một số giải pháp hoàn thiện các qui định về sử dụng giá trị hợp lý trong chế độ kế toán doanh nghiệp việt nam hiện nay - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH DƯƠNG THỊ THẢO
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC
QUI ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ
TRONG CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ


LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1.
TS. PHÙNG THỊ ĐOAN

2.
TS. LƯU ĐỨC TUYÊN

HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
Tác giả luận án Dương Thị Thảo MỤC LỤC

2.2.Thực trạng các qui định về sử dụng giá trị hợp lý trong Kế toán doanh
nghiệp tại Việt Nam hiện nay 44
2.2.1. Khái niệm giá trị hợp lý 44
2.2.2. Sử dụng giá trị hợp lý tại thời điểm ghi nhận ban đầu 45

2.2.3. Sử dụng giá trị hợp lý sau ghi nhận ban đầu 46
2.2.4. Ghi nhận chênh lệch phát sinh do sự biến động của giá trị hợp lý 54
2.2.5. Chuẩn mực kế toán - Đo lường giá trị hợp lý 54
2.3. Nhận xét về áp dụng nguyên tắc kế toán xác định giá trị tại Việt Nam 54
2.3.1. Những ưu điểm 54
2.3.2. Những hạn chế. 56
2.4. So sánh một số nét chính sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán quốc tế và
kế toán Việt Nam hiện nay 57
2.5. Nhận xét về Kết quả Khảo sát sử dụng nguyên tắc kế toán theo giá trị hợp
lý của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay 62
2.6. Nhận xét về việc sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán của một số doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 64
2.7. Thực trạng định giá tài sản tại Việt Nam hiện nay 64
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH VỀ
SỬ DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY 68
3.1. Sự cần thiết 68
3.1.1. Đặc thù nền kinh tế Việt Nam hiện nay 68
3.1.2. Xu hướng chung của các nước trên thế giới 72
3.1.3. Sự cần thiết áp dụng nguyên tắc kế toán giá trị hợp lý tại Việt Nam 76
3.2. Nguyên tắc hoàn thiện các qui định về sử dụng giá trị hợp lý trong Chế độ
Kế toán doanh nghiệp Việt Nam 81
3.3. Một số đề xuất sử dụng giá trị hợp lý trong Chế độ Kế toán Doanh nghiệp
tại Việt Nam 83
3.3.1. Trong ngắn hạn 83

nước trên thế giới. Cuộc khủng hoảng này kéo dài cho đến nay, năm 2013, lạm phát
trên thế giới tăng cao, nhiều doanh nghiệp phá sản, thất nghiệp tăng cao… Một
trong những biểu hiện nhìn thấy rõ nhất là sự mất ổn định của tất cả các thị trường
chứng khoán trên thế giới. Giá chứng khoán lên xuống thất thường, chủ yếu là
giảm, như rơi xuống một vực sâu không đáy khiến các nhà đầu tư hoang mang,
không xác định được định hướng đầu tư.
Tháng 11 năm 2006, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế, đây chính là tiền đề quan trọng để Việt Nam hoà nhập với cộng đồng quốc tế
trong nhiều lĩnh vực. Để hoà nhập được với kinh tế quốc tế, kinh tế của Việt Nam
đã từng bước không ngừng phát triển theo hướng kinh tế thị trường. Các thị trường
được hình thành rõ nét và ngày càng phát triển, đặc biệt là thị trường vốn. Một trong
các công cụ trợ giúp quan trọng cho sự phát triển của thị trường vốn là các thông tin
tài chính của doanh nghiệp. Các thông tin tài chính của doanh nghiệp được hình
thành chủ yếu bằng việc sử dụng các ghi chép kế toán. Các qui định của chế độ kế
toán đóng vai trò quyết định tính hữu ích của các thông tin tài chính, nó đòi hỏi các
thông tin tài chính của một doanh nghiệp do kế toán đưa ra ngày càng phải tiến dần
đến giá thị trường của doanh nghiệp đó.
Chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam được sửa đổi như hiện nay nhằm đáp
ứng các nhu cầu phát triển của nền kinh tế, nhằm tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn
mực chung của kế toán quốc tê, giúp các doanh nghiệp Việt Nam có đủ điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế, giúp các nhà đầu tư nước ngoài có cơ sở để đánh giá tình
hình các doanh nghiệp để đưa ra quyết định đầu tư. Trong quá trình phát triển của
mình, dựa vào tình hình thực tế của nền kinh tế Việt Nam và các kinh nghiệm của
kế toán quốc tế, Việt Nam đã phát triển Hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam và 2
các hướng dẫn thực hiện hệ thống chuẩn mực đó. Nhưng hiện nay, các qui định về
kế toán doanh nghiệp của Việt Nam chưa đảm bảo tạo ra các thông tin tài chính của


