướng tới phục vụ khách hàng ngày một
tốt hơn.
Người lãnh đạo có quyền ra lệnh nhưng phải nghe ý kiến phản hồi, đóng góp
để sửa chữa. Nhân viên có thể tự giải quyết công việc trong quyền hạn sau đó báo
a. Cơ sở vật chất kỹ thuật:
Do đã có thời gian sử dụng lâu việc sửa chữa chắp vá không đạt kết quả cao,
bởi vậy một kế hoạch tổng thể phải được thực hiện bắt đầu từ các trang thiết bị nội
thất, tổng đài, khu vực làm việc. Khó khăn lớn nhất là vốn thì cần kêu gọi nhiều hơn
sự ủng hộ của công ty, bên cạnh đó mạnh dạn kêu gọi đầu tư vay vốn. Việc huy
động vốn từ nhân viên cũng là một biện pháp hữu ích được đề xuất.
b. Tổ chức lao động.
Giảm lao động không cần thiết bằng cách khuyến khích nghỉ sớm, chuyển
công tác. Bên cạnh đó mở các dịch vụ khác nhằm tăng doanh thu tận dụng lao động.
Cơ cấu tổ chức lãnh đạo cần giảm xuống còn 1giám đốc và 2 phó giám đốc là
tối đa.
Thành lập bộ phận chuyên trách công tác đào tạo huấn luyện.
25
Kết luận
Trước tình hình kinh tế và điều kiện kinh doanh cạnh tranh gay gắt mọi đơn vị
kinh doanh phải đương đầu với nhiều khó khăn và thách thức để tồn tại và phát
triển.
Khách sạn Dân chủ nằm ở trung tâm thành phố, có rất nhiều thuận lợi về địa lý
và sự hậu thuẫn của đơn vị cấp trên. Sau một thời gian hoạt động hiệu quả, đứng
trước điều kiện mới đòi hỏi phải tập trung sức mạnh, tiềm lực kinh tế để có thể
đứng vững trên thị trường. "Đổi mới" là hai từ đưa thành khẩu hiệu của khách sạn.
Qua quá trình thực tập tại khách sạn, tuy thời gian rất ngắn nhưng tôi đã tích
luỹ được rất nhiều kiến thức làm phong phú thêm nhận thức lý luận của mình. Toàn
bộ những gì tôi viết ra ở đây là những nhận xét, những học hỏi những đánh giá thực
tế. Hy vọng với những ý kiến của mình tôi sẽ có thể góp ích được một phần nào cho
sự "Đổi mới" của khách sạn. Nó cũng là những kiến thức tôi đã nhiều năm học tập
và nghiên cứu.