LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay ngân hàng thương mại có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế
là hệ thần kinh, trái tim của nền kinh tế, là dấu hiệu báo hiệu trạng thái sức khoẻ
của nền kinh tế. Các ngân hàng mạnh, nền kinh tế mạnh. Ngược lại, các ngân hàng
yếu, nền kinh tế sẽ yếu kém. Thậm chí nếu ngân hàng đổ vỡ nền kinh tế sẽ lâm vào
khủng hoảng và sụp đổ. Với tư cách là tổ chức trung gian tài chính nhận tiền gửi
và tiến hành các hoạt động cho vay và đầu tư. NHTM đã thâm nhập vào mọi lĩnh
vực kinh tế - xã hội như là người mở đường, người tham gia, người quyết định đối
với mọi quá trình sản xuất kinh doanh. NHTM ngày càng đóng vai trò là trung tâm
tiền tệ, tín dụng và thanh toán của các thành phần kinh tế, là định chế tài chính quan
trọng nhất của nền kinh tế.
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Trong số
các nghiệp vụ kinh doanh của mình thì tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu và
cũng là nội dung chủ yếu của bản thân các nhân viên của toàn hệ thống. Đây là
nghiệp vụ tạo ra lợi nhuận cao nhất, nó chiếm khoảng 2/3 lợi tức nghiệp vụ ngân
hàng có từ tiền lãi cho vay. Nhưng đây cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro
nhất. Có vô số các rủi ro khác nhau khi cho vay, xuất phát từ nhiều yếu tố và có thể
dẫn đến việc không chi trả được nợ khi đến hạn làm cho ngân hàng bị phá sản gây
ảnh hưởng nghiêm trọng cho toàn bộ nền kinh tế.
Quá trình phát triển của Việt Nam theo hướng CNH-HĐH theo chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của Đảng, Nhà nước đòi hỏi việc triển khai
ngày càng nhiều các dự án đầu tư, với nguồn vốn trong và ngoài nước, thuộc mọi
thành phần kinh tế. Trong đó, nguồn vốn cho vay theo dự án đầu tư của NHTM
ngày càng phổ biến, cơ bản và quan trọng đối với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và
Chính phủ. Đó cũng đặt ra một thách thức không nhỏ đối với các NHTM về sự an
toàn và hiệu quả của nguồn vốn cho vay theo dự án. Bởi vì, các dự án đầu tư
thường đòi hỏi số vốn lớn, thời gian kéo dài và rủi ro rất cao. Để đi đến chấp nhận
cho vay, thì thẩm định dự án đầu tư về mặt tài chính dự án đầu tư là khâu quan
trọng, quyết định chất lượng cho vay theo dự án của ngân hàng. Thẩm định tài
chính dự án đầu tư ngày càng có ý nghĩa vô cùng to lớn, đảm bảo lợi nhuận, sự an
toàn cho ngân hàng.
sản, Công ty TNHH Bảo hiểm và 3 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ
Thông tin và Trung tâm Thẻ, Trường Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Là
sáng lập viên và đối tác liên doanh của Ngân hàng INDOVINA. Có quan hệ đại
lý với trên 850 ngân hàng lớn trên toàn thế giới. Ngân hàng Công thương Việt
Nam là một Ngân hàng đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO
9001:2000. Là thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội các ngân
hàng Châu Á, Hiệp hội Tài chính viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT),
Tổ chức Phát hành và Thanh toán thẻ VISA, MASTER quốc tế. Là ngân hàng
tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại và thương mại điện tử tại
Việt Nam. Ngân hàng Công thương không ngừng nghiên cứu, cải tiến các sản
phẩm, dịch vụ hiện có và phát triển các sản phẩm mới nhằm đáp ứng cao nhất
nhu cầu của khách hàng.
