BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ THỊ HIỀN
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH TIÊU THỤ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT TƯ BẢO VỆ THỰC VẬT HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.01.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. ĐỖ VĂN VIỆN HÀ NỘI - 2014
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Đỗ Văn Viện, người đã tận
tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo Viện sau đại học, khoa Kế toán
& quản trị kinh doanh, đặc biệt là các Thầy Cô trong Bộ môn Quản trị - Học Viện
Nông nghiệp Việt Nam đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận
văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Công ty cổ phần vật tư bảo vệ thực vật Hà
Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập thông tin, số liệu và tham gia thảo
luận, đóng góp ý kiến trong quá trình thực hiện luận văn.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và người thân đã
nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Thị Hiền
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn i
3.1.4 Tình hình nguồn lực của công ty 52
3.2 Phương pháp nghiên cứu 58
3.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 58
3.2.2 Phương pháp phân tích. 61
3.2.3 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu 62
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 64
4.1 Thực trạng tiêu thụ thuốc BVTV của Công ty Cổ phần vật tư bảo vệ
thực vật Hà Nội 64
4.1.1 Các hoạt động phục vụ tiêu thụ thuốc BVTV tại công ty 64
4.1.2 Lập kế hoạch tiêu thụ thuốc BVTV của công ty 67
4.1.3 Tổ chức tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật của công ty 68
4.1.4 Các hoạt động nhằm đẩy mạnh tiêu thụ thuốc BVTV của công ty. 72
4.1.5 Kết quả tiêu thụ sản phẩm thuốc BVTV của công ty 74
4.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu thụ thuốc BVTV của công ty 84
4.2 Đánh giá hoạt động tiêu thụ của Công ty cổ phần vật tư thuốc BVTV
Hà Nội 89
4.2.1 Kết quả đạt được 89
4.2.2 Những tồn tại, hạn chế 90
4.2.3 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế 92
4.3 Định hướng và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ thuốc BVTV của công ty
Cổ phần vật tư bảo vệ thực vật Hà Nội 93
4.3.1 Cơ sở khoa học 93
4.3.2 Giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ thuốc BVTV của Công ty 96
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 112
5.1 Kết luận 112
5.2 Kiến nghị 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
2011-2013 53
3.2 Tài sản và nguồn vốn của công ty qua các năm 2011-2013 55
3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty qua các năm 2011-2013 57
3.4 Danh sách các đại lý và cửa hàng chọn phỏng vấn 59
4.1 Đánh giá của khách hàng về sản phẩm của Công ty 65
4.2 Tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của công ty 68
4.3 Số lượng nhà phân phối và các cửa hàng bán lẻ của công ty qua các năm 71
4.4 Chi phí quảng bá thuốc BVTV của công ty giai đoạn 2011-2013 72
4.5 Mức thưởng và khuyến mại theo doanh thu năm 2013 73
4.6 Doanh thu tiêu thụ thuốc BVTV của công ty theo nhóm sản phẩm giai
đoạn 2011 - 2013 75
4.7 Hệ số tiêu thụ các loại sản phẩm chính của Công ty qua 3 năm 2011
- 2013 76
4.8 Tình hình tiêu thụ của Công ty tại các khu vực trong giai đoạn năm
2011-2013 78
4.9 Sản lượng tiêu thụ thuốc BVTV theo kênh phân phối giai đoạn 2011
– 2013 82
4.10 Thị phần các sản phẩm chính của công ty qua các năm 2011 – 2013 83
4.11 Giá thuốc BVTV của công ty so với công ty khác giai đoạn 2011-2013 88
4.12 Các chỉ tiêu phát triển của Công ty tới năm 2020 95
4.13 Đề xuất giá đối với thị trường từng khu vực cho năm 2020 100
4.14 Bảng kế hoạch mở rộng địa bàn tiêu thụ khu vực miền Bắc đến năm 2020 101
4.15 Bảng kế hoạch số lượng tiêu thụ ở các kênh phân phối đến năm 2020 105
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
4.16 Mức thưởng và khuyến mại theo doanh thu tiêu thụ sản phẩm của
công ty trong những năm tới 109
của hoạt động tiêu thụ.
