Luận văn Tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Sau sự kiện việt Nam ra nhập WTO vào tháng 11/2006 thì sự cạnh tranh
trong lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt, quyết liệt
hơn. Điều này vừa tạo ra những cơ hội cho các Ngân hàng Thương mại
(NHTM) Việt Nam phát triển và tự khẳng định mình nhưng đồng thời nó
cũng tạo ra những thách thức lớn mà các ngân hàng phải đối đầu. Trong điều
kiện cạnh tranh quyết liệt như vậy, khi thị phần của ngân hàng dần bị chiếm
chỗ bởi các định chế tài chính khác, các NHTM việt Nam cần phải làm gì để
phát triển nhanh và bền vững ?
Chiến lược “Ngân hàng Bán lẻ” chính là một hướng đi mới mà các
NHTM Việt Nam đã tìm ra và đang trong những bước đầu của quá trình thực
hiện.
Ngân hàng bán lẻ được hiểu là ngân hàng cung cấp các dịch vụ trực tiếp
cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân với quy mô các khoản giao
dịch nhỏ, bao gồm: Tiền gửi tiết kiệm; Tài khoản ATM; Cho vay thế chấp;
Cho vay tiêu dùng cá nhân …
Tuy nhiên trong điều kiện công nghệ &cơ sở vật chất còn yếu, các NHTM
Việt Nam đã lựa chọn thực hiện hoạt động Cho vay tiêu dùng trước tiên và
coi đó là bước đi ban đầu an toàn và hiệu quả trong chiến lược “Ngân hàng
Bán lẻ”
Thêm vào đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các sản
phẩm, dịch vụ tiêu dùng ngày càng trở nên phong phú, đa dạng,phù hợp với
nhu cầu của người tiêu dùng. Tuy nhiên, với mức thu nhập như hiện nay,
phần lớn người tiêu dùng không thể chi trả cho tất cả các nhu cầu mua sắm
cùng lúc, đặc biệt là những vật dụng đắt tiền. Nếu người tiêu dùng có thể vay
được tiền từ ngân hàng thì họ có thể thoả mãn được nhu cầu của họ ngay
trong hiện tại. Điều đó làm tăng sự tiêu dùng hàng hoá, thúc đẩy hoạt động
sản xuất kinh doanh của các hãng, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao
động, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của toàn xã hội một cách
SV: Hoàng Thị Nhung 1
1.1.1: Khái niệm Cho vay tiêu dùng
Nhắc đến NHTM thì không thể không nhắc đến hoạt động cho vay. Đặc
biệt, đối với các NHTM Việt Nam thì lợi nhuận từ hoạt động cho vay đem lại
chiếm một phần rất lớn trong tổng lợi nhuận của Ngân hàng. Do vậy, cho vay
được xem là hoạt động chủ đạo của các NHTM Việt Nam.
Hoạt động cho vay có thể được hiểu “là một giao dịch về tài sản(tiền
hoặc hàng hoá), giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác)
và bên đi vay(cá nhân,doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó: Bên cho
vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định
theo thoả thuận, Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và
lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”
Dựa trên những tiêu thức khác nhau thì người ta có thể phân chia cho vay
làm nhiều loại như: Cho vay theo “Mức độ tín nhiệm khách hàng” (gồm có:
Cho vay có bảo đảm và cho vay không có bảo đảm); Cho vay theo “Đối
tượng tham gia vào quy trình cho vay”(gồm có: cho vay trực tiếp và cho vay
gián tiếp ); Và dựa trên tiêu thức “Mục đích sử dụng vốn” thì cho vay gồm có:
Cho vay sản xuất kinh doanh và cho vay tiêu dùng.
Nếu Cho vay SXKD là hoạt động ngân hàng cho các tổ chức, Doanh
nghiệp hay các Công ty vay để kinh doanh dịch vụ hay thực hiện các dự án
đầu tư, các phương án sản xuất thì Cho vay tiêu dùng lại là hình thức tài trợ
cho nhu cầu chi tiêu.
Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người vay trang trải nhu cầu
nhà ở, đồ dùng gia đình, xe cộ…Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu
giáo dục, y tế và du lịch cũng có thể được tài trợ bởi CVTD. Như vậy, bằng
việc CVTD các ngân hàng sẽ giúp các cá nhân, hộ gia đình thoả mãn nhu cầu
trước khi họ có khả năng chi trả.