Sở giao dịch I Ngân hàng Công thương Việt Nam là một chi nhánh lớn
của Ngân hàng Công thương, là đơn vị hạch toán phụ thuộc của Ngân hàng
Công thương Việt Nam, được thành lập lại theo quyết định 134-HĐQT về việc
sắp xếp lại tổ chức và hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch 1. Trong những
năm: từ 1988 đến tháng 7 năm 1993, Sở giao dịch có tên là trung tâm giao dịch
Ngân hàng Công thương thành phố. Sau pháp lệnh ngân hàng, thực hiện điều lệ
của Ngân hàng Công thương Việt Nam ngày 1/7/1993, Trung tâm giao dịch
Ngân hàng Công thương thành phố được giải thể và đổi thành Sở giao dịch
Ngân hàng Công thương Việt Nam như ngày nay. Từ đó Sở giao dịch I có
SVTH: ĐÀO VĂN NGỌC KTĐT47B
quyền tự chủ trong kinh doanh, có con dấu riêng và được phép mở tài khoản của
ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng khác.
Là một trong 3 sở giao dịch của hệ thống Ngân hàng Công thương Việt
Nam, Sở giao dịch I hoạt động như một ngân hàng thương mại, có vai trò quan
trọng vào bậc nhất trong hệ thông ngân hàng, đây là nơi đầu tiên nhận các quyết
định, chỉ thị, thực hiện thí điểm các chủ trương chính sách của Ngân hàng Công
thương Việt Nam, đồng thời được Ngân hàng Công thương Việt Nam uỷ quyền
làm đầu mối cho các chi nhánh phía Bắc trong việc thu chi ngoại tệ mặt, séc du
.
Kiểm tra, giám sát, đôn đốc các bộ phận nghiệp vụ, nhân viên dưới quyền, các đơn vị
trực thuộc ( nếu có) về việc thực hiện nghiệp vụ, chấp hành các chính sách, chế độ của Nhà
nước, thể lệ, chế độ của Ngân hàng nhà nước và của Ngân hàng Công thương . Báo cáo lên
ban Tổng Giám Đốc nội dung các vụ việc về tham nhũng, tieu cực (nếu có) tại đơn vị.
Hệ thống các phòng ban của sở giao dịch 1, gồm các phòng sau
•
Phòng khách hàng số 1: Là nơi tiếp nhận các hồ sơ của các doanh nghiệp lớn,
thực hiện và khai thác các khoản tín dụng từ những khách hàng lớn. Đề xuất và
cải tiến các nghiệp vụ hiện có, cung cấp những sản phẩm dịch vụ mới…
•
Phòng khách hàng số 2: Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với các khách
hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thực hiện các nghiệp vụ về tín dụng,
quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng
dẫn của Ngân hàng Công thương Việt Nam. Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới
thiệu và bán sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
•
Phòng khách hàng cá nhân: là nơi giao dịch với các khách hàng là các cá
nhân, các tổ sản xuất…
•
Phòng kế toán tài chính: giúp cho Giám đốc thực hiện công tác quản lý tài
chính đồng thời thực hiện nhiệm vụ chi tiêu nội bộ tại sở theo đúng quy định của
Nhà nước và của Ngân hàng Công thương Việt Nam.
•
Phòng quản lý rủi ro: Là phòng tham mưu cho Giám đốc Sở giao dịch 1 để
quản lý rủi ro tín dụng và quản lý nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro. Quản lý giám sát
các danh mục cho vay, đầu tư đảm bảo các giới hạn tín dụng cho từng khách
hàng. Thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng, dự án, phương án đề nghị cấp
SVTH: ĐÀO VĂN NGỌC KTĐT47B
tín dụng. Thực hiện chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ các hoạt
Phó
Giám
đốc
Phòng
tổ chức
hành
chính
Phòng
thông
tin điện
toán
Phòng
tổng
hợp
Ban
kiểm
toán nội
bộ
• Phòng kế toán giao dịch: thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng.
Các nghiệp vụ, công việc lien quan đến công tác quản lý tài chính, chi tiêu nội
bộ tại Sở, cung cấp cá dịch vụ ngân hàng lien quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử
lý hạch toán các giao dịch. Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao
dịch trên máy, quản lý kho tiền và quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theo
đúng quy định của Nhà nước và Ngân hàng Công thương Việt Nam. Thực hiện
nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm Ngân hàng.