Đặc biệt trong quá trình sản xuất nông nghiệp, vai trò của bảo vệ thực vật
(BVTV) nói chung, thuốc BVTV nói riêng rất quan trọng, góp phần đảm bảo để
mùa màng được mùa, duy trì sự tăng trưởng bền vững, an toàn. Tuy nhiên bên cạnh
mặt tích cực, thị trường kinh doanh thuốc BVTV luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ.
Trong những năm qua thị trường tiêu thụ thuốc BVTV nói chung và Công ty
cổ phần vật tư bảo vệ thực vật Hà Nội nói riêng, gặp không ít khó khăn về tiêu thụ
thuốc BVTV do quá nhiều chủng loại, hàng nhái, hàng giả đã ảnh hưởng không nhỏ
tới giá bán thuốc BVTV trên thị trường.
Vậy làm thế nào để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm? Đây là câu hỏi đặt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
ra cho các nhà quản trị công ty. Do đó trong thời gian được làm việc tại Công ty cổ
phần vật tư BVTV Hà Nội tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “ Giải pháp đẩy mạnh tiêu
thụ thuốc BVTV tại công ty cổ phần vật tư bảo vệ thực vật Hà Nội” .
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá thực trạng tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật của
công ty trong thời gian gần đây, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh
tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật cho công ty trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về tiêu thụ sản phẩm
và sản phẩm thuốc BVTV trong doanh nghiệp.
- Đánh giá thực trạng tiêu thụ thuốc BVTV và phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến tình hình tiêu thụ thuốc BVTV của công ty trong những năm gần đây
- Đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ thuốc BVTV của công ty những
năm tới.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý luận về tiêu thụ sản phẩm
2.1.1. Khái niệm, vai trò về tiêu thụ sản
2.1.1.1. Khái niệm tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là khâu lưu thông hàng hóa, là cầu nối trung gian giữa
một bên là sản phẩm sản xuất và phân phối với một bên là tiêu dùng. Trong quá
trình tuần hoàn các nguồn vật chất, việc mua và bán được thực hiện. Giữa sản xuất
và tiêu dùng, nó quyết định bản chất của hoạt động lưu thông và thương mại đầu
vào, thương mại đầu ra của doanh nghiệp. Việc chuẩn bị hàng hóa sản xuất trong
lưu thông. Các nghiệp vụ sản xuất ở các khâu bao gồm: phân loại, lên nhãn hiệu sản
phẩm, bao gói, chuẩn bị các lô hàng để bán và vận chuyển theo yêu cầu khách hàng.
Để thực hiện các quy trình liên quan đến giao nhận và sản xuất sản phẩm hàng hóa
đòi hỏi phải tổ chức hợp đồng ký kết lao động trực tiếp ở các kho hàng và tổ chức
tốt công tác nghiên cứu thị trường, nghiên cứu nhu cầu về mặt hàng về chủng loại
sản phẩm của doanh nghiệp.
Như vậy, tiêu thụ sản phẩm là tổng thể các biện pháp về tổ chức kinh tế và
kế hoạch nhằm thực hiện việc nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu thị trường. Nó bao
gồm các hoạt động: Tạo nguồn, chuẩn bị hàng hóa, tổ chức mạng lưới bán hàng,
xúc tiến bán hàng cho đến các dịch vụ sau bán hàng.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp được hiểu là một quá trình gồm nhiều công việc khác nhau từ việc tìm hiểu
nhu cầu, tìm nguồn hàng, chuẩn bị hàng, tổ chức bán hàng, xúc tiến bán hàng cho
đến các phục vụ sau bán hàng như: chuyên chở, lắp đặt, bảo hành
Tóm lại: hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp bao gồm 2 quá trình
có liên quan:
Một là: Các nghiệp vụ kỹ thuật sản xuất, chuẩn bị, tiếp nhận, phân loại bao
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
gói, lên nhãn mác, xếp hàng vào kho, chuẩn bị đóng bộ, vận chuyển theo yêu cầu
Page 6
đầu tư để tái sản xuất cho chu kỳ sau và có thể mở rộng sản xuất nhờ phần lợi nhuận
thu được từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Thông qua vai trò lưu thông luân chuyển hàng hóa của hoạt động tiêu thụ sản
phẩm ta thấy được những yếu điểm để khắc phục, nâng cao, hoàn thiện quá trình
sản xuất, tạo hiệu quả cao trong sản xuất. Nếu cải thiện tốt công tác tiêu thụ sản
phẩm, nghĩa là giảm chi phí khâu tiêu thụ đồng nghĩa với góp phần giảm chi phí của
toàn bộ sản phẩm, nhờ đó sẽ tăng được lợi nhuận cho doanh nghiệp. Việc tổ chức
hợp lý hóa khoa học quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ giảm tới mức tốt nhất các loại
chi phí, góp phần làm giảm giá thành tới tay người tiêu dùng, nâng cao khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường.