3
tế; các qui định về việc phản ánh giá trị hợp lý của tài sản, công nợ, công cụ vốn
trong doanh nghiệp tại thời điểm ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu, các qui
định về ghi nhận chênh lệch biến động của giá trị hợp lý trong Chế độ Kế toán
Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các
qui định về sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là lịch sử hình thành giá trị hợp lý trong kế
toán, kinh nghiệm sử dụng nguyên tắc kế toán theo giá trị hợp lý trong kế toán quốc
tế, các qui định về giá trị hợp lý trong chuẩn mực và Chế độ Kế toán Việt Nam,
chọn mẫu báo cáo tài chính của một số doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng
khoán, một số tổ chức tài chính, một số doanh nghiệp chưa niêm yết thuộc các loại
hình doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH tại Việt Nam để khảo
sát việc vận dụng nguyên tắc này ở Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
NCS đã vận dụng Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử; Phương pháp hệ thống; Phương pháp thống kê; Phương pháp phân tích tổng
hợp; Phương pháp so sánh, đối chiếu để tiếp cận và nghiên cứu đề tài.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
- Luận án đã khái quát những vấn đề lý luận chung về giá trị hợp lý trong kế
toán, tổng kết các kinh nghiệm về sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán quốc tế, giúp
người đọc có cái nhìn tổng quan về giá trị hợp lý trong kế toán.
- Trên cơ sở nghiên cứu và khảo sát thực tế các qui định về ghi nhận giá trị
của tài sản, công nợ và công cụ vốn của Chế độ Kế toán Doanh nghiệp Việt Nam,
thực tế áp dụng nguyên tắc kế toán này tại các doanh nghiệp Việt Nam, luận án đã
khẳng định rằng để các thông tin trên báo cáo tài chính doanh nghiệp thực sự phục
vụ cho nhu cầu của người sử dụng thông tin và phù hợp với tình hình phát triển
của nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì Chế độ Kế toán Việt Nam cần thiết phải bổ
sung các qui định về ghi nhận giá trị của tài sản, công nợ và công cụ vốn theo giá
trị hợp lý.

Thứ hai, một số nguyên tắc kế toán áp dụng tại Việt Nam hiện nay đòi hỏi
người đọc báo cáo tài chính phải có một trình độ kế toán tốt, thông tin trên báo cáo
tài chính như: Tổng tài sản, nguồn vốn vẫn phải qui đổi. Giá trị trên báo cáo tài
chính chưa phản ánh đúng giá trị thực của tải sản tại thời điểm lập báo cáo.
Thứ ba, việc hơn 300 Ngân hàng Mỹ phá sản đã tạo ra cuộc khủng hoảng
kinh tế năm 2008 trên thế giới, kéo dài hậu quả đến tận ngày nay (2013) đã làm các
bên liên quan đổ tội lẫn nhau. Một trong những lỗi được nhắc đến, các nhà quản lý 5
ngân hàng kêu ca về nguyên tắc khắt khe trong việc phản ánh giá trị tài sản ngân
hàng theo giá trị hợp lý đã làm cho ngân hàng phá sản nhanh hơn. Việc này đã gây
một tranh luận rất gay gắt về việc áp dụng nguyên tắc kế toán theo giá trị hợp lý
trên thế giới.
Thứ tư, có nhiều hiện tượng cố tình gian lận, đối phó của các doanh nghiệp,
ngân hàng đối với qui định của luật pháp Việt Nam có thể được đẩy lùi nếu áp dụng
công cụ kế toán theo giá trị hợp lý như: Hiện tượng tăng vốn của Ngân hàng năm
2011 (khoảng hơn 46.000 tỷ đồng) theo qui định của Ngân hàng Nhà nước là: Các
ngân hàng thương mại phải tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng. Nếu áp dụng kế toán theo
giá trị hợp lý thì có thể ngăn ngừa các việc làm gian lận dẫn đến tình trạng tăng vốn
giả, làm đau đầu các nhà quản lý và gây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư.
Từ các lý do trên, NCS xác định, việc nghiên cứu về kế toán theo nguyên tắc
giá trị hợp lý là cần thiết, có nhiều tác dụng trong hoạt động nghề nghiệp của NCS
cũng như cho nhiều người quan tâm khác ở Việt Nam hiểu về tác dụng quản lý nền
kinh tế của một nguyên tắc tính giá trong kế toán nói riêng cũng như khoa học kế
toán nói chung.
Đi sâu xem xét các đề tài nghiên cứu có liên quan đến giá trị hợp lý, NCS
nhận thấy rằng, ở nước ta hiện nay, ngoài Luận văn Thạc sỹ của Lê Vũ Ngọc Thanh
(được ghi cụ thể ở phía dưới), chưa có một công trình nào nghiên cứu tổng thể về
việc sử dụng giá trị hợp lý trong chế độ kế toán doanh nghiệp. Chỉ có một số bài