•
Phòng thanh toán xuất nhập khẩu: Là phòng nghiệp vụ tổ chức thực hiện
nghiệp vụ về thanh toán xuất nhập khẩu và kinh doanh ngoại tệ tại Sở theo quy
định của Ngân hàng Công thương Việt Nam.
•
kinh doanh, chống chọi được những khó khăn chung trong ngành ngân hàng, đạt
được những kết quả đáng khích lệ và ngày càng có uy tín với khách hàng.
Bảng 1.1. Kết quả kinh doanh của Sở Giao dịch 1 NHCTVN một số năm
( Đv: triệu đồng)
STT CHỈ TIÊU NĂM 2006 NĂM 2007 NĂM 2008
1 Tổng doanh thu 1055780 1456119 1539224
2 Tổng chi phí 708274 1113034 1207705
3 Lợi nhuận sau thuế 347506 343085 331519
( Nguồn: báo cáo tổng kết thường niên của Sở giao dịch)
Do cuộc khủng hoảnh kinh tế toàn cầu, lợi nhuận của Sở giao dịch 1 Ngân
hàng Công thương có xu hướng giảm, nhưng mức giảm thấp, cuộc khủng hoảnh
ảnh hưởng lớn đến tình hinh kinh tế của Việt Nam nói chung và hệ thống ngân
hàng nói riêng, trong đó có Sở giao dịch 1 Ngân hàng Công thương Việt nam.
Trong thời kỳ khủng hoảng, tuy Ngân hàng Công thương không hứng chịu trực
tiếp, nhưng khủng hoảng đã gián tiếp tác động doanh thu cũng như chi phí, làm
cho lợi nhuận suy giảm. Nhưng nhìn vào bảng chỉ tiêu thì ta thấy múc suy giảm
lợi nhuận là không đáng kể. Tuy giảm về lợi nhuận nhưng với lợi nhuận đạt
được khoảng 331 tỷ đồng, đây là mức lợi nhuận cao mà nhiều Ngân hàng khó
đạt được. Điều này chứng tỏ Sở đang có chiến lược kinh doanh hợp lý và làm ăn
hiệu quả. Doanh thu hoạt động trong năm 2008 đạt khoản 1539 tỷ đồng, tăng
5,7% so với năm 2007.
SVTH: ĐÀO VĂN NGỌC KTĐT47B
Sau đây là một số hoạt động kinh doanh chính của sở giao dịch 1 Ngân
hàng Công thương Việt Nam.
1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn.
Huy động vốn tại sở giao dich 1 Ngân hàng Công thương Việt Nam trong 3
năm 2006, 2007, 2008 diễn ra phức tạp, một số chỉ tiêu tăng giảm đột biến, cơ
cấu nguồn huy động có sụ thay đổi mạnh mẽ. Đặc biệt trong 2 năm 2007, 2008
các thành phần nguồn vốn thay đổi rõ riệt. Năm 2007 hầu hết các khoản nguồn
vốn đều giảm, chỉ có nguồn huy động từ các doanh nghiệp tăng, và mức tăng
điều hoà toàn hệ thống và tham gia thị trường vốn.
Bảng 1.2: Tình hình hoạt động huy động vốn của Sở giao dịch 1 Ngân hàng
Công thương VN.
( Đv: tỷ đồng )
Năm
2006 2007 2008
Chỉ tiêu
Tổng
số
Tỷ
trọng
(%)
Tổng
số
Tỷ
trọng
(%)
So 2006 Tổng
số
Tỷ
trọng
(%)
So 2007
Tổng nguồn vốn
huy động
17.448 100 16.718 100 17940 100
Theo
loại
tiền
VND 14.953 85.7 14.270 85.5
-578
-14.5%
2.994 16.7
-418
-12.3%
TG
TCTD
và.TC
khác
3.599 20.6 571 3.4
-3028
-84.1%
7.569 42.2
+6998
+1225%
(Nguồn: báo cáo tổng kết thường niên của Sở giao dịch 1 ngõn hàng cụng thương).