Tiêu thụ sản phẩm góp phần củng cố vị trí, thế lực doanh nghiệp, nâng cao
uy tín của doanh nghiệp với khách hàng thông qua sản phẩm có chất lượng tốt, giá
cả phải chăng, phương thức giao dịch mua bán thuận tiện, dịch vụ bán hàng tốt
Thực hiện tốt các khâu của quá trình tiêu thụ giúp cho các doanh nghiệp có thể tiêu
thụ được khối lượng sản phẩm lớn và lôi cuốn thêm khách hàng, không ngừng mở
rộng thị trường.
Công tác tiêu thụ sản phẩm trong cơ chế thị trường không đơn thuần là việc
đem sản phẩm bán ra thị trường mà là trước khi sản phẩm được người tiêu dùng
chấp nhận thì cần phải có sự nỗ lực cả về mặt trí tuệ lẫn sức lao động của người cán
bộ và công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm từ việc điều tra nhu cầu thị hiếu
người tiêu dùng, trang thiết bị máy móc hiện đại, dây chuyền công nghệ tiên tiến
đáp ứng được năng xuất và chất lượng sản phẩm, đào tạo người công nhân có tay
nghề cao rồi đến việc quảng cáo chào hàng, giới thiệu sản phẩm, vận chuyển, tổ
chức kênh phân phối, tổ chức đội ngũ nhân viên phục vụ khách hàng tận tình, có
trình độ hiểu biết cần thiết để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Tiêu thụ sản phẩm là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng, là
thước đo đánh giá độ tin cậy của người tiêu dùng đối với người sản xuất. Qua hoạt
động tiêu thụ sản phẩm, người tiêu dùng và người sản xuất gần gũi nhau hơn, tìm ra
phẩm sản xuất ra được người tiêu dùng chấp nhận mà nó còn có nghĩa là thị trường
được mở rộn đồng thời củng cố uy tín của doanh nghiệp. Khách hàng có thiện cảm hay
ác cảm đối với doanh nghiệp qua mua và tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp. Xét về
lâu dài chính uy tín sẽ tạo ra nền tảng vững chắc cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là hoạt động thực tiễn sản phẩm được vận động
từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Đặc điểm lớn nhất của sản phẩm ở mỗi doanh
nghiệp là nó được sản xuất ra và đem đi bán nhằm thực hiện các mục tiêu hiệu quả
đã định trước, đó là:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
Thứ nhất: Mục tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận là mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh
nghiệp hạch toán kinh doanh. Nó là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Σ lợi nhuận = Σ doanh thu - Σ chi phí
Vì vậy, tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp. Tiêu
thụ sản phẩm tốt thì thu được nhiều lợi nhuận và ngược lại sản phẩm mà không tiêu
thụ được hoặc tiêu thụ được ít thì lợi nhuận sẽ thấp, hoặc có thể hòa vốn hoặc lỗ.
Thứ hai: Mục tiêu vị thế của doanh nghiệp
Vị thế doanh nghiệp biểu hiện ở phần trăm doanh số hoặc số lượng hàng hóa
được bán ra so với toàn bộ thị trường. Tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến
vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Tiêu thụ mạnh làm tăng vị thế của doanh
nghiệp trên thị trường.
Thứ ba: Mục tiêu an toàn
hiện có nghĩa là sản phẩm, hàng hóa sản xuất ra tiêu thụ được và thu hồi được tiền
về thì khi đó doanh nghiệp mới có doanh thu, lợi nhuận thực để đầu tư mở rộng và
phát triển.
Vì vậy, thông qua tiêu thụ sản phẩm người ta mới thấy được kết quả của
toàn bộ quá trình, từ đó đánh giá xem doanh nghiệp mình đang ở trạng thái nào? có
khả năng tồn tại và phát triển hay không ?
