Phát triển cho vay tiêu dùng tại Sở giao dịch 1-Ngân hàng Công thương Việt Nam. - Pdf 26

LỜI NÓI ĐẦU
Sau sự kiện việt Nam ra nhập WTO vào tháng 11/2006 thì sự cạnh
tranh trong lĩnh vực Tài chính –Ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt ,quyết
liệt hơn. Điều này vừa tạo ra những cơ hội cho các Ngân hàng Thương mại
(NHTM) Việt Nam phát triển và tự khẳng định mình nhưng đồng thời nó
cũng tạo ra những thách thức lớn mà các ngân hàng phải đối đầu.Trong điều
kiện cạnh tranh quyết liệt như vậy,khi thị phần của ngân hàng dần bị chiếm
chỗ bởi các định chế tài chính khác , các NHTM việt Nam cần phải làm gì
để phát triển nhanh và bền vững ?
Chiến lược “Ngân hàng Bán lẻ” chính là một hướng đi mới mà các
NHTM Việt Nam đã tìm ra và đang trong những bước đầu của quá trình thực
hiện.
Ngân hàng bán lẻ được hiểu là ngân hàng cung cấp các dịch vụ trực tiếp
cho các doanh nghiệp,hộ gia đình và các cá nhân với quy mô các khoản giao
dịch nhỏ,bao gồm :Tiền gửi tiết kiệm; Tài khoản ATM ;Cho vay thế chấp ;
Cho vay tiêu dùng cá nhân …
Tuy nhiên trong điều kiện công nghệ &cơ sở vật chất còn yếu,các NHTM
Việt Nam đã lựa chọn thực hiện hoạt động Cho vay tiêu dùng trước tiên và
coi đó là bước đi ban đầu an toàn và hiệu quả trong chiến lược “Ngân hàng
Bán lẻ”
Thêm vào đó ,cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ,các sản
phẩm ,dịch vụ tiêu dùng ngày càng trở nên phong phú , đa dạng,phù hợp với
nhu cầu của người tiêu dùng .Tuy nhiên ,với mức thu nhập như hiện
nay,phần lớn người tiêu dùng không thể chi trả cho tất cả các nhu cầu mua
sắm cùng lúc , đặc biệt là những vật dụng đắt tiền.Nếu người tiêu dùng có
thể vay được tiền từ ngân hàng thì họ có thể thoả mãn được nhu cầu của họ
ngay trong hiện tại . Điều đó làm tăng sự tiêu dùng hàng hoá ,thúc đẩy hoạt
động sản xuất kinh doanh của các hãng,tạo nhiều công ăn việc làm cho
người lao động ,góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của toàn xã
hội một cách nhanh chóng .Do đó,với việc thực hiện hoạt động cho vay tiêu
dùng ,một mặt có thể thực hiện tốt nhiệm vụ kích cầu cho nền kinh tế,tạo

Hoạt động cho vay có thể được hiểu “là một giao dịch về tài sản(tiền
hoặc hàng hoá),giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác)
và bên đi vay(cá nhân,doanh nghiệp và các chủ thể khác),trong đó: Bên cho
vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định
theo thoả thuận ,Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và
lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”
Dựa trên những tiêu thức khác nhau thì người ta có thể phân chia cho vay
làm nhiều loại như: Cho vay theo “Mức độ tín nhiệm khách hàng” (gồm có:
Cho vay có bảo đảm và cho vay không có bảo đảm) ;Cho vay theo “Đối
tượng tham gia vào quy trình cho vay”(gồm có: cho vay trực tiếp và cho vay
gián tiếp ) ; Và dựa trên tiêu thức “Mục đích sử dụng vốn” thì cho vay gồm
có :Cho vay sản xuất kinh doanh và cho vay tiêu dùng.
Nếu Cho vay SXKD là hoạt động ngân hàng cho các tổ chức ,doanh
nghiệp hay các công ty vay để kinh doanh dịch vụ hay thực hiện các dự án
đầu tư,các phương án sản xuất thì Cho vay tiêu dùng lại là hình thức tài trợ
cho nhu cầu chi tiêu.
Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người vay trang trải nhu cầu
nhà ở, đồ dùng gia đình , xe cộ…Bên cạnh đó ,những chi tiêu cho nhu cầu
giáo dục ,y tế và du lịch cũng có thể được tài trợ bởi CVTD .Như vậy ,bằng
việc CVTD các ngân hàng sẽ giúp các cá nhân,hộ gia đình thoả mãn nhu cầu
trước khi họ có khả năng chi trả .
Do đó ,ta có thể đưa ra một khái niệm mang tính tổng quát về CVTD tại
NHTM như sau:
“Cho vay tiêu dùng là một hình thức cho vay,qua đó Ngân hàng chuyển cho
khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình) quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền)
trong một khoảng thời gian nhất định ,với những thoả thuận mà hai Bên đã kí
kết (về số tiền cấp; thời gian cấp; lãi suất phải trả …) nhằm giúp cho khách
hàng có thể sử dụng những hàng hoá và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi
trả ,tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một cuộc sống cao hơn”
1.1.2: Đối tượng của CVTD.

ra mức lãi suất cho vay cố định này các ngân hàng sẽ phải dự tính đến :yếu
tố lãi suất huy động đầu vào (có xu hướng thay đổi như thế nào ?); tính đến
phần bù rủi ro và chi phí . Tuy qui mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng
các khoản vay lớn nên tổng chi phí lớn.Hơn nữa ,CVTD còn được xem là
tiềm ẩn nhiều rủi ro nên phần bù rủi ro cũng khá cao.Vì thế , lãi suất CVTD
thường cao và cố định.
1.1.3.3: CVTD có tính nhạy cảm theo chu kỳ.
Thật vậy ,số lượng các khoản CVTD phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng của
dân cư và cầu có khả năng thanh toán của họ .Do đó,nó có tính nhạy cảm
theo chu kỳ .Số lượng các khoản CVTD sẽ tăng lên trong thời kỳ kinh tế
phát triển .Lúc này,người dân có mức thu nhập tương đối cao và ổn định,tình
hình hình kinh tế xã hội đầy lạc quan.Và ngược lại ,trong thời kỳ nền kinh tế
rơi vầo suy thoái,rất nhiều cá nhân và hộ gia đình sẽ cảm thấy không mấy tin
tưởng vào tương lai ,nhất là khi họ thấy thu nhập cuả họ giảm xuống.Lúc
này,mọi người có xu hướng tiết kiệm hơn là tiêu dùng .Do đó, việc vay ngân
hàng nói chung và vay tiêu dùng nói riêng sẽ hạn chế, làm cho số lượng các
khoản CVTD giảm xuống trầm trọng .
1.1.3.4: Đặc điểm về rủi ro.
Nhìn chung,các khoản CVTD có độ rủi ro cao vì bên cạnh sự ảnh hưởng
của các yếu tố khách quan như môi trường kinh tế,văn hoá ,xã hội… nó còn
chịu tác động của những nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân khách hàng.
Trong cuộc sống chúng ta không thể lường trước được hết hậu quả do
những rủi ro khách quan như suy thoái kinh tế,mất mùa ,thiên tai…Đặc
biệt,hoạt động CVTD phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế .Khi nền kinh tế suy
thoái thì người tiêu dùng sẽ không thấy tin tưởng vào tương lai và cùng với
những lo lắng về thu nhập,nguy cơ thất nghiệp,họ sẽ hạn chế việc vay mượn
từ ngân hàng .
Ngoài ra,CVTD còn chịu một số rủi ro chủ quan như tình trạng sức
khoẻ,khả năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình…Điều đó tạo nên rủi ro lớn
cho ngân hàng ,hơn nữa thông tin tài chính của đối tượng này rất khó đầy đủ

vai trò quan trọng của hoạt động CVTD đối với các NHTM.Vai trò ấy được
khái quát như sau:
-CVTD tạo điều kiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ đó góp phần
giúp các NHTM tăng khả năng cạnh tranh,nâng cao thu nhập và phân tán
được rủi ro.
Trong điều kiện ngày nay,khi mà sự cạnh tranh trong lĩnh vực Tài chính-
Ngân hàng ngày càng gay gắt ,quyết liệt thì vai trò của CVTD thực sự quan
trọng đối với các NHTM ,bởi nó góp phần tăng khả năng cạnh tranh giữa
các ngân hàng so với các định chế tài chính khác .CVTD ,nếu xét về tổng
quy mô thì mức độ rủi ro của nó lớn (do quy mô lớn ) ,nhưng thực tế do quy
mô của mỗi khoản cho vay thường nhỏ và số lượng các khoản vay tiêu dùng
lớn nên ngân hàng có thể phân tán được rủi ro tốt hơn .Hơn nữa,do lãi suất
CVTD thường cao nên thu nhập của các NHTM từ hoạt động CVTD thường
rất lớn.
-CVTD giúp các NHTM mở rộng quan hệ với khách hàng.
Do tính lan truyền trong dân cư là rất cao nên các Ngân hàng có thể
thông qua các khoản cho vay tiêu dùng mà quảng cáo về mình, từ đó thu hút
các khách hàng đến với các dịch vụ khác của Ngân hàng. Trong khi đó các
khoản tín dụng tiêu dùng tuy là những khoản tín dụng nhỏ nhưng nhu cầu về
chúng lại rất lớn nên nếu khai thác được thị trường này thì các Ngân hàng
thương mại có thể sử dụng được một số lượng vốn lớn. Hơn nữa, dân cư là
khách hàng tiềm năng lớn của Ngân hàng, để phát triển bền vững thì các
ngân hàng cần phải dựa vào nhóm đối tượng này.
1.1.4.3: Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với nền kinh tế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ,các sản phẩm ,dịch vụ
tiêu dùng ngày càng trở nên phong phú , đa dạng,phù hợp với nhu cầu của
người tiêu dùng .Tuy nhiên ,với mức thu nhập như hiện nay,phần lớn người
tiêu dùng không thể chi trả cho tất cả các nhu cầu mua sắm cùng lúc , đặc
biệt là những vật dụng đắt tiền.Nếu người tiêu dùng có thể vay được tiền từ
ngân hàng thì họ có thể thoả mãn được nhu cầu của họ ngay trong hiện tại .

cho vay tiêu dùng bất động sản. Đối với loại cho vay này, yếu tố quyết định
cho vay hay không là khả năng trả nợ của người vay, sau đó mới xem xét
đến giá trị tài sản đảm bảo.
1.2.2: Căn cứ theo phương thức hoàn trả :
Nếu dựa trên tiêu thức này thì CVTD được phân thành: CVTD trả góp và
CVTD phi trả góp.
1.2.2.1:Cho vay tiêu dùng trả góp:
Hình thức này chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng CVTD của các ngân hàng
bởi tính hợp lý của nó.Theo hình thức này ,người đi vay trả nợ cho ngân
hàng (gồm cả gốc và lãi ) theo nhiều lần ,theo những kỳ hạn nhất định do
ngân hàng qui định (tháng hoặc quý).Hình thức này áp dụng cho các khoản
vay có giá trị lớn hoặc với những khách hàng mà thu nhập định kỳ của họ
không đủ để thanh toán hết số nợ trong một lần.
Khi áp dụng loại cho vay này thì ngân hàng phải quan tâm đến những vấn
đề cơ bản sau :
*Loại tài sản được tài trợ :
Thông thường ,thiện chí của người vay sẽ tốt hơn khi tài sản hình thành từ
tiền vay thoả mãn nhu cầu của họ trong tương lai .Khi lựa chọn tài sản để tài
trợ ,ngân hàng thường chú ý đến điều này vì ngân hàng thường chỉ muốn tài
trợ cho nhu cầu mua sắm những tài sản có thời gian sử dụng lâu dài và có
giá trị lớn bởi vì có như vậy người tiêu dùng mới được hưởng những tiện ích
do tài sản đem lại trong một khoảng thời gian dài.
* Số tiền phải trả trước.
Thông thường ngân hàng sẽ yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước một
phần giá trị tài sản cần mua sắm (khoảng 20-30%). Đây là số tiền phải trả
trước, phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay .Số tiền ứng trước này phải đủ lớn
để một mặt làm cho người đi vay nghĩ rằng chính họ là chủ sở hữu tài sản để
họ có thái độ sử dụng tài sản một cách đúng đắn , cẩn thận .Mặt khác,số tiền
này phần nào hạn chế được rủi ro cho ngân hàng.
* Điều kiện thanh toán .

+ Phương pháp luỹ thoái ( phân bổ lãi giảm dần ), áp dụng cho các khoản
vay trung và dài hạn.
* Vấn đề trả nợ trước hạn.
Khi người vay trả nợ trước hạn ,có thể xảy ra một trong hai trường hợp sau:
+ nếu tiền trả góp theo phương pháp lãi đơn thì vấn đề rất đơn giản ,người
đi vay chỉ phải thanh toán toàn bộ gốc còn thiếu và lãi vay của kỳ hạn hiện
tại cho ngân hàng .
+ Nếu tiền lãi được tính bằng phương pháp lãi gộp thì vấn đề sẽ phức tạp
hơn vì theo phương pháp này, lãi được tính dựa trên giả định “ Người vay sẽ
sử dụng tiền vay cho đến khi kết thúc hợp đồng tín dụng” .Khi khách hàng
trả nợ trước hạn thì thời hạn khách hàng nợ thực tế khác thời hạn nợ ghi
trong hợp đồng và như vậy số tiền lãi phải trả cũng có sự thay đổi. Khi đó,
ngân hàng sẽ phải sử dụng phương pháp “Phân bổ lãi cho vay theo thời
gian” ,dựa trên thời hạn nợ thực tế để tính số lãi thực tế phải thu.
1.2.2.2: Cho vay tiêu dùng phi trả góp.
* Cho vay tiêu dùng trả một lần.
Đây là hình thức tài trợ mà theo đó số tiền đi vay của khách hàng sẽ được
thanh toán một lần khi hợp đồng tín dụng đến hạn. Đặc điểm của khoản tín
dụng này thường là có qui mô nhỏ và thời hạn vay ngắn .Hình thức cho vay
này được ngân hàng áp dụng vì nó giúp ngân hàng không mất nhiều thời
gian như khi ngân hàng tiến hành thu nợ làm nhiều kỳ.Tuy nhiên , người tiêu
dùng lại không ưa thích hình thức này do nó không có tính hợp lý như hình
thức CVTD trả góp nên trong thực tế những khoản CVTD cấp theo hình
thức này không nhiều.
* Cho vay tiêu dùng tuần hoàn .
Đây là các khoản CVTD, trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử
dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc thấu chi dựa trên tài khoản vãng
lai.Theo phương pháp này thì trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước,
căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng
được ngân hàng cho phép thực hiện việc cho vay và trả nợ nhiều kỳ một

Theo tiêu thức này, CVTD được phân làm hai loại là : CVTD trực tiếp và
CVTD gián tiếp.
1.2.4.1: Cho vay tiêu dùng trực tiếp.
Đây là hình thức cho vay ,trong đó ngân hàng tiếp xúc trực tiếp với khách
hàng của mình, việc thu nợ cũng được tiến hành trực tiếp bởi chính ngân
hàng .CVTD trực tiếp thường được thể hiện theo sơ đồ sau:
Trong đó:
(1). Ngân hàng và người tiêu dùng ký HĐTD với nhau
(2). Người tiêu dùng trả trước cho công ty bán lẻ một phần số tiền mua hàng
Hoá của mình.
(3).Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ.
(4).Công ty bán lẻ giao hàng cho người tiêu dùng.
(5). Người tiêu dùng thanh toán số tiền vay cho ngân hàng.
Hình thức cho vay tín dụng trực tiếp tồn tại cả ưu điểm và nhược điểm.
* Ưu điểm:
+ Hình thức này rất linh hoạt vì có sự đàm phán trực tiếp giữa ngân hàng
và khách hàng, quyết định có vay hay không hoàn toàn do ngân hàng quyết
định ,ngoài ra ,ngân hàng có thể sử dụng triệt để trìng độ kiến thức ,kinh
nghiệm của CBTD để tìm kiếm các khoản cho vay có chất lượng.
+ Khi khách hàng quan hệ trực tiếp với ngân hàng ,có nhiều khả năng
khách hàng sẽ sử dụng thêm các dịch vụ khác cuả ngân hàng như: dịch vụ
chuyển tiền, mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm…Và như vậy ,quan hệ giữa
ngân hàng và khách hàng được mở rộng.
*Nhược điểm:
Ngân hàng sẽ gặp nhiều rủi ro nếu ngân hàng không có quan hệ tốt với
công ty bán lẻ. Trong thực tế có nhiều trường hợp đã có sự câu kết giữa
người tiêu dùng và công ty bán lẻ nhằm tăng giá trị của tài sản mua sắm .Giá
trị giả này lớn hơn giá trị thực của tài sản mua sắm nên số tiền còn thiếu mà
ngân hàng thanh toán cho công ty bán lẻ cũng cao hơn.Do đó, nếu có rủi ro,
người người tiêu dùng không trả nợ được cho ngân hàng,trong nhiều trường

Theo phương thức này ,trách nhiệm của công ty bán lẻ đối với các khoản
nợ của khách hàng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn trong một chừng
mực nhất định ,phụ thuộc vào các điều khoản đã thoả thuận giữa Công ty
bán lẻ và ngân hàng trong Hợp đồng mua bán nợ.
* Tài trợ miễn truy đòi:
Theo phương thức này, sau khi bán các khoản nợ cho ngân hàng ,Công ty
bán lẻ không còn chịu trách nhiệm cho việc liệu người tiêu dùng có thanh
toán nợ cho ngân hàng hay không ? Với ngân hàng ,phương thức này chứa
nhiều rủi ro nên chi phí của khoản vay này được ngân hàng tính cao hơn so
với các phương thức trên và những khoản nợ được mua cũng được ngân
hàng lựa chọn rất kỹ.Ngoài ra, chỉ có những có những công ty bán lẻ rất có
uy tín với ngân hàng mới được áp dụng phương thức này.
* Tài trợ có mua lại.
Theo phương thức này, khi thực hiện CVTD gián tiếp với hình thức “Tài
trợ miễn truy đòi” hoặc “ Tầi trợ truy đòi hạn chế” ,nếu rủi ro xảy ra, người
tiêu dùng không thanh toán được nợ cho ngân hàng thì ngân hàng buộc phải
thanh lý tài sản để thu hồi nợ. Trong trường hợp này, nếu có thoả thuận trước
thì ngân hàng có thể bán lại cho chính Công ty bán lẻ phần nợ mình chưa
được thanh toán, kèm theo tài sản đã được người tiêu dùng sử dụng trong
một thời gian .Phương thức này phù hợp với các công ty bán lẻ mạnh về tài
chính và có trách nhiệm .Với phương thức này, Công ty bán lẻ ít có rủi ro
hơn so với phương thức “Tài trợ truy đòi hoàn toàn”.
So với phương thức CVTD trực tiếp thì CVTD gián tiếp có những ưu
điểm và nhược điểm như sau:
* Ưu điểm:
Theo hình thức này, ngân hàng sẽ có điều kiện tiếp xúc được với một
lượng khách hàng khá đông đảo, khắc phục được tâm lý e ngại của họ khi
tìm đến với ngân hàng. Điều đó, giúp ngân hàng tiết kiệm được chi phí trong
việc cấp tín dụng vì ngân hàng chỉ phải ký hợp đồng với chính công ty bán
lẻ mà thôi. Việc cấp tín dụng kiểu này cũng giúp ngân hàng giảm thiểu rủi

hoạt động CVTD nói riêng. Nó có thể là điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạt
động CVTD hoặc ngược lại. Môi trường kinh tế bao gồm : Trình độ phát
triển kinh tế ;Thu nhập bình quân trên đầu người; Tỷ lệ xuất-nhập khẩu; Tỷ
lệ lạm phát…
Chúng ta đã biết, nhu cầu CVTD hàng hoá ,dịch vụ của dân cư phụ thuộc
rất lớn vào tình trạng của nền kinh tế. Khi nền kinh tế đang trong giai đoạn
phát triển, hưng thịnh, tốc độ tăng trưởng cao và ổn định , mức sống của dân
cư ngày càng cao thì nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng ,bởi vì họ tin tưởng vào thu
nhập của mình trong tương lai có thể chi trả được các khoản nợ .Vì vậy, hoạt
động CVTD của ngân hàng trong giai đoạn này sẽ tăng lên. Ngược lại,khi
nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, không ổn định thì nhu cầu chi tiêu sẽ
giảm, do lúc này người dân có xu hướng tích luỹ hơn là tiêu dùng, bởi vậy
CVTD trong thời kỳ này sẽ giảm.
1.3.1.2: Môi trường pháp lý:
Mỗi một chủ thể trong xã hội đều có quyền tự do làm theo ý thích của
mình, việc họ muốn làm gì, muốn mua gì là phụ thuộc vào bản thân của họ,
song phải trong khuôn khổ mà pháp luật của quốc gia đó cho phép.Vì vậy,
các hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động CVTD nói riêng cũng
nằm trong phạm vi khuôn khổ của pháp luật, nó cũng phải tuân theo những
qui định của Nhà nước, luật các tổ chức ín dụng, luật dân sự và các qui định
khác. nếu những qui định của pháp luật không rõ ràng,không đồng bộ,
không kịp thời và còn nhiều kẽ hở thì sẽ gây rất nhiều khó khăn cho NHTM.
Ngược lại, nếu những văn bản pháp luật qui định rõ ràng, đầy đủ, đồng bộ
và kịp thời thì sẽ tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc, góp phần vào sự
phát triển của hệ thống ngân hàng , tăng khả năng cạnh tranh lành mạnh giữa
các NHTM và đó cũng là cơ sở pháp lý để ngân hàng giải quyết các khiếu
nại ,tố cáo khi có các tranh chấp xảy ra khi ngân hàng thực hiện các hoạt
động của mình.
1.3.1.3: Môi trường văn hoá- xã hội.
Nhân tố này gồm có: Tập quán; Trình độ dân trí; Lối sống; Thói quen… nó

Chính sách tín dụng bao gồm : Các yếu tố giới hạn mức cho vay đối với
khách hàng ; Kỳ hạn của khoản tín dụng; Mức lãi suất cho vay; Mức lệ phí ;
hướng giải quyết những khoản nợ khó đòi …
Nếu tất cả những yếu tố trên đều đúng đắn, hợp lý và linh hoạt , đáp ứng
nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng thì chắc chắn ngân hàng sẽ thành công
trong việc mở rộng hoạt động tín dụng nói chung và CVTD nói riêng.
Ngược lại, với chính sách tín dụng cứng nhắc, kém linh hoạt thì sẽ hạn chế
hoạt động tín dụng ,giảm tính cạnh tranh trong hoạt động giữa các ngân
hàng.
1.3.2.2: Quy trình cấp tín dụng.
Quy trình cấp tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, các qui định của ngân
hàng trong việc cấp tín dụng ,gồm các bước cụ thể theo một trình tự nhất
định kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi chấm dứt quan
hệ tín dụng. Việc xây dựng một qui trình tín dụng hoàn thiện và hiệu quả có
ý nghĩa rất lớn trong công tác ngăn ngừa và hạn chế rủi ro xảy ra, đồng thời
nó còn gây được cảm tình với khách hàng ,nhờ đó thu hút được nhiều khách
hàng hơn.
1.3.2.3: Về thông tin tín dụng.
Có thể nói, hoạt động chính của ngân hàng là đi vay và cho vay. Trong đó,
hoạt động cho vay phụ thuộc vào lòng tin của ngân hàng đối với khách hàng.
Do vậy, để hoạt động cho vay nói chung và CVTD nói riêng được mở rộng
với chất lượng cao,hiệu quả lớn thì ngân hàng phải nắm bắt được thông tin
một cách kịp thời và chính xác về khách hàng vay vốn.Gồm có:
+ Các thông tin tài chính của khách hàng: Khả năng về tài chính của
khách hàng, thu nhập hiện tại, khả năng trả nợ và bảo đảm tín dụng…
+ Các thông tin phi tài chính của khách hàng: Tư cách, uy tín, các mối
quan hệ xã hội…
+ Các thông tin gián tiếp: tình hình kinh tế xã hội, thông tin về xu hướng
phát triển và khả năng cạnh tranh của các NHTM khác .
1.3.2.4: Về chất lượng cán bộ và cơ sở vật chất thiết bị.

hiệu quả của các đơn vị thành viên và đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.
*Tên giao dịch quốc tế của ngân hàng là : INDUSTRIAL AND
COMMERCIAL BANK OF VIÊT NAM ( gọi tắt là INCOMBANK)
*Đến nay ,sau gần 20 năm hoạt động hệ thống Ngân hàng Công
thương Việt Nam gồm có : 2 Sở giao dịch; 137 chi nhánh ;158 phòng giao
dịch ;144 điểm giao dịch ;287 Quỹ tiết kiệm và hơn 500 máy ATM ; 1 Trung
tâm công nghệ thông tin và 1 Trung tâm đào tạo ở hầu hết các tỉnh ,thành
phố trên cả nước .Nguồn nhân lực lớn với trình độ khá cao , có15.000 cán bộ
công nhân viên ,trong đó trình độ Đại học và trên Đại học chiếm 50%
số còn lại là được đào tạo qua các trường Cao đẳng và Trung cấp Ngân hàng.
*Năm 1988,Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra quyết
định số 198/NH-TCCB về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng Công thương
thành phố Hà Nội .
+ Ngày 24/03/1993, Tổng giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam
ra quyết định số 93/NHCT-TCCB về việc chuyển các hoạt động tại hội sở
chi nhánh Ngân hàng Công thương Thành phố Hà Nội thành Hội sở chính
Ngân hàng Công thương Việt Nam .
+ Ngày 30/03/1998, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Công thương Việt Nam
ký quyết định số 134/QĐ-HĐQT-NHCT I sắp xếp tổ chức hoạt động Sở
giao dịch 1 theo điều lệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Công thương
Việt Nam .Sở giao dịch là đơn vị hoạch toán phụ thuộc Ngân hàng Công
thương Việt Nam,có con dấu riêng,có tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và
các Ngân hàng khác, có trụ sở riêng đặt tại số 10 Lê Lai-Hoàn Kiếm –Hà
Nội.
Với số nhân viên là 280 người trong đó trình độ từ Đại học và trên Đại
học chiếm 70% .Số còn lại được đào tạo qua các trường Cao đẳng và Trung
cấp Ngân hàng .
2.1.2: Nghĩa vụ và Quyền hạn.
*Nghĩa vụ :
1. Sử dụng vốn có hiệu quả ,bảo toàn ,phát triển vốn và các nguồn lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status