SVTH: ĐÀO VĂN NGỌC KTĐT47B
1.1.3.2 Hoạt động tín dụng.
Đây luôn là hoạt động cơ bản, quan trọng nhất của Sở giao dịch 1 Ngân
hàng Công thương, là cơ sở để tiến hành và thúc đẩy các hoạt động khác phát
triển. Trong những năm qua, cùng với việc sàng lọc nhằm nâng cao thêm một
bước chất lượng dư nợ đối với các khách hàng truyền thống, Ngân hàng đã tiếp
tục công tác tiếp thị, tìm đến với những khách hàng mới, các dự án khả thi để
thay đổi cơ cấu dư nợ theo hướng giảm thiểu rủi ro.
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Công thương Việt Nam luôn diễn ra sôi
động, và Sở giao dịch cũng vậy. Khối lượng dư nợ cho vay tại sở không ngừng
gia tăng trong 3 năm 2006, 2007, 2008. Tổng dư nợ cho vay năm 2007 tăng 12%
so với năm 2006, và năm 2008 tăng 25% so với năm 2007. Trong đó lượng tăng
về dư nợ ngắn hạn là đáng kể, và cho vay ngắn hạn trong năm 2008 đạt 1592 tỷ
đồng tăng 58% so với năm 2007, đây là sự gia tăng lớn. Và cơ cấu của cho vay
Tổng
số
Tỷ trọng
(%)
Tăng so
2006
Tổng
số
Tỷ trọng
(%)
Tăng
so
2007
Tổng dư nợ cho vay
và đầu tư
4499 4359 4544
1. Dư nợ cho vay 2776 100% 3100 100% 12% 3882 100% 25%
Theo
thời
gian
+dư nợ
ngắn hạn
895 32% 1008 33% 13% 1591 41% 58%
+Dư nợ
trung và
dài hạn
1881 68% 2092 67% 11% 2291 59% 10%
Theo
loại
tiền
tài sản đảm
bảo
1211 39% 2252 58% 86%
2. Nợ quá hạn 547
(Nguồn: báo cáo tổng kết thường niên của Sở giao dịch 1 Ngân hàng Công thương )
Nhìn chung trong những năm qua tình hình hoạt động của Sở giao dịch 1 có
những thay đổi nhất định trong cơ cấu huy động vốn cũng như hoạt động tín dụng.
Sư thay đổi này là hợp lý giúp ngân hàng đứng vững trong thời buổi khó lường về
mọi mặt của nền kinh tế.
SVTH: ĐÀO VĂN NGỌC KTĐT47B
1.2 Thực trạng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Sở giao dịch 1 Ngân
hàng Công thương Việt Nam
1.2.1 Sự cần thiết của việc thẩm định tài chính dự án đầu tư
Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ, hoạt động tín dụng là chủ yếu và
phải đối mặt với vô số những rủi ro, có thể gây thiệt hại lớn cho ngân hàng. Do
vậy để tồn tại, đặc biệt là trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với đặc điểm
là tự do cạnh tranh và tính cạnh tranh lại rất cao, thì Ngân hàng cũng như các
pháp nhân khác trong nền kinh tế phải tự tìm kiếm các phương cách, giải pháp
cho riêng mình để ngăn ngừa các rủi ro có thể nẩy sinh. Thẩm định dự án đầu tư
trong công tác hoạt động của Ngân hàng chính là một trong những biện pháp cơ
bản nhằm phòng ngừa rủi ro trong quá trình cho vay vốn đầu tư tại Ngân hàng.
Thẩm định dự án đầu tư là qúa trình phân tích, đánh giá toàn diện các khía cạnh
của một dự án đầu tư để ra các quyết định đầu tư cho phép đầu tư hoặc tài trợ.
Thẩm định dự án xét trên các mục tiêu khác nhau sẽ có những nội dung cần
chú ý khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng thẩm định. Như Về phía nhà đầu tư :
Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ đi sâu vào làm rõ các vấn đề này, giúp
doanh nghiệp lựa chọn phương án tốt nhất mang lại hiệu quả cao nhất hoặc đưa
ra những ý kiến xác đáng gợi ý cho chủ đầu tư để dự án có tính khả thi cao hơn.