Để có thể phát triển thì doanh nghiệp cần phải tiêu thụ với số lượng sản
phẩm ngày càng nhiều, sản phẩm chỉ được bán trên thị trường đã có mà còn phải
luôn tìm cách mở rộng thị trường, tìm thị trường mới mà đây là lĩnh vực do công tác
tiêu thụ đảm nhận. Hơn nữa, trước hết doanh nghiệp giữ được khách hàng. Đây
cũng chính là nhiệm vụ của công tác tiêu thụ sản phẩm. Cần phải tìm hiểu khách
hàng, biết được họ muốn gì? số lượng bao nhiêu? người cung cấp phục vụ như thế
nào? Các vấn đề này luôn tồn tại khách quan trong quá trình sản xuất - kinh doanh
gắn liền với tiêu thụ sản phẩm, chỉ khi nào khâu tiêu thụ sản phẩm được thực hiện
khi đó các yếu tố trên này mới được giải quyết.
Hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh không chỉ thể hiện ở các chỉ tiêu
cuối cùng như doanh thu, lợi nhuận mà còn thể hiện ở các chỉ tiêu kinh tế - xã hội
khác nhau: Sự ô nhiễm môi trường, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường để
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
nâng cao hiệu quả này, các doanh nghiệp luôn tìm kiếm và áp dụng nhiều biện pháp
khác nhau : đổi mới công nghệ, tăng sản lượng tiêu thụ, hạ giá thành, giảm định
mức tiêu hao nguyên vật liệu so với thực tế hiện nay ở các doanh nghiệp, việc
hoàn thiện công tác tiêu thụ sản phẩm, tăng sản lượng tiêu thụ vẫn là biện pháp hữu
hiệu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1.2. Khái niệm và phân loại thị trường tiêu thụ sản phẩm
2.1.2.1. Khái niệm thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thị trường ra đời và phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của sản xuất
Thị trường trong nước: Thị trường trong nước là thị trường mà ở đó diễn ra
hoạt động mua bán hàng hoá của những người trong phạm vi hoạt động một quốc
gia và các quan hệ kinh tế diễn ra trong mua bán qua đồng tiền quốc gia, chỉ có liên
quan đến các vấn đề kinh tế, chính trị trong một nước.
Thị trường nước ngoài: Thị trường nước ngoài là nơi diễn ra hoạt động mua bán
hàng hoá giữa các nước với nhau thông qua tiền tệ quốc tế. Các quan hệ kinh tế diễn ra
trên thị trường thế giới ảnh hưởng trực tiếp tới việc phát triển kinh tế ở mỗi nước.
Phân biệt thị trường trong nước và nước ngòai không ở phạm vi biên giới
mỗi nước mà chủ yếu ở người mua và người bán với phương thức thanh toán và loại
giá áp dụng, các quan hệ kinh tế diễn ra trên thị trường. Với sự phát triển của kinh
tế, của khoa học kỹ thuật và sự phân công lao động thế giới, kinh tế mỗi nước trở
thành một mắt xích của hệ thống kinh tế thế giới, do đó thị trường trong nước có
quan hệ mật thiết với thị trường nước ngòai. Việc dự báo đúng sự tác động của thị
trường nước ngòai đối với thị trường trong nước là sự cần thiết và cũng là những
nhân tố tạo ra sự thành công đối với mỗi nhà kinh doanh.
* Theo đặc điểm thị trường
- Thị trường bán buôn: Thị truờng bán buôn là thị trường trong đó người bán
bán cho những người trung gian, để họ tiếp tục chuyển bán. Đặc điểm của bán buôn
là khối lượng hàng lớn và không đa dạng, hàng hóa sau khi bán vẫn còn nằm trong
khâu lưu thông, chưa đến tay người tiêu dùng. Ưu điểm: thu hồi vốn nhanh, có điều
kiện nhanh chóng đổi mới hoạt động kinh doanh. Nhược điểm cơ bản là cách biệt
với người tiêu dùng nên chậm nắm bắt nhu cầu, thị hiếu của thị trường. Có hai hình
thức bán buôn: nhà sản xuất bán cho doanh nghiệp thương mại và buôn bán giữa
các doanh nghiệp thương mại. Ngày nay để đẩy mạnh khả năng tiêu thụ sản phẩm,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
các doanh nghiệp không những nghiên cứu về tâm lý, tập quán, thói quen người tiêu
dùng mà còn vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố khác, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào
có nguồn gốc thực vật, động vật, được sử dụng để bảo vệ cây trồng và nông sản,
chống lại sự phá hại của những sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng,
chuột, chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại, …).