Kế toán Doanh nghiệp Việt Nam, giúp các nhà đầu tư có các thông tin tài chính hữu
ích.
7.3. Câu hỏi nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, bất kỳ một ý tưởng nào xuất hiện liên quan đến
sử dụng kế toán theo giá trị hợp lý, NCS cũng đối chiếu nó với các câu hỏi:
1. Khi áp dụng, thông tin trên báo cáo tài chính đã minh bạch chưa, người
sử dụng thông tin có thể hiểu nhầm ở điểm nào không?
2. Các cơ quan quản lý có dễ kiểm tra, kiểm soát khi doanh nghiệp áp dụng
các nguyên tắc này không?
3. Khi áp dụng nguyên tắc này, liệu người sử dụng thông tin tài chính chỉ có
trình độ sơ đẳng về kế toán thì có hiểu được không?
4. Áp dụng nguyên tắc này, có gây khó khăn gì cho doanh nghiệp hay
không? Nó có phù hợp với trình độ nhận thức của kế toán hay không? Có làm cho
doanh nghiệp tốn kém thêm khoản chi phí nào không?
5. Liệu các doanh nghiệp có thể lách các nguyên tắc này để làm sai lệch các 7
thông tin tài chính không?
6. Trên thế giới đã áp dụng phương pháp này chưa? Có hiệu quả không? Có
các phản ứng gì từ những người sử dụng thông tin tài chính không?
Khi các câu hỏi trên đều đồng thời được trả lời, xét các nguyên tắc có thể áp
dụng, các đề xuất mới được NCS đưa ra. NCS hoàn toàn dựa trên quan điểm, đề
xuất phải có khả năng áp dụng, không đề xuất chung chung, nói chỉ để nói, không
có giá trị thực tiễn.
7.4. Hướng tiếp cận nghiên cứu
Xuất phát từ tổng quan nghiên cứu, nguồn gốc của đề tài và các câu hỏi
nghiên cứu, NCS xác định hướng tiếp cận của đề tài là: Tổng hợp rõ các qui định
hiện hành về sử dụng giá trị hợp lý trong Kế toán Quốc tế hiện nay, xem xét với
việc áp dụng qui tắc này ở đại diện 03 châu lục là: Mỹ - đại diện cho Châu Mỹ,

đóng góp và tạo điều kiện cho NCS hoàn thành luận án. Đặc biệt, NCS gửi lời cảm
ơn đến hai thầy cô giáo hướng dẫn khoa học, những nhà khoa học đã nhiệt tình
hướng dẫn và tạo điều kiện cho NCS hoàn thành Luận án.

9
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ VÀ KINH NGHIỆM SỬ DỤNG
GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG KẾ TOÁN QUỐC TẾ

1.1. Những vấn đề lý luận chung về giá trị hợp lý
Dưới đây trình bày tổng quát lịch sử hình thành và phát triển các nguyên tắc
kế toán trên thế giới từ thời cổ đại cho đến hiện đại. Phần này không phải là một
nghiên cứu về lịch sử phát triển của tất cả các nguyên tắc kế toán mà chỉ đi sâu chủ
yếu vào sự hình thành và phát triển nguyên tắc xác định giá trị để ghi sổ kế toán
trong các thời kỳ để từ đó làm rõ cơ sở hình thành lý luận chung về nguyên tắc kế
toán theo giá trị hợp lý.
1.1.1. Sự hình thành và phát triển nguyên tắc kế toán trên thế giới
Không giống như phần lớn các nghề nghiệp hiện đại khác, kế toán có lịch sử
phát triển lâu đời. Đã có không ít các cuộc hội thảo bàn về lịch sử phát triển của kế
toán mà một trong những nội dung được đề cập thường xuyên nhất là quá trình ra
đời và phát triển của phương pháp ghi sổ kép gắn liền với đóng góp của vị thầy tu
kiêm nhà toán học người Ý Luca Pacioli.
Lịch sử của kế toán gắn liền với sự ra đời và phát triển của hoạt động
thương mại của con người mà cốt lõi là sự ra đời và phát triển của chữ viết cũng
như việc sử dụng các con số và phép tính. Có ý kiến cho rằng kế toán phát triển
nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại nảy sinh do những sự thay đổi của môi trường
và nhu cầu xã hội. Một số khác lại cho rằng chính sự phát triển của kế toán mới tạo

cơ sở để kế toán ghi nhận giá trị của một giao dịch trên sổ kế toán.
* Kế toán ở Ai Cập, Trung Hoa, Hy Lạp và Roma cổ đại:
Kế toán ở Ai Cập cổ đại cũng phát triển theo cách tương tự như ở Mesopotamia.
Tuy nhiên, người Ai Cập sử dụng giấy làm từ cói thay vì gốm, do đó, việc ghi chép
chi tiết trở nên dễ dàng hơn. Ở Ai Cập, người ghi sổ kế toán phải lưu trữ cẩn thận
các tài liệu ghi chép của mình trong một nơi gọi là kho lưu trữ sau khi những tài liệu
đó đã được kiểm tra bởi một hệ thống soát xét nội bộ chặt chẽ. Chính do hệ thống
kiểm tra này mà những người ghi sổ kế toán phải luôn trung thực và cẩn thận vì họ
sẽ bị xử phạt nếu vi phạm các điều luật liên quan. Các ghi chép này được dựa trên
giá trị các giao dịch trao đổi và được ghi bằng vàng hoặc bạc với tư cách là vật
ngang giá chung.
Kế toán ở Trung Hoa trước Công Nguyên được sử dụng cho mục đích đánh
giá hiệu quả của chương trình Chính phủ và những người vận hành chương trình đó.
Việc ghi nhận giá trị căn cứ vào giá của các giao dịch chi tiêu của Chính phủ. 11
Vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên, người Hy Lạp đã áp dụng “kế toán
công khai” để tạo điều kiện cho toàn thể công dân theo dõi tình hình tài chính của
Chính phủ. Thành viên của Hiệp hội Nhân dân Athens lập ra những quy tắc pháp lý
cho vấn đề tài chính và quản lý thu chi của hệ thống công thông qua sự giám của 10
nhân viên kế toán Nhà nước. Có lẽ sự đóng góp quan trọng nhất của Hy Lạp là việc
sáng tạo ra ra tiền kim loại vào khoảng năm 600 trước Công Nguyên. Việc sử
dụng rộng rãi tiền kim loại trong một thời gian dài đã có tác động đến sự phát triển
của kế toán. Giá trị của các giao dịch trên thị trường là cơ sở cho việc ghi sổ kế toán
tại thời kỳ này.
Thời Trung đại
Thời kỳ kéo dài hàng nghìn năm kể từ khi đế quốc La Mã sụp đổ cho đến
trước thời điểm ra đời của cuốn sách đầu tiên của Luca Pacioli mang tên
“Suma” được coi là thời kỳ đình trệ của kế toán. Các hoạt động kế toán diễn ra

toán phải được lập 2 năm một lần và quy định bên trái tài khoản bên nợ và bên phải
là tài khoản bên có.
Cuộc cách mạng Pháp những năm 1700 đã đánh dấu bước khởi đầu của sự
thay đổi chính phủ, tài chính, luật và thói quen vốn có. Một loạt các nghiên cứu về
kế toán và sự phát cứu về kế toán và sự phát triển những lý luận về kế toán được ra
đời vào thời kỳ này.
Sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật đã đem lại sức sản xuất ở quy mô lớn, cùng với
sự phát triển mạnh về sản xuất tài sản cố định (TSCĐ). TSCĐ dần dần trở nên chiếm vị
trí quan trọng và nó trở nên cần thiết phải khấu hao. Hơn nữa, những hình thức
cơ bản của tổ chức kinh doanh đã di chuyển từ sở hữu tư nhân, hiệp hội kinh doanh
sang công ty trách nhiệm hữu hạn và các công ty cổ phần, do đó, kế toán cũng thay đổi
để đáp ứng sự ra đời của các loại hình doanh nghiệp này. Những qui định của chính
phủ cũng làm xuất hiện những hệ thống kế toán mới, chẳng hạn như kế toán thuế.
Bắt đầu từ những năm 1900, sự phát triển các ngành công nghiệp thực sự đã
làm cho kế toán thay đổi rất nhiều. Sát nhập, hợp nhất và sự tăng trưởng các công ty
cổ phần đa quốc gia đã khuyến khích sự ra đời của hệ thống báo cáo kiểm soát, báo
cáo nội bộ và báo cáo cung cấp cho đối tượng sử dụng bên ngoài công ty, sau đó là
kiểm toán.
Cuối cùng, với tốc độ tăng nhanh về vốn đầu tư nước ngoài và thị trường
quốc tế và những thông tin của nhóm, vùng kinh tế như cộng đồng chung Châu Âu
(EU), những vấn đề kế toán ngày càng liên quan đến những hoạt động kinh doanh 13
quốc tế. Và nhiều nguyên tắc kế toán chung được đưa ra áp dụng, trong đó có
nguyên tắc giá phí rất được chú trọng. Nguyên tắc này là tiền đề cho việc các thông
tin tài chính được kế toán cung cấp có minh bạch hay không.
1.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống kế toán trên thế giới
Một loạt các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống kế toán mỗi một
quốc gia trên thế giới, những yếu tố này là là những nguyên nhân dẫn đến hệ thống kế

- Phân loại kế toán căn cứ vào thời điểm ghi nhận doanh thu - chi phí;
- Phân loại hệ thống kế toán căn cứ vào quan điểm về sự tồn tại doanh nghiệp;
- Phân loại kế toán căn cứ vào phạm vi kinh tế kế toán phục vụ.
Dưới đây, không trình bày cụ thể phân loại hệ thống kế toán theo tất cả các
căn cứ nêu trên, chỉ đi sâu trình bày cụ thể việc phân loại hệ thống kế toán căn cứ
vào quan điểm về sự tồn tại doanh nghiệp, vì nó là cơ sở, nguồn gốc của nguyên tắc
kế toán theo giá trị hợp lý.
Tiêu chuẩn để phân loại hệ thống kế toán của cách phân loại này là quan
điểm về sự tồn tại doanh nghiệp. Theo căn cứ này, hệ thống kế toán được chia làm
hai loại là: Kế toán tĩnh và Kế toán động.
Kế toán tĩnh ra đời dựa trên nguồn gốc pháp lý thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX,
do các chuyên gia về luật phá sản xây dựng. Luật này cho rằng sự tồn tại của các
doanh nghiệp là không thể liên tục. Do vậy, tại một thời điểm nào đó, theo định kỳ,
phải tiến hành kiểm tra xem nếu như đem bán các tài sản hiện có thì số tiền thu
được đó có đủ khả năng thanh toán công nợ hay không.
Từ nội dung cơ bản trên, nhận thấy các điểm đặc trưng của hệ thống kế toán
này như sau:
+ Tài sản phản ánh trên báo cáo tài chính được đánh giá theo giá thị trường;
+ Khấu hao TSCĐ không có hệ thống mà căn cứ vào chênh lệch giá thị
trường và giá ghi sổ TSCĐ tại thời điểm đánh giá;
+ Các dịch vụ phi vật chất mà không cho phép bán một cách riêng rẽ, không
được vốn hóa, không ghi nhận như là một khoản tài sản mà được xác định là chi phí
sản xuất kinh doanh khi nó phát sinh.
Kế toán động dựa trên cơ sở cho rằng doanh nghiệp là một thực thể tồn tại
liên tục và các bên sử dụng báo cáo tài chính cần biết được tình hình tài chính
doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định cũng như kết quả kinh doanh định kỳ.
Từ nội dung cơ bản trên, nhận thấy một số nét đặc trưng của hệ thống kế
toán động như sau:
- Giá trị đánh giá lại. Tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc số qui đổi ra
tiền mà có thể thu được từ việc bán tài sản hoặc thanh lý tài sản cũ. Công nợ được 16
ghi nhận theo giá đánh giá lại, là số tiền hoặc tương đương tiền dự kiến phải trả
trong một giao dịch bình thường.
- Giá trị thực tế. Tài sản được đánh giá theo giá trị thực tế của dòng tiền thu
được trong tương lại trong một giao dịch bình thường. Công nợ được đánh giá theo
giá trị dòng tiền phải trả trong tương lại để thanh toán các nghĩa vụ nợ trong một
giao dịch bình thường.
Với lịch sử phát triển của kế toán và cơ sở giá trị ghi sổ từ thời cổ đại cho
đến ngày nay, nhận thấy rằng đây là một tiêu thức quan trọng bậc nhất để giúp
người quan tâm đến đối tượng kế toán hiểu được tình hình tài chính của đối tượng
đó. Trong hầu hết các trường hợp, giá cả thị trường được căn cứ để làm cơ sở ban
đầu ghi sổ kế toán. Khi đó, người ta có thể gọi giá cả thị trường là giá trị hợp lý của
tài sản.
Ngày nay, với đặc điểm của nền kinh tế hiện đại, doanh nghiệp có thể phá
sản hoặc trong quá trình hoạt động liên tục nhưng việc mua bán doanh nghiệp lại
diễn ra thường xuyên, không một quốc gia nào áp dụng chỉ đơn thuần mô hình kế
toán tĩnh hoặc mô hình kế toán động. Hầu hết các quốc gia đều áp dụng mô hình kế
toán hỗn hợp, kết hợp giữa kế toán tĩnh và kế toán động. Vì vậy, nguyên tắc giá phí
được áp dụng triệt để trong ghi nhận ban đầu. Nhưng thị trường biến đổi liên tục,
giá tài sản và công nợ của doanh nghiệp cũng biến đổi liên tục, doanh nghiệp cũng
thay đổi chủ sở hữu liên tục nhờ sự phát triển của thị trường chứng khoán, nên sau
khi ghi nhận ban đầu, nguyên tắc giá phí không còn đáp ứng được đầy đủ nhu cầu
hiểu biết về tình hình tài chính tại một thời điểm của những người quan tâm. Cũng
không thể dùng giá thị trường để đánh giá vì giá thị trường biến đổi rất nhanh, từng
ngày, từng giờ, có khi từng phút. Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu của những người
quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp, xuất hiện một loại giá trị dùng để

Từ ngày 01/01/2013, Chuẩn mực Lập và Trình bày Báo cáo tài chính quốc tế
(IFRS) - Đo lường giá trị hợp lý đã có hiệu lực, là tiền đề cho các nước áp dụng
IFRS và các nước khác tham khảo. Kinh nghiệm sử dụng giá trị hợp lý trong kế
toán quốc tế được trình bày dưới đây.
Theo các Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS), Chuẩn mực Lập và Trình bày
Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), Chuẩn mực kế toán tài chính (FAS) thì: “Giá trị
hợp lý là giá mà có thể nhận được từ việc bán một tài sản hoặc trả tiền để chuyển
giao một khoản nợ trong một giao dịch giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự
trao đổi ngang giá". 18
Theo Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) và Ủy ban chuẩn mực kế
toán tài chính (FASB), việc xác định giá trị hợp lý dựa trên 3 phương pháp: Phương
pháp tiếp cận thị trường, phương pháp thu nhập và phương pháp giá phí.
Phương pháp tiếp cận thị trường: Giá cả thị trường quan sát được và các
thông tin về các giao dịch thực tế trên thị trường sẽ được sử dụng để ước tính giá trị
hợp lý của một tài sản, một khoản nợ phải trả. Phương pháp này được dựa trên tiền
đề rằng một người tham gia thị trường sẽ không trả nhiều hơn chi phí để mua một
tài sản tương tự.
Phương pháp thu nhập: Giá trị hợp lý của một tài sản hay một khoản nợ
được xác định bằng cách sử dụng các phương pháp kỹ thuật để quy đổi các khoản
tiền trong tương lai về giá trị hiện tại (Dòng tiền vào từ việc khai thác, sử dụng tài
sản hoặc dòng tiền ra để thanh toán nợ phải trả). Phương pháp này dựa trên tiền đề
rằng một người tham gia thị trường sẵn sàng trả giá trị hiện tại của các lợi ích sẽ thu
được của một tài sản trong tương lai.
Phương pháp giá phí: Giá trị hợp lý của một tài sản được xác định trên cơ sở
xem xét các chi phí phải bỏ ra để có được một tài sản thay thế tương đương về năng
lực sản xuất (Dòng tiền phải chi để mua, sản xuất tài sản). Phương pháp chi phí
thường không xem xét điều kiện thị trường nên thường không được sử dụng trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status