Hay Về phía xã hội và các cơ quan hữu quan : các quyết định phải tiến hành
kiểm tra, thẩm định dự án, so sánh các dự án với nhau để lựa chọn được đầu tư
hiệu quả tài chính mà dự án mang lại cũng như khả năng trả nợ của dự án.
Với mục tiêu hoạt động là an toàn và sinh lời, do đó Ngân hàng chỉ cho vay
đối với các dự án có hiệu quả tài chính tức là dự án mang lại lợi nhuần và khả
năng trả nợ thì ngân hàng mới có thể thu hồi được gốc và lãi, khoản cho vay mới
đảm bảo, Ngân hàng mới có được khoản vay có chất lượng.
1.2.2 Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư
Ngân hàng Công thương Việt Nam đã soạn thảo quy trình cho vay và quản
lý tín dụng với mực dịch giúp cho quá trình cho vay diễn ra thống nhất, khoa
học nhằm hạn chế, phòng ngừa rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng đáp ứng
tốt nhất nhu cầu vay vốn cho các dự án. Sau đây là quy trình thẩm định cho vay
doanh nghiệp của Sở giao dịch 1 Ngân hàng Công thương Việt Nam.
SVTH: ĐÀO VĂN NGỌC KTĐT47B
1.2.2.1 Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn
Cán bộ tín dụng tiếp nhận hồ sơ của khách hàng và hướng dẫn cung cấp thông
tin cho khách hàng về hồ sơ, quy trình và quy định của Ngân hàng mà khách hàng
phải đáp ứng về điều kiện vay vốn và tư vấn những vấn đề liên quan.
Sau khi kiểm tra, nếu hồ sơ của khách hàng đầy đủ, cán bộ tín dụng báo cáo
trưởng phòng tín dụng và tiếp tục các bước trong quy trình.
1.2.2.2 Thẩm định các điều kiện vay vốn
+ Kiểm tra hồ sơ vay vốn và mục địch vay vốn:
Cán bộ tín dụng kiểm tra hồ sơ vay vốn như: xác minh quyền hạn, trách
nhiệm của các bên thông qua các biên bản, hợp đồng liên doanh, xác minh các
chức danh trong doanh nghiệp, xác định người đại diện…Cán bộ tín dụng xem
xét tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ, xem xét báo cáo tài chính và phương án sản
xuất kinh doanh, dự án đầu tư, khả năng trả nợ, nguồn trả và kiểm tra về sự phù
hợp ngành nghề kinh doanh. Kiểm tra mục đích vay vốn: thuộc đối tượng cho
vay không, mục đích có hợp pháp không…
+ Điều tra, thu thập, tổng hợp thông tin về khách hàng và phương án sản xuất
kinh doanh, dự án đầu tư.
Cán bộ tín dụng tìm hiểu thêm về ban lãnh đạo, tình trạng nhà xưởng, máy
Phòng
kế toán
Giám
đốc
Hội
đồng
tín
dụng
Thiếu
Duyệt
Đủ
SVTH: ĐÀO VĂN NGỌC KTĐT47B
Khách
hàng
Tiếp
nhận
hồ sơ
Thẩm
định
Xác định
điều kiện
thanh toán
Tham
gia khi
có dề
nghị
-Nguồn
vốn
-Hiệu quả
dự án
sản xuất kinh doanh, mô hình tổ chức, bố trí lao động trong doanh nghiệp.
+ Phân tích đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tài chính, đánh giá các
quan hệ với các tổ chức tài chính như: dư nợ ngắn, trung và dài hạn, doanh số
cho vay, thu nợ, diễn biến các khoản vay, mưc độ tín dụng và vòng quay của nó.
+ Dự kiến lợi ích của ngân hàng nếu khoản vay được phê duyệt: cán bộ tín dụng
tính các khoản lãi phí các lợi ích có thể thu được, phải xem xét các lợi ích một
cách tổng thể khi thiết lập quan hệ tín dụng với khách hàng.
+ Phân tích thẩm định phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư đưa ra kết
luận về tính khả thi, hiệu quả của dự án, khả năng trả nợ và các rủi ro có thể xảy ra
phục vụ cho viêc quyết định cho vay hoạc từ chối cho vay, là cơ sở cho cán bộ tín
dụng góp ý, tư vấn cho khách hàng vay , tạo tiền đề bảo đảm hiệu quả cho vay, thu
được nợ gốc đúng hạn, hạn chế phòng ngừa rủi ro, là cơ sở xác định số tiền cho
vay, thời gian , tiến độ giải ngân;… Và thẩm định tài sản đảm bảocho khoản vay.
+ Xem xét phương thức cho vay: Lựa chọn phương thức cho vay phải phù hợp
đặc diểm sản xuất kinh doanh và luân chuyển vốn của khách hàng
1.2.2.3 Thẩm định tài chính: Xem xét khả năng nguồn vốn, điều kiện thanh toán
và xác định lãi suất cho vay
Cán bộ tín dụng xét khả năng nguồn vốn và phối hợp với bộ phận phụ trách
nguồn vốn để cân đối nguồn vốn với những khoản vay lớn, dự tính khả năng
chuyể đổi ngoại tệ đối với những khoản vay thanh toán ngoại tệ
Cán bộ tín dụng tổn hợp các số liệu để tính toán và xác định lãi suất cho vay áp
dụng cho khoản vay, xác định điều kiện thanh toán và hình thức thanh toán
1.2.2.4 Lập tờ trình thẩm định cho vay
Tờ trình của cán bộ tín dụng và thẩm định dự án được đưa lên trưởng phòng
tín dụng các nội dung đã thẩm định
1.2.2.5 Tái thẩm định khoản vay
Ít nhất hai cán bộ tham gia tái thẩm định, có ít nhất một phó phòng tín dụng
là thành viên, tổ thẩm định xem xét lại toàn bộ hồ sơ vay vốn một cách độc lập,
mọi sự khác biệt phải được đưa ra xem xét
SVTH: ĐÀO VĂN NGỌC KTĐT47B
SVTH: ĐÀO VĂN NGỌC KTĐT47B
Trong việc sử dụng các phương pháp so sánh cần lưu ý các chỉ tiêu dùng để
tiến hành so sánh cần phải được vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ
thể của từng dự án và doanh nghiệp. Cần hết sức tranh thủ ý kiến của các cơ
quan chuyên môn, chuyên gia (kể cả thông tin trái ngược). Tránh khuynh hướng
so sánh máy móc, cứng nhắc, dập khuôn.
1.2.3.2 Phương pháp thẩm định theo trình tự
Trong phương pháp này, việc thẩm định dự án được tiến hành theo một
trình tự biện chứng từ tổng quát đến chi tiết, lấy kết luận trước làm tiền đề cho
kết luận sau.
- Thẩm định tổng quát: là việc xem xét một cách khái quát các nội dung cơ bản
thể hiện tính pháp lý, tính phù hợp, tính hợp lý của dự án. Thẩm định tổng quát cho
phép hình dung khái quát dự án, hiểu rõ quy mô, tầm quan trọng của dự án trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, xác định các căn cứ pháp lý của
dự án đảm bảo khả năng kiểm soát được của bộ máy quản lý dự án dự kiến.
- Thẩm định chi tiết: là việc xem xét một cách khách quan, khoa học, chi tiết
từng nội dung cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi, tính hiệu quả, tính
hiện thực của dự án trên các khía cạnh pháp lý, thị trường, kỹ thuật công nghệ,
môi trường, kinh tế… phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong
từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Trong giai đoạn thẩm định chi tiết, cần đưa ra những ý kiến đánh giá đồng ý
hay sửa đổi bổ xung hoặc không thể chấp nhận được. Khi tiến hành thẩm định
chi tiết sẽ phát hiện được các sai sót, kết luận rút ra từ nội dung trước có thể bác
bỏ toàn bộ dự án mà không cần đi vào thẩm định các nội dung còn lại của dự án.
1.2.3.4 Phương pháp thẩm định dựa trên việc phân tích độ nhạy của dự án.
Phương pháp này thường dùng để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tài
chính của dự án. Cơ sở của phương pháp này là dự kiến một số tình huống bất
trắc có thẩy xảy ra trong tương lai đối với dự án rồi khảo sát tác động của những
yếu tố đó đến hiệu quả đầu tư và khả năng hoà vốn của dự án.
Mức độ sai lệch so với dự kiến của các bất trắc là tuỳ thuộc vào điều kiện cụ
các kết luận hợp lý, chính xác về thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án. Thẩm
định thị trường là tiền đề cho việc thực hiện các bước thẩm định tiếp theo. Thẩm
SVTH: ĐÀO VĂN NGỌC KTĐT47B
định thị trường giúp nhà đầu tư lựa chọn mục tiêu, xác định rõ phương hướng và
quy mô của dự án.
Thẩm định thị trường bao gồm các nội dung sau:
- Thẩm định nhu cầu hiện tại và tương lai về sản phẩm của dự án trên thị trường dự
kiến xâm nhập chiếm lĩnh: Xác định xem ai là khách hàng tiềm năng, ai là khách hàng
mới, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trong hiện tại và tương lai, mức gia tăng nhu cầu hàng
năm về sản phẩm của dự án.
- Thẩm định các nguồn và các kênh đáp ứng nhu cầu: Mức độ đáp ứng nhu cầu hiện
tại, xác định khối lượng sản phẩm của dự án dự kiến bán ra hàng năm
- Thẩm định các yếu tố về sản phẩm: Chất lượng, giá bán, quy cách, hình thức trình
bày, dịch vụ sau khi bán sản phẩm của dự án…
- Thẩm định các vấn đề về tiêu thụ sản phẩm: Các cơ sở tiếp thị và phân phối sản
phẩm, chi phí cho công tác tiếp thị và phân phối sản phẩm, kênh phân phối dự kiến
( bán trực tiếp, bán qua các đại lý..), phương thức thanh toán…
-Xem xét các vấn đề về cạnh tranh: Các đối thủ cạnh tranh, mức độ cạnh tranh trên thị
trường, lợi thế so sánh ( về chi phí sản xuất, kiểu dáng, chất lượng, giá cả…)và khả
năng thắng trong cạnh tranh của sản phẩm dự án.
- Thẩm định mức độ thâm nhập, chiếm lĩnh thị trường của dự án trong suốt thời
gian tồn tại.
1.2.4.2 Thẩm định kỹ thuật
Là việc phân tích mặt kỹ thuật của dự án. Thẩm định kỹ thuật là công việc
phức tạp, đòi hỏi phải có các chuyên gia kỹ thuật chuyên sâu về từng khía cạnh
kỹ thuật của dự án. Sự đúng đắn trong thẩm định kỹ thuật sẽ quyết định tính khả
thi của dự ánvề mặt kỹ thuật, làm cơ sở để tiếp tục các bước thẩm định tiếp theo,
nhằm đưa ra quyết định đầu tư chính xác cho chủ doanh nghiêp.
Nội dung của thẩm định kỹ thuật gồm:
- Mô tả sản phẩm sẽ sản xuất của dự án: Đặc điểm của sản phẩm chính, sản
thông, thông tin liên lạc.. của dự án phải được xem xét, nó có ảnh hưởng đến chi
phí đầu tư và chi phí sản xuất hay không.
SVTH: ĐÀO VĂN NGỌC KTĐT47B
- Xem xét lựa chọn địa điểm thực hiện dự án: Các khía cạnh về địa lý, điều kiện
tự nhiên, kinh tế, xã hội, kỹ thuật… có liên quan đến sự hoạt động và hiệu quả h
oạt động của dự án.
- Thẩm định kỹ thuật xây dựng công trình của dự án: Tìm các giải pháp kỹ thuật xây
dựng vừa đảm bảo yêu cầu sản xuất sau này, vừa rút ngắn được thời gian xây dựng
công trình, mau chóng đưa công trình vào sử dụng, vừa đảm bảo chi phí xây dựng
công trình phải căn cứ vào yêu cầu về đặc tính kỹ thuật của máy móc, thiết bị, dây
chuyền sản xuất, cơ sở hạ tầng, cách tổ chức điều hành, nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu
và sản phẩm, về lao động sẽ sử dụng.