Ở nhiều nước trên thế giới thuốc BVTV có tên gọi là thuốc trừ dịch hại. Sở
dĩ gọi là thuốc trừ dịch hại là vì những sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản
(côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, nấm, vi khuẩn, cỏ dại, …) có một tên
chung là những dịch hại, do vậy những chất dùng để diệt trừ chúng được gọi là
thuốc trừ dịch hại. [11].
2.1.3.2. Phân loại và vai trò thuốc BVTV
a) Phân loại thuốc bảo vệ thực vật
Có nhiều cách phân loại thuốc BVTV, trong đó có bốn cách phân loại chủ
yếu sau đây.
1. Phân loại theo mục đích sử dụng
Nhóm các chất trừ sâu, trừ nhện, trừ côn trùng gây hại
+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa Clo: DDT, Clodan
+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa phốt pho: Wophatox, Diazinon, Malathion,
Monitor
+ Nhóm các hợp chất cacbamat: Sevin, Furadan, Mipcin, Bassa
+ Nhóm các hợp chất sinh học: Pyrethroid, Permetrin
Nhóm các chất trừ nấm, trừ bệnh, trừ vi sinh vật gây hại:
+ Các hợp chất chứa đồng
+ Các hợp chất chứa lưu huỳnh
+ Các hợp chất chứa thuỷ ngân
+ Một số loại khác
Nhóm các chất trừ cỏ dại, làm rụng lá, kích thích sinh trưởng:
+ Các hợp chất chứa Phênol (2,4- D)
+ Các hợp chất của axits propyoníc (Dalapon)
+ Các dẫn xuất của cacbamat (ordram)
+ Triazin
mg/kg chuột nhà)
Bảng 2.1. Phân loại nhóm độc theo tổ chức Y tế thế giới
Phân nhóm độc
Qua miệng Qua da
Thể rắn Thể lỏng Thể rắn Thể lỏng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16
I.a. Độc mạnh ≤5 ≤20 ≤10 ≤40
I.b. Độc 5- 50 20- 200 10- 100 40- 400
II. Độc trung bình 50- 500 200- 2000 100- 1000 400- 4000
III. Độc ít 500- 2000 2000- 3000 >1000 >4000
IV. Độc rất nhẹ >2000 >3000
Ghi chú: LD
50
là ký hiệu chỉ độ độc cấp tính của thuốc qua đường miệng
hoặc qua da. Trị số của nó là liều gây chết trung bình được tính bằng miligam (mg)
hoạt chất có thể gây chết 50% số động vật thí nghiệm (tính bằng kg) khi tổng lượng
thể trọng của số động vật trên bị cho uống hết hoặc bị phết vào da. Giá trị LD
50
càng nhỏ thì hoá chất đó càng độc.
Có thể nhận biết tính độc của thuốc bảo vệ thực vật theo dấu hiệu màu trên
bao bì thuốc như sau:
- Vạch màu đỏ trên bao bì là thuốc độc nhóm I, thuộc loại rất độc và độc
- Vạch màu vàng trên bao bì là thuốc độc nhóm II, thuộc loại độc trung bình.
- Vạch màu xanh trên bao bì da trời là thuốc độc nhóm III, thuộc loại ít độc.
- Vạch màu xanh lá cây trên bao bì là thuốc độc nhóm IV, thuộc loại độc.rất nhẹ.
4. Phân loại theo độ bền vững
động đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Những tác động tốt của thuốc
đến cây như:
Rút ngắn thời gian sinh trưởng, làm cây sớm ra hoa, làm quả chín sớm.
Tăng chất lượng nông sản.
Làm tăng năng suất và chỉ tiêu cấu thành năng suất.
Làm tăng sức chống chịu của cây với những điều kiện bất lợi như: chống rét,
chống hạn, tăng khả năng hút chất dinh dưỡng và tăng khả năng chống chịu sâu bệnh.
Tùy theo liều lượng mà ta sử dụng mang lại những tác động tích cực hay tiêu
cực mang lại trong ngành nông nghiệp cũng như ảnh hưởng đến đời sống thực vật,
vi sinh vật trong đất, hay môi trường đất, nước, không khí và môi trường sống
của chúng ta.
2.1.3.3. Đặc điểm chung của thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hay nông dược là những chất độc có nguồn
gốc từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản,