BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
DƯƠNG LÊ DIỄM HUYỀN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH
VỀ SỬ DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG HỆ THỐNG
KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN ANH HOA
TP. HOÀ CHÍ MINH – NAÊM 2014
LỜI CAM ĐOAN
o0o
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các
dữ liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Luận văn
này chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào. Tác giả
Dương Lê Diễm Huyền
MỤC LỤC
o0o
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN GIÁ TRỊ HỢP LÝ VÀ VIỆC ÁP DỤNG GIÁ TRỊ
HỢP LÝ TRONG KẾ TOÁN 6
1.1. Nền tảng lý thuyết về định giá trong kế toán 6
1.1.1. Khái niệm định giá trong kế toán 6
1.1.2. Các đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính ảnh hưởng đến việc định giá 7
1.1.3. Khái niệm về vốn và bảo toàn vốn 8
1.1.4. Các hệ thống định giá kế toán 8
1.1.5. Các loại giá được sử dụng trong hệ thống định giá kế toán 9
1.2. Sự hình thành và phát triển của kế toán giá trị hợp lý 10
1.2.1. Lược sử hình thành và phát triển của giá trị hợp lý 10
1.2.2. Nội dung của giá trị hợp lý theo IFRS 13 12
1.2.2.1. Định nghĩa giá trị hợp lý và phạm vi áp dụng của IFRS 13 12
1.2.2.2. Phân chia cấp bậc giá trị hợp lý 15
1.2.2.3. Các phương pháp xác định giá trị hợp lý 18
2.3. Thực trạng việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp
Việt Nam 43
2.3.1. Khảo sát thực tế việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp Việt
Nam. 43
2.3.1.1. Đối tượng và phạm vi khảo sát. 43
2.3.1.2. Phương pháp khảo sát 44
2.3.2. Tổng hợp kết quả và nhận xét 44
2.4. Đánh giá thực trạng vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp
Việt Nam 47
2.4.1. Các hạn chế và nguyên nhân dẫn đến giá trị hợp lý chưa được áp dụng rộng
rãi trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam 47
2.4.1.1. Các hạn chế 47
2.4.1.2. Các nguyên nhân 48
2.4.2. Khả năng áp dụng giá trị hợp lý của Việt Nam trong tương lai 49
2.4.2.1. Thuận lợi 49
2.4.2.2. Thách thức 50
Kết luận chương 2 52
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG
GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG HỆ THỐNG KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM HIỆN NAY 53
3.1. Các quan điểm hoàn thiện quy định giá trị hợp lý trong hệ thống kế toán
doanh nghiệp Việt Nam theo xu hướng hội tụ kế toán quốc tế 53
3.1.1. Hoàn thiện các quy định giá trị hợp lý nhằm nâng cao chất lượng thông tin
báo cáo tài chính 53
3.1.2. Từng bước tạo sự tương thích với chuẩn mực kế toán quốc tế về giá trị hợp lý
để tăng cường tính hội nhập của kế toán Việt Nam 54
3.2. Giải pháp ngắn hạn 54
3.2.1. Mục tiêu 54
3.2.2. Giải pháp thực hiện 54
3.2.2.1. Từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng làm nền tảng cho việc định giá 54
Phần tiếng Việt
BCTC Baó cáo tài chính
BĐSĐT Bất động sản đầu tư
CĐ Cấp độ
GTHL Giá trị hợp lý
KH Khấu hao
TK Tài khoản
VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam
TSCĐ Tài sản cố định
DANH MỤC CÁC BẢNG
o0o
Bảng 1.1 - Cấp bậc giá trị hợp lý 17
Bảng 1.2 - Tóm tắt yêu cầu về việc công bố và trình bày giá trị hợp lý 20
Bảng 2.1 - Danh sách các chuẩn mực yêu cầu sử dụng giá trị hợp lý 33
Bảng 2.2 - Khái niệm giá trị hợp lý trong các chuẩn mực và thông tư. 34
Bảng 2.3 - Định giá sau ghi nhận ban đầu của chuẩn mực kế toán Việt Nam đối
chiếu với chuẩn mực kế toán quốc tế 42
hơn. Trong xu thế chung đó, giá trị hợp lý ( GTHL) được nhiều quốc gia lựa chọn
bởi những lợi ích mà nó mang lại, GTHL đánh giá được sự vận động của tài sản và
nợ phải trả vì vậy phản ánh được tình hình thị trường hiện tại, cung cấp những
thông tin kịp thời giúp cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính ( BCTC) , đặc
biệt là nhà đầu tư trong việc ra các quyết định kinh tế.
Lịch sử phát triển của GTHL trên thế giới bắt đầu từ những năm 1970, khái
niệm GTHL được xuất hiện rải rác trong các chuẩn mực, nhưng mãi cho đến năm
2011 IASB mới ban hành IFRS 13 “ Fair value measurement” ( Đo lường GTHL)
hướng dẫn chi tiết cho việc ghi nhận và đo lường GTHL trong kế toán.
Tại Việt Nam, GTHL cũng được đề cập đến trong các chuẩn mực để định giá
các đối tượng trong kế toán. Tuy nhiên, quy định GTHL trong các chuẩn mực còn
nhiều bất cập và cũng chưa có một chuẩn mực cụ thể để hướng dẫn về việc vận
dụng GTHL nên việc áp dụng chưa được rộng rãi do đó tác giả đã lựa chọn đề tài “
Một số giải pháp hoàn thiện về sử dụng giá trị hợp lý trong hệ thống kế toán
doanh nghiệp Việt Nam ” nghiên cứu như là một yêu cầu do thực tiễn đặt ra đối
với khoa học.
2. Mục đích nghiên cứu:
Qua phân tích những nội dung của chuẩn mực quốc tế về kế toán GTHL
cũng như tham khảo kinh nghiệm vận dụng GTHL của nước Malaysia, từ đó so
sánh với tình hình thực tế chuẩn mực kế toán Việt Nam về GTHL để đề ra những
giải pháp khắc phục những nhược điểm còn tồn tại và hoàn thiện hơn các quy định
về sử dụng GTHL trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam.
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) có liên quan đến GTHL.
- Các chuẩn mực kế toán Việt Nam, Luật kế toán Việt Nam, chế độ kế toán
tại trường Đại học Kinh Tế TP.HCM. Luận văn này đã giải quyết
được những vấn đề sau:
- Hệ thống hóa vấn đề định giá trong kế toán Việt Nam. Khái
quát các yêu cầu về GTHL trong chuẩn mực kế toán, phân tích
và đánh giá bản chất, vai trò của GTHL trong kế toán Việt
Nam. Nhận định những thuận lợi và khó khăn trong việc nâng
cao vai trò của GTHL trong kế toán doanh nghiệp.
- Định hướng về việc sử dụng GTHL: về ngắn hạn là hoàn chỉnh
các chuẩn mực hiện có, về dài hạn là điều chỉnh Luật kế toán,
chuẩn mực chung và ban hành một số chuẩn mực mới.
Luận văn thạc sỹ “ Phương hướng và giải pháp vận dụng giá trị hợp lý
trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam”, Ngô Thị Thùy Trang, năm
2012, bảo vệ tại trường Đại học Kinh Tế TP.HCM. Luận văn này đã
giải quyết được những vấn đề sau:
- Tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển kế toán theo
GTHL trên thế giới và thực trạng việc vận dụng GTHL trong
kế toán doanh nghiệp Việt Nam.
- Các quan điểm làm cơ sở để đưa ra các định hướng và giải
pháp về vận dụng GTHL và đề xuất phương hướng, giải pháp
vận dụng GTHL trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam.
Luận văn thạc sỹ “ Các giải pháp mang tính định hướng cho việc xác
lập khung pháp lý về giá trị hợp lý áp dụng trong hệ thống kế toán
doanh nghiệp Việt Nam”, Trần Thị Phương Thanh, năm 2012, bảo vệ
tại trường Đại học Kinh Tế TP.HCM. Luận văn này đã giải quyết
được những vấn đề sau:
4
- Hệ thống hóa vấn đề định giá trong chuẩn mực kế toán Việt
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra các quan điểm, giải pháp hoàn
thiện các quy định GTHL trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam,
giúp cơ quan Nhà nước mà cụ thể là Bộ Tài Chính trong việc chỉnh sửa quy
định của Luật kế toán, các chuẩn mực liên quan và ban hành chuẩn mực đo
lường GTHL.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có ba chương:
Chương 1: Tổng quan về kế toán giá trị hợp lý
Chương 2: Thực trạng vận dụng giá trị hợp lý trong hệ thống kế toán doanh
nghiệp Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các quy định về sử dụng giá trị hợp lý trong
hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam.
6 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN GIÁ TRỊ HỢP LÝ
1.1. NỀN TẢNG LÝ THUYẾT VỀ ĐỊNH GIÁ TRONG KẾ TOÁN
1.1.1. Khái niệm định giá trong kế toán
Theo IASB (2010) định giá là một quá trình xác định giá trị tiền tệ của các
yếu tố trong BCTC được ghi nhận và trình bày trên bảng cân đối kế toán và kết quả
hoạt động kinh doanh.
“Định giá là một phương pháp cơ bản của kế toán, biểu hiện các đối tượng kế
toán bằng tiền theo những nguyên tắc và yêu cầu nhất định
“ ( Nguyễn Việt và Võ
Văn Nhị, 1997, trang 132).
Thông qua định giá, giá trị của các đối tượng kế toán của doanh nghiệp được
cáo tài chính phải có thể hiểu được bởi người sử dụng. Người đọc được giả
thiết là có một kiến thức nhất định về kinh tế, kinh doanh và kế toán và có
thiện chí, nổ lực để đọc báo cáo tài chính. Tuy nhiên, thông tin về một vấn đề
phức tạp nhưng cần thiết cho việc ra quyết định không được loại trừ khỏi báo
cáo tài chính chỉ vì nó khó hiểu đối với một số đối tượng sử dụng.
Thích hợp (Relevance): thông tin hữu ích khi nó thích hợp với nhu cầu đưa
ra quyết định của người sử dụng. Thông tin thích hợp khi nó có thể giúp
người đọc đánh giá quá khứ, hiện tại hoặc tương lai hoặc xác nhận, điều
chỉnh các đánh giá trước đây. Tính thích hợp bao gồm tính dự toán và tính
xác nhận hai đặc tính này có quan hệ với nhau.
Đáng tin cậy (Reliability): đáng tin cậy nghĩa là không có sai sót hay thiên
lệch một cách trọng yếu, đồng thời phản ảnh trung thực vấn đề cần phải trình
bày. Đáng tin cậy bao gồm các yêu cầu: trình bày trung thực, nội dung quan
trọng hơn hình thức, không thiên lệch, thận trọng và đầy đủ.
Có thể so sánh (Comparability): BCTC chỉ hữu ích khi có thể so sánh với
năm trước, với doanh nghiệp khác. Do đó, các nghiệp vụ giống nhau phải
được đánh giá và trình bày một cách nhất quán trong toàn doanh nghiệp, giữa
các thời kỳ và giữa các doanh nghiệp. Việc thuyết minh là cần thiết để bảo
đảm tính so sánh được. Tuy nhiên, nhất quán không có nghĩa là doanh
nghiệp không thay đổi chính sách kế toán khi cần thiết hoặc theo yêu cầu của
chuẩn mực.” ( Vũ Hữu Đức, 2010, trang 193, 194, 195).
8
1.1.3.Khái niệm về vốn và bảo toàn vốn
Khái niệm về vốn
Phương diện tài chính: vốn là tài sản thuần hay vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Phương diện vật chất: vốn được xem là năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
“Kế toán dựa trên giá gốc (historical cost): dựa trên giá mua vào quá khứ
để ghi nhận các giao dịch và lập BCTC. Đây là hệ thống định giá truyền
thống đã phát triển nhiều năm từ khi các kỹ thuật ghi sổ kép của Pacioli ra
đời. Trong thời kỳ khoa học cơ bản, các cơ sở lý luận của hệ thống này đã
được hình thành, và cho đến nay hệ thống này vẫn còn giữ vai trò chủ yếu
trong các thông lệ và chuẩn mực kế toán.
Kế toán dựa trên mức giá chung (general price-level accounting): dựa
trên chỉ số giá để điều chỉnh BCTC nhằm loại trừ ảnh hưởng của biến động
giá, đặc biệt là lạm phát. Kế toán theo mức giá chung phát triển trong giai
đoạn lạm phát gia tăng trên thế giới vào những năm thuộc thập niên 1960-
1970 và hiện nay vẫn còn được áp dụng ở một số quốc gia có lạm phát cao.
Kế toán dựa trên giá hiện hành (current cost accounting): dựa trên giá
hiện hành hay còn gọi là giá thay thế (replacement cost) của tài sản để lập
BCTC và xác định lợi nhuận. Giá hiện hành đã được đề cập rất sớm trong kế
toán nhưng chỉ được trình bày một cách hệ thống với các cơ sở lý luận đầy
đủ vào thời kỳ quy chuẩn, song song với việc phê phán giá gốc. Giá hiện
hành cũng ảnh hưởng đến thực tiễn kế toán ở một số quốc gia trong thời kỳ
lạm phát cao như một giải pháp thay thế cho kế toán dựa trên mức giá chung.
Kế toán dựa trên giá đầu ra (exit price accounting): dựa trên giá bán trên
thị trường để đo lường và đánh giá tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt
động của doanh nghiệp. Kế toán giá đầu ra đặt những nền móng cho hướng
phát triển kế toán theo thị trường (market-to-market accounting) sau này”( Vũ Hữu Đức, 2010, trang 28,29).
1.1.5. Các loại giá được sử dụng trong hệ thống định giá kế toán
Theo IASB (2010) cho rằng vấn đề định giá là chọn lựa giữa các cơ sở định giá và
đưa ra các loại giá sau để làm cơ sở cho việc định giá :
Giá gốc (historical cost) : tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc tương đương
quốc gia ngày càng được gia tăng; quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các châu lục ngày
càng được mở rộng, các quốc gia phát triển sớm như Mỹ, các nước Tây Âu tích cực
sản xuất hàng hóa đưa đi trao đổi ở các nơi trên thế giới.
Hàng hóa được sản xuất ở nhiều nơi, chất lượng các nơi không đồng đều
nhau, thời gian chuyên chở đi các khu vực trên thế giới cũng khác nhau thế nên giá
cả các loại hàng hóa ở trong nước và ngoài nước có sự chênh lệch; thậm chí cùng là
một loại mặt hàng nhưng do Mỹ sản xuất thì giá khác, Anh hay Pháp sản xuất thì
11
giá khác; từ đó khái niệm về GTHL được hình thành tuy chỉ là nguyên tắc đơn giản
nhưng là bước đầu cho quy định về tính giá cả trong kinh tế sau này.
Giai đoạn 1970 đến 1990: GTHL mở rộng phạm vi sử dụng và được hình
thành một cách chính thức
Trên thế giới, GTHL xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ, được đề cập đến trong báo
cáo về ý kiến của Ủy Ban Nguyên Tắc Kế Toán số 16 (APB Opinion 16) để ghi
nhận lợi thế thương mại, ghi nhận giá trị của tài sản có được do hợp nhất:
APB Opinion 16 – Hợp nhất doanh nghiệp: “ tất cả tài sản, nợ phải trả có
được trong hợp nhất doanh nghiệp nên được ghi nhận tại GTHL của chúng tại ngày
mua”.
APB Opinion 17 – Tài sản vô hình:” sự khác nhau giữa GTHL và chi phí sẽ
được coi như lợi thế thương mại”.
Sau khi xuất hiện, GTHL tiếp tục được thừa nhận và phạm vi sử dụng của
GTHL dần dần được mở rộng hơn. GTHL được bắt đầu quan tâm và áp dụng của
nhiều nước cũng như của IASB , được sử dụng trong nhiều lĩnh vực: dầu khí, truyền
hình, ngân hàng, bảo hiểm… song song với đó, cũng có những hướng dẫn hạn chế
về cách xác định và trình bày GTHL trên bảng BCTC.
Nhìn chung, trong giai đoạn này GTHL xuất hiện để áp dụng cho lợi thế
thương mại và tài sản có được do hợp nhất, sau đó GTHL được mở rộng để áp dụng
trình bày và công bố thông tin về GTHL ( IFRS 13) được cập nhật trên Chủ đề 820
(Topic 820) của FASB (trước đây là SFAS 157), hoàn thành một dự án hội tụ lớn
của IFRSs và US GAAP.
1.2.2. Nội dung của giá trị hợp lý theo IFRS 13
1.2.2.1. Định nghĩa giá trị hợp lý và phạm vi áp dụng của IFRS 13
a. Định nghĩa giá trị hợp lý
GTHL là giá trị có thể nhận được khi bán một tài sản hoặc có thể được thanh
toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao dịch bình thường giữa
các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường ( IASB, 2011).
GTHL chính là giá đầu ra, bởi vì đó là giá nhận được khi bán tài sản hoặc có
thể được thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả, khác với số tiền phải trả
để mua tài sản hoặc nhận được nợ phải trả khi mua hàng hóa (giá đầu vào). Khi đo
lường GTHL giả định rằng người bán và người mua độc lập với nhau và thông tin
trên thị trường là sẵn có để hỗ trợ việc ra quyết định trong việc thanh toán nợ phải
trả hoặc bán tài sản.
13
Các thuật ngữ trong khái niệm này được hiểu như sau:
Giá bán ( The price)
GTHL là giá có thể nhận được khi bán một tài sản hay thanh toán khoản nợ
phải trả trong giao dịch bình thường ở thị trường chính (hoặc thị trường thuận lợi
nhất) tại ngày đo lường trong điều kiện thị trường hiện tại (giá đầu ra) bất kể giá đó
được quan sát trực tiếp hay ước tính dựa trên kỹ thuật định giá.
Tài sản hay nợ phải trả (Asset or liability)
Việc đo lường GTHL là việc đo lường một tài sản hay nợ phải trả (ví dụ như
công cụ tài chính hay tài sản phi tài chính) hoặc một nhóm tài sản, nhóm nợ phải
trả, nhóm tài sản thuần (ví dụ như một đơn vị tạo ra tiền hay một doanh nghiệp)
Khi đo lường GTHL của tài sản hay nợ phải trả, doanh nghiệp sẽ phải giải thích
Các bên tham gia thị trường có đặc điểm sau đây:
- Độc lập lẫn nhau, tức là không có mối quan hệ với nhau.
- Có kiến thức, có sự hiểu biết một cách hợp lý về tài sản hay nợ phải trả,
và những thông tin liên quan đến giao dịch thực hiện.
- Có đủ năng lực tham gia giao dịch đối với tài sản hay nợ phải trả.
- Sẵn sàng tham gia giao dịch đối với tài sản hay nợ phải trả, không có sự
ép buộc phải thực hiện giao dịch đó.
b. Phạm vi áp dụng của IFRS 13
IFRS này áp dụng khi một IFRS yêu cầu hoặc cho phép đo lường GTHL hoặc
thuyết minh về việc đo lường GTHL của tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu.
IFRS 1: Áp dụng lần đầu các chuẩn mực BCTC.
IAS 16: Nhà xưởng, máy móc, thiết bị.
IAS 17: Thuê tài sản.
IAS 18: Doanh thu.
IAS 40: Bất động sản đầu tư.
IAS 36: Suy giảm giá trị tài sản.
c. Phạm vi không áp dụng của IFRS 13
Việc đo lường và công bố thông tin theo IFRS 13 không áp dụng với:
o Thanh toán dựa trên cổ phiếu theo IFRS 2
o Giao dịch thuê tài sản theo IAS 17