SV: Hoàng Thị Nhung 3
Luận văn Tốt nghiệp
Do đó, ta có thể đưa ra một khái niệm mang tính tổng quát về CVTD tại
NHTM như sau:
loại hàng hoá xa xỉ là không cao hoặc người vay cũng đã có một khoản tiền
tích luỹ trước đối với các loại tài sản có giá trị lớn. Tuy vậy, vay tiêu dùng lại
là nhu cầu vay vốn khá phổ biến, đa dạng và thường xuyên đối với mọi tầng
lớp dân cư nên mặc dù mỗi món vay tiêu dùng có quy mô nhỏ nhưng do số
lượng các khoản vay lớn khiến cho tổng quy mô CVTD của các ngân hàng
thường khá lớn.
Lãi suất cao
Không như hầu hết các khoản cho vay SXKD hiện nay có lãi suấtt thay
đổi theo điều kiện thị trường, lãi suất CVTD thường được cố định. Khi đưa ra
mức lãi suất cho vay cố định này các ngân hàng sẽ phải dự tính đến: yếu tố lãi
suất huy động đầu vào (có xu hướng thay đổi như thế nào? ); tính đến phần bù
rủi ro và chi phí. Tuy qui mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản
vay lớn nên tổng chi phí lớn. Hơn nữa, CVTD còn được xem là tiềm ẩn nhiều
rủi ro nên phần bù rủi ro cũng khá cao. Vì thế, lãi suất CVTD thường cao và
cố định.
Có tính nhạy cảm theo chu kỳ
Thật vậy, số lượng các khoản CVTD phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng
của dân cư và cầu có khả năng thanh toán của họ. Do đó, nó có tính nhạy cảm
theo chu kỳ. Số lượng các khoản CVTD sẽ tăng lên trong thời kỳ kinh tế phát
triển. Lúc này, người dân có mức thu nhập tương đối cao và ổn định, tình hình
hình kinh tế xã hội đầy lạc quan.Và ngược lại, trong thời kỳ nền kinh tế rơi
vầo suy thoái, rất nhiều cá nhân và hộ gia đình sẽ cảm thấy không mấy tin
tưởng vào tương lai ,nhất là khi họ thấy thu nhập cuả họ giảm xuống. Lúc
SV: Hoàng Thị Nhung 5
Luận văn Tốt nghiệp
này, mọi người có xu hướng tiết kiệm hơn là tiêu dùng. Do đó, việc vay ngân
hàng nói chung và vay tiêu dùng nói riêng sẽ hạn chế, làm cho số lượng các
khoản CVTD giảm xuống trầm trọng.
Rủi ro cao
Nhìn chung, các khoản CVTD có độ rủi ro cao vì bên cạnh sự ảnh hưởng
Cho vay tiêu dùng là các cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của
khách hàng. Nhờ những khoản vay tiêu dùng từ ngân hàng, họ có thể mua
sắm những hàng hoá cần thiết, các hàng hoá xa xỉ, có giá trị cao, giúp thoả
mãn nhu cầu tiêu dùng và cải thiện cuộc sống ngay cả khi khả năng tài chính
hiện tại của họ chưa cho phép. Vì vậy, việc ngân hàng thực hiện và phát triển
hoạt động CVTD sẽ mang đến những lợi ích tốt, thiết thực cho khách hàng.
Có thể nói rằng, Khách hàng chính là những người hưởng lợi nhiều nhất và
trực tiếp những lợi ích mà hình thức CVTD này mang lại.
Đối với ngân hàng
CVTD tuy đã xuất hiện từ những năm 1980, nhưng gần đây nó mới được
các NHTM quan tâm mở rộng và phát triển. Và loại hình tín dụng này còn
khá mới mẻ ở các NHTM Việt Nam. Nhưng không phải vì thế mà phủ nhận
vai trò quan trọng của hoạt động CVTD đối với các NHTM. Vai trò ấy được
khái quát như sau:
CVTD tạo điều kiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ đó góp phần giúp
các NHTM tăng khả năng cạnh tranh,nâng cao thu nhập và phân tán được rủi
ro.
Trong điều kiện ngày nay, khi mà sự cạnh tranh trong lĩnh vực Tài chính-
Ngân hàng ngày càng gay gắt, quyết liệt thì vai trò của CVTD thực sự quan
trọng đối với các NHTM, bởi nó góp phần tăng khả năng cạnh tranh giữa các
ngân hàng so với các định chế tài chính khác. CVTD, nếu xét về tổng quy mô
SV: Hoàng Thị Nhung 7
Luận văn Tốt nghiệp
thì mức độ rủi ro của nó lớn (do quy mô lớn ), nhưng thực tế do quy mô của
mỗi khoản cho vay thường nhỏ và số lượng các khoản vay tiêu dùng lớn nên
ngân hàng có thể phân tán được rủi ro tốt hơn. Hơn nữa, do lãi suất CVTD
thường cao nên thu nhập của các NHTM từ hoạt động CVTD thường rất lớn.
CVTD giúp các NHTM mở rộng quan hệ với khách hàng.
Do tính lan truyền trong dân cư là rất cao nên các Ngân hàng có thể thông qua
các khoản cho vay tiêu dùng mà quảng cáo về mình, từ đó thu hút các khách
vay này là quy mô thường lớn, thời gian dài. Việc đánh giá giá trị tài sản tài
trợ có vai trò vô cùng quan trọng đối với ngân hàng. Nếu như trong cho vay
tiêu dùng thông thường thì thu nhập tương lai của người vay là yếu tố quan
trọng để ngân hàng quyết định có cho vay hay không thì trong cho vay nhà ở,
giá trị và tình hình biến động giá của tài sản được tài trợ là yếu tố mà ngân
hàng rất quan tâm. Bởi vì khoản tín dụng tài trợ cho loại tài sản này có giá trị
lớn, nên sự biến động theo hướng không có lợi của nó sẽ dẫn tới những thiệt
hại rất lớn cho ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng phi cư trú
Đây là những khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như
mua sắm phương tiện, đồ dùng, du lịch, học hành, y tế hoặc giải trí ... Đặc
điểm của những khoản tín dụng này thường có quy mô nhỏ, thời gian tài trợ
ngắn. Do đó mà mức độ rủi ro đối với ngân hàng là thấp hơn những khoản
cho vay tiêu dùng bất động sản. Đối với loại cho vay này, yếu tố quyết định
cho vay hay không là khả năng trả nợ của người vay, sau đó mới xem xét đến
giá trị tài sản đảm bảo.
1.2.2.Căn cứ theo phương thức hoàn trả
SV: Hoàng Thị Nhung 9
Luận văn Tốt nghiệp
Nếu dựa trên tiêu thức này thì CVTD được phân thành: CVTD trả góp;
CVTD trả một lần và CVTD tuần hoàn .
Trả góp
Hình thức này chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng CVTD của các ngân
hàng bởi tính hợp lý của nó. Theo hình thức này, người đi vay trả nợ cho ngân
hàng (gồm cả gốc và lãi) theo nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định do ngân
hàng qui định (tháng hoặc quý). Hình thức này áp dụng cho các khoản vay có
giá trị lớn hoặc với những khách hàng mà thu nhập định kỳ của họ không đủ
để thanh toán hết số nợ trong một lần.
Khi áp dụng loại cho vay này thì ngân hàng phải quan tâm đến những
vấn đề cơ bản sau :
được tính đều nhau, bằng cách lấy vốn ban đầu chia cho số kỳ hạn thanh toán,
còn lãi phải trả mỗi kỳ hạn được tính trên số tiền khách hàng thực sự còn thiếu.
Phương pháp lãi gộp
Đây là phương pháp thường được áp dụng trong CVTD trả góp. Theo
phương pháp này, trước hết lãi được tính bằng cách: lấy vốn gốc nhân với lãi
suất và thời hạn vay. Sau đó cộng với vốn gốc ban đầu rồi chia cho số kỳ hạn
phải thanh toán để xác định được số tiề phải thanh toán trong mỗi kỳ hạn.
Vấn đề phân bổ lãi theo thời gian
Khi sử dụng phương pháp lãi gộp, các ngân hàng thường tiến hành phân bổ
lại phần lãi cho vay đã được tính. Việc phân bổ có thể được thực hiện theo
định kỳ gắn liền với các kỳ hạn thanh toán hoặc cũng có thể được thực hiện
theo quý hay theo năm tài chính.
Ngân hàng thường áp dụng một số phương pháp như:
Phương pháp đường thẳng ( phân bổ lãi đều nhau), áp dụng cho các
khoản vay ngắn hạn.
SV: Hoàng Thị Nhung 11
Luận văn Tốt nghiệp
Phương pháp luỹ thoái ( phân bổ lãi giảm dần ), áp dụng cho các
khoản vay trung và dài hạn.
Vấn đề trả nợ trước hạn
Khi người vay trả nợ trước hạn, có thể xảy ra một trong hai trường hợp sau:
Nếu tiền trả góp theo phương pháp lãi đơn thì vấn đề rất đơn giản, người
đi vay chỉ phải thanh toán toàn bộ gốc còn thiếu và lãi vay của kỳ hạn hiện tại
cho ngân hàng .
Nếu tiền lãi được tính bằng phương pháp lãi gộp thì vấn đề sẽ phức tạp
hơn vì theo phương pháp này, lãi được tính dựa trên giả định “ Người vay sẽ
sử dụng tiền vay cho đến khi kết thúc hợp đồng tín dụng” .Khi khách hàng trả
nợ trước hạn thì thời hạn khách hàng nợ thực tế khác thời hạn nợ ghi trong
hợp đồng và như vậy số tiền lãi phải trả cũng có sự thay đổi. Khi đó, ngân
hàng sẽ phải sử dụng phương pháp “Phân bổ lãi cho vay theo thời gian”, dựa
Thế chấp lương
Cho vay thế chấp lương thường được áp dụng cho khách hàng có việc
làm ổn định, thu nhập ổn định, ngoài các khoản chi tiêu thường xuyên hàng
tháng thì còn một phần tích luỹ để trả nợ vay. Số tiền ngân hàng cho khách
hàng vay được xác định dựa trên nhu cầu muốn vay & thu nhập thường xuyên
của khách hàng. Do đó, khi xét duyệt cho vay, ngân hàng cần thu thập đủ
thông tin về các thu nhập khác nhau cũng như các khoản chi tiêu khác thường
xuyên của khách hàng.
Đảm bảo tài sản hình thành từ tiền vay
Nó thường được áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng để
mua các tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài. Dựa vào khả năng tài
SV: Hoàng Thị Nhung 13
Luận văn Tốt nghiệp
chính và trả nợ của khách hàng, giá trị tài sản cần mua sắm ngân hàng sẽ
quyết định mức cho vay thích hợp, thông thường mức cho vay tối đa của ngân
hàng là khoảng 70 % - 80 % giá trị tài sản cần mua.
1.2.4.Căn cứ vào phương thức cho vay giữa ngân hàng và khác hàng vay vốn
Theo tiêu thức này, CVTD được phân làm hai loại là: Cho vay trực tiếp
và Cho vay gián tiếp.
Cho vay trực tiếp
Đây là hình thức cho vay, trong đó ngân hàng tiếp xúc trực tiếp với
khách hàng của mình, việc thu nợ cũng được tiến hành trực tiếp bởi chính
ngân hàng. CVTD trực tiếp thường được thể hiện theo sơ đồ sau:
Trong đó:
(1). Ngân hàng và người tiêu dùng ký HĐTD với nhau
(2). Người tiêu dùng trả trước cho công ty bán lẻ một phần số tiền mua hàng
Hoá của mình.
(3). Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ.
(4). Công ty bán lẻ giao hàng cho người tiêu dùng.
Giữa ngân hàng và công ty bán lẻ sẽ ký kết một Hợp đồng mua bán nợ,
trong đó ngân hàng sẽ đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán
chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại sản phẩm được bán chịu.
CVTD gián tiếp thường được biểu hiện qua sơ đồ sau:
SV: Hoàng Thị Nhung 15
Luận văn Tốt nghiệp
Trong đó:
(1). Ngân hàng và công ty bán lẻ ký hợp đồng mua bán nợ.
(2). Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết một hợp đồng mua bán chịu
(3). Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(4). Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu cho ngân hàng.
(5). Ngân hàng thanh toán tiền cho các công ty bán lẻ.
(6). Người tiêu dùng thanh toán tiền cho ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp có thể được thực hiện thông qua các phương
thức sau:
Tài trợ truy đòi toàn bộ
Theo phương thức này, khi bán cho ngân hàng các khoản nợ mà người
tiêu dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết sẽ thanh toán cho ngân hàng
toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn người tiêu dùng không thanh toán được
cho ngân hàng. Với phương thức này, các công ty bán lẻ buộc phải quan tâm
đến chất lượng các khoản bán chịu, còn các ngân hàng có ít rủi ro hơn.
SV: Hoàng Thị Nhung 16
Ngân hàng Công ty bán lẻ
Người tiêu dùng
(1)
(4)
(5)
(6) (2) (3)
lượng khách hàng khá đông đảo, khắc phục được tâm lý e ngại của họ khi tìm
đến với ngân hàng. Điều đó, giúp ngân hàng tiết kiệm được chi phí trong việc
cấp tín dụng vì ngân hàng chỉ phải ký hợp đồng với chính công ty bán lẻ mà
thôi. Việc cấp tín dụng kiểu này cũng giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro. Bởi,
khi mà ngân hàng có quan hệ tốt với công ty bán lẻ hoặc hợp đồng ký với
công ty bán lẻ có những điều kiện ràng buộc (được truy đòi), thì khi người
tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng, ngân hàng có quyền truy đòi công
ty bán lẻ về khoản nợ trên (có được nguồn thu nợ thứ hai cho ngân hàng). Mặt
khác, khi đã có hợp đồng ràng buộc thì công ty bán lẻ cũng phải cân nhắc
trước quyết định có bán chịu hàng hoá cho người tiêu dùng hay không (gián
tiếp giúp ngân hàng thẩm định khách hàng).
Nhược điểm
Bên cạnh những ưu điểm trên thì hình thức này cũng bộc lộ những
nhược điểm sau: Ngân hàng không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng đã được
nhà cung cấp bán chịu hàng hoá, do đó mà không thể nắm được tình hình thực
tế của khách hàng mà ngân hàng tài trợ, ngân hàng cũng phải đối mặt với tình
trạng công ty bán lẻ chỉ vì muốn bán được hàng mà đã không xem xét kỹ
lưỡng về khách hàng khi thẩm định. Mặt khác, ngân hàng còn phải chịu rủi ro
khi người tiêu dùng không thanh toán khoản vay cho ngân hàng, trong khi
hợp đồng giữa ngân hàng và công ty bán lẻ lại không có điều khoản được truy
đòi mặc dù đây chỉ là hi hữu. Bởi, chỉ những nhà cung cấp thật sự tin cậy thì
ngân hàng mới ký hợp đồng kiểu này, và những khoản nợ được mua theo điều
kiện này cũng được lựa chọn rất kỹ càng.
SV: Hoàng Thị Nhung 18
Luận văn Tốt nghiệp
1.3. Các nhân tố tác động đến Cho vay tiêu dùng
Có nhiều nhân tố tác động đến CVTD, nhưng ta có thể chia các nhân tố
này thành hai nhóm nhân tố chính là: Nhóm nhân tố khách quan và nhóm
nhân tố chủ quan.
1.3.1.Nhóm các nhân tố khách quan
bộ và kịp thời thì sẽ tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc, góp phần vào sự
phát triển của hệ thống ngân hàng, tăng khả năng cạnh tranh lành mạnh giữa
các NHTM và đó cũng là cơ sở pháp lý để ngân hàng giải quyết các khiếu nại,
tố cáo khi có các tranh chấp xảy ra khi ngân hàng thực hiện các hoạt động của
mình.
Môi trường văn hoá - xã hội
Nhân tố này gồm có: Tập quán; Trình độ dân trí; Lối sống; Thói quen…
nó ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của khách hàng. Và do vậy, nó cũng ảnh
hưởng đến hoạt đông CVTD và các hoạt động khác của ngân hàng. Chẳng
hạn, nếu một ngân hàng có áp dụng dịch vụ CVTD trong khu vực có trình độ
dân trí thấp, kiến thức về ngân hàng hầu như không có; nhu cầu mua sắm, tiêu
dùng không cao thì dịch vụ CVTD và các hoạt động khác của ngân hàng rất
chậm phát triển. Nhưng cũng chính ngân hàng này nếu được xây dựng trong
khu vực có trình độ dân trí cao, thu nhập đầu người của dân cư lớn, nhu cầu
mua sắm- chi tiêu lớn, họ hiểu và sử dụng thường xuyên các dịch vụ của ngân
hàng thì không chỉ dịch vụ CVTD mà cả các dịch vụ khác của ngân hàng
cũng sẽ phát triển.
Chủ trương chính sách của Nhà nước
Đây là những chính sách mang tầm vĩ mô và thường có thời gian thực
hiện tương đối dài. Các chính sách này cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến CVTD.
Chẳng hạn, khi Nhà nước tăng mức đầu tư cho nền kinh tế và tăng thu hút đầu
tư nước ngoài bằng các chính sách khuyến khích đầu tư ( Sự giản đơn về thủ
SV: Hoàng Thị Nhung 20
Luận văn Tốt nghiệp
tục giấy tờ, ưu đãi thuế…)…Tất cả những điều này sẽ tạo điều kiện cho sự
phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế - xã hội; GDP sẽ tăng; Tỷ lệ thất
ngiệp giảm; Mức thu nhập của người lao động tăng, qua đó làm tăng nhu cầu
tiêu dùng. Cùng với nó là các chính sách về Thuế thu nhập; Thuế về hàng
hoá, dịch vụ; các chương trình ưu đãi hỗ trợ phát triển, xoá đói, giảm nghèo;
rộng với chất lượng cao, hiệu quả lớn thì ngân hàng phải nắm bắt được thông
tin một cách kịp thời và chính xác về khách hàng vay vốn. Gồm có:
Các thông tin tài chính của khách hàng: Khả năng về tài chính của
khách hàng, thu nhập hiện tại, khả năng trả nợ và bảo đảm tín dụng…
Các thông tin phi tài chính của khách hàng: Tư cách, uy tín, các mối quan hệ
xã hội…
Các thông tin gián tiếp: tình hình kinh tế xã hội, thông tin về xu hướng
phát triển và khả năng cạnh tranh của các NHTM khác .
Chất lượng cán bộ và cơ sở vật chất thiết bị
Có thể khẳng định rằng, việc mở rộng hoạt động CVTD có thành công
hay không phụ thuộc phần lớn vào trình độ cán bộ, nhân viên và cơ sở vật
chất, trang thiết bị của ngân hàng. Dưới con mắt của khách hàng thì cán bộ,
nhân viên ngân hàng chính là hình ảnh của ngân hàng. Nếu như trong quá
trình giao tiếp với cán bộ, nhân viên ngân hàng mà khách hàng cảm thấy an
toàn về trình độ nghiệp vụ của các cán bộ và cảm thấy an toàn khi giao dịch
với ngân hàng thì chắc chắn khách hàng sẽ tìm đến đó. Đồng thời, việc ngân
hàng trang bị đầy đủ các thiết bị tiên tiến, phù hợp với phạm vi và qui mô
hoạt động để phục vụ chính xác, nhanh chóng các yêu cầu của khách hàng thì
sẽ giúp ngân hàng có khả năng cạnh tranh và thực hiện việc mở rộng các hoạt
động của ngân hàng, trong đó có hoạt động CVTD
SV: Hoàng Thị Nhung 22
Luận văn Tốt nghiệp
Chương II
THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI SỞ GIAO
DỊCH I - NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
2.1.Khái quát về Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thương Việt Nam
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển
Trước năm 1988, Ngân hàng Công thương là một bộ phận của Ngân
hàng Nhà nước có chức năng thực hiện nhiệm vụ tín dụng với các đơn vị
kinh doanh Công-Thương nghiệp. Sau năm 1988,hệ thống Ngân hàng Việt
Nam. Sở giao dịch là đơn vị hoạch toán phụ thuộc Ngân hàng Công thương
Việt Nam, có con dấu riêng,có tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và các
Ngân hàng khác, có trụ sở riêng đặt tại số 10 Lê Lai - Hoàn Kiếm - Hà Nội.
Với số nhân viên là 280 người trong đó trình độ từ Đại học và trên Đại
học chiếm 70 %. Số còn lại được đào tạo qua các trường Cao đẳng và Trung
cấp Ngân hàng.
2.1.2.Nghĩa vụ và Quyền hạn
Nghĩa vụ
Sử dụng vốn có hiệu quả, bảo toàn, phát triển vốn và các nguồn lực của
NHCT Việt Nam. Tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh đảm bảo an toàn,
hiệu quả, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện nghĩa vụ về tài chính
theo quy định của pháp luật và của NHCT Việt Nam.
Quyền hạn
Nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán của các Tổ chức kinh tế
(TCKT) và dân cư trong nước và ngoài nước bằng VND và ngoại tệ. Phát
hành các loại chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng và
các hình thức huy động vốn khác phục vụ hoạt động kinh doanh. Cho vay
SV: Hoàng Thị Nhung 24
Luận văn Tốt nghiệp
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng VND và ngoại tệ đối với các TCKT và
cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế theo cơ chế tín dụng của NHNN và
NHCT Việt Nam.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức và chức năng của các phòng ban
Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thương Việt Nam
được khái quát bằng sơ đồ 2.1.
Chức năng các phòng ban
Phòng khách hàng 1 (Doanh nghiệp lớn )
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các doanh
nghiệp lớn, để khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ; Thực hiện các nghiệp vụ