- Thẩm định tiến độ thi công dự án: Việc lập lịch trình thực hiện dự án phải đảm bảo
dự án đi vào hoạt động đúng thời gian dự định.
- Thẩm định vấn đề xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường: Xác định các chất thải có
khả năng gây ô nhiễm môi trường của dự án. Lựa chọn phương pháp và phương tiện
xử lý chất thải căn cứ vào điều kiện cụ thể về luật bảo vệ môi trường tại địa phương,
địa điểm và quy mô hoạt động của dự án, loại chất thải, chi phí để xử lý chất thải…
1.2.4.3 Thẩm định tổ chức, quản lý dự án.
Là việc phân tích mặt tổ chức, quản lý nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của dự án.
Cần phân tích nội dung sau:
- Xây dựng bộ máy tổ chức, quản lý dự án đảm bảo các nguyên tắc sau:
Các mục tiêu của dự án phải được quy định và hiểu rõ.
Thống nhất về chức năng.
Tổ chức phải tinh gọn, mối quan hệ giữa các bộ phận phải rõ ràng.
Mọi cá nhân phải thực hiện tốt các công việc thuộc trách nhiệm củamình.
Mọi cá nhân đều có quyền hạn tương xứng với trách nhiệm được trao để có thể hoàn
thành nhiệm vụ của mình.
Sự giám sát và lãnh đạo phải được xác lập đối với mọi hoạt động của dự án để đạt
được mục tiêu đã định.
phần chống ô nhiễm môi trường, cải tạo môi sinh…hoặc đo lường bằng cách
SVTH: ĐÀO VĂN NGỌC KTĐT47B
tính toán định lượng như mức tăng thu cho ngân sách, mức gia tăng số người
có việc làm, mức tăng thu ngoại tệ…
Những chi phí mà xã hội phải bỏ ra cho việc thực hiện dự án cũng được xem
xét trên khía cạnh mang tính chất định tính và định lượng.
Khi thẩm định kinh tế - xã hội dự án cần căn cứ vào các mục tiêu chủ yếu sau:
Nâng cao mức sống của dân cư được thể hiện gián tiếp qua các số liệu cụ thể
về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng tích luỹ vốn, mức gia tăng
đầu tư, tốc độ phát triển, tốc độ tăng trưởng…
Phân phối lại thu nhập thể hiện qua sự đóng góp của dự án vào việc phát
triển các vùng kinh tế, nâng cao đời sống của tầng lớp dân cư nghèo.
Gia tăng số lao động có việc làm.
Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ.
Nâng cao năng suất lao động, đào tạo lao động có trình độ tay nghề cao, tiếp
nhận chuyển giao công nghệ hoàn thiện cơ cấu sản xuất của nền kinh tế.
Phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo có tác dụng thúc đẩy sự phát triển
của các ngành khác.
1.2.4.5 Thẩm định tài chính dự án
Là thẩm định dự án dưới giác độ của doanh nghiệp. Đó là việc xem xét đánh
giá và đưa ra những con số cụ thể về khả năng sinh lợi của vốn đầu tư. Thẩm định
tài chính dự án cho phép nhà đầu tư đánh giá tính khả thi về mặt tài chính của dự
án.Do đó, có thể đưa ra được kết luận cuối cùng về tính khả thi của dự án đầu tư
phải xem xét khả năng sinh lợi của vốn đầu tư, tính toán các giá trị biểu hiện khả
năng này được dựa trên dòng tiền ròng của dự án. Cụ thể hơn, nhà đầu tư phải
tiến hành thẩm định các khía cạnh liên quan đến giá trị dòng tiền vào và dòng tiền
ra của dự án.
Điều quan trọng trong thẩm định tài chính dự án là phải xây dựng được một
hệ thống định mức tiêu chuẩn các chỉ tiêu thông qua việc nghiên cứu kỹ thị
trường cũng như mặt bằng hàng hóa, dịch vụ cung ứng ở thời điểm tiến hành triển