Luận Văn Đại Học NTTS_K37_Khoa Thủy Sản
SVTH: Nguyễn Văn Đang
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN VĂN ĐANG
SỬ DỤNG PROTEIN CHIẾT XUẤT TỪ RONG MỀN
(Cladophoraceae) THAY THẾ PROTEIN BỘT CÁ TRONG THỨC
ĂN CHO TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2014
2014
Luận Văn Đại Học NTTS_K37_Khoa Thủy Sản
SVTH: Nguyễn Văn Đang
3
SỬ DỤNG PROTEIN CHIẾT XUẤT TỪ RONG MỀN
(Cladophoraceae) THAY THẾ PROTEIN BỘT CÁ TRONG THỨC
ĂN CHO TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) GIỐNG
Nguyễn Văn Đang
TÓM TẮT
Nghiên cứu về sử dụng protein chiết xuất từ rong mền (Cladophoraceae) thay thế
protein bột cá làm thức ăn trong tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) giống với
các tỉ lệ khác nhau gồm 15%, 30%, 45% và 60%. Nghiệm thức thức ăn đối chứng
không chứa protein rong mền. Tất cả thức ăn thí nghiệm có cùng hàm lượng protein
(40%) và lipid (7%). Khối lượng tôm trung bình ban đầu là 0,12±0,01 g/con được nuôi
trong bể composite 250L với mật độ 30 con/bể ở độ mặn 10‰ với thời gian nuôi là 45
ngày. Khi kết thúc thí nghiệm, tỉ lệ sống của tôm dao động từ 63,3-80,0% trong đó
nghiệm thức thay thế 60% protein bột cá có giá trị thấp nhất (63,3%) và khác biệt có ý
nghĩa (P<0,05) so với các nghiệm thức còn lại. Đối với tốc độ tăng trưởng và hiệu quả
sử dụng thức ăn các nghiệm thức thay thế 15% và 30% protein bột cá bằng protein chiết
xuất từ rong mền có giá trị cao hơn hoặc tương tự so với nghiệm thức đối chứng. Thành
phần sinh hóa thịt tôm khác biệt không ý nghĩa so với đối chứng, trong đó hàm lượng
lipid giảm dần theo sự tăng của các nghiệm thức được thay thế bằng protein chiết xuất
từ rong mền. Kết quả nghiên cứu cho thấy protein chiết xuất từ rong mền có thể thay thế
protein bột cá lên đến 30% trong khẩu phần ăn cho tôm thẻ chân trắng.
Tiêu đề: sử dụng protein chiết xuất từ rong mền (cladophoraceae) thay thế protein bột cá
trong thức ăn cho tôm thẻ chân trắng (litopenaeus vannamei) giống
Từ khóa: Bột protein chiết xuất từ rong mền, bột cá, Litopenaeus vannamei
Osphronemus goramy, giống (Nguyễn Thị Ngọc Anh và ctv., 2013). Ngoài ra, rong mền
được sử dụng chiết xuất nhiên liệu sinh học, trong giai đoạn tiền xử lý rong đã tách
được bột protein có hàm lượng đạm từ 40-50%, cao hơn nhiều so với bột rong mền thô,
có thể sử dụng làm nguồn protein trong phối chế thức ăn cho tôm, cá (ITB-Việt Nam,
2011). Phan Thị Xuân Nguyên (2013) đã tìm thấy protein chiết xuất từ rong mền có thể
thay thế đến 45% protein bột cá trong thức ăn viên cho cá kèo (Pseudapocryptes
elongatus) giống .
Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) là đối tượng có giá trị kinh tế cao
được nuôi phổ biến ở nước ta trong những năm gần đây (Bộ NN&PTNT 2011). Tôm
thẻ chân trắng nuôi thành công ở Việt Nam do chúng có một số đặc tính ưu việt hơn so
với tôm sú như tốc độ tăng trưởng nhanh, chịu đựng tốt hơn đối với nuôi ở mật độ cao,
nhu cầu protein trong khẩu phần ăn thấp, đặc biệt sử dụng protein thực vật hiệu quả hơn
trong thức ăn viên (Trần Viết Mỹ, 2009; Liao and Chien, 2011). Mục tiêu nghiên cứu
này là xác định tỉ lệ phần trăm thay thế protein bột cá bằng protein tách chiết từ rong
mền (Cladophoraceae) thích hợp trong phối chế thức ăn cho tôm thẻ chân trắng (L.
vannamei) giống. Kết quả nhằm làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo và nhằm tận thu
nguồn protein chất lượng cao trong quá trình chiết xuất nhiên liệu từ rong mền làm thức
ăn cho tôm, cá.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức thức ăn có cùng hàm lượng protein (40%), lipid
(7%) và có cùng mức năng lượng. Các nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên,
mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Tôm thí nghiệm được bố trí trong bể composite
250L thể tích nước 150L ở độ mặn 10‰ với mật độ 30 con/bể. Khối lượng tôm trung
bình ban đầu là 0,12±0,01 g/con.
- Nghiệm thức 1: không chứa protein chiết xuất từ rong mền (đối chứng, ĐC)
- Nghiệm thức 2: protein chiết xuất từ rong mền thay thế 15% protein bột cá
(15%PRM)
- Nghiệm thức 3: protein chiết xuất từ rong mền thay thế 30% protein bột cá
(30% PRM)
NFE
Bột cá Kiên
Giang
10,12
59,06
8,65
28,74
0,32
3,24
Bột đậu nành
ly trích dầu
10,43
44,32
2,23
8,25
0,27
44,93
Protein -
rong mền
9,14
44,55
4,28
15,58
0,47
35,11
Cám gạo
9,86
8,52
8,15
21,32
45%PRM
60%PRM
Bột cá KG
44,00
37,40
30,80
24,19
17,60
Protein -
rong mền
0,00
8,75
17,51
26,23
35,00
Bột đậu nành
29,31
29,31
29,31
29,31
29,31
Cám gạo
7,77
8,85
9,86
6,38
7,00
Bột khoai mì
13,25
9,85
100,00
100,00
100,00
100,00
Thức ăn sau khi phối chế sẽ được phân tích thành phần sinh hóa cơ bản (ẩm độ,
protein, lipid, tro, xơ) và bảo quản ở 4ºC trong suốt thí nghiệm.
Bảng 3: Thành phần sinh hóa (% khối lượng khô) thức ăn thí nghiệm
Nghiệm
thức
ĐC
15%RM
30%RM
45%RM
60%RM
Độ ẩm
9,18
9,97
8,45
9,36
10,03
Protein
40,43
39,88
39,22
40,27
38,81
Lipid
6,85
6,84
7,03
1,25
1,29
Năng lượng
(Kcal/g)
4,52
4,37
4,46
4,32
4,33
Năng lượng được tính từ giá trị sinh lý học: protein = 5,65; lipid = 9,45 and NFE = 4,20.
NFE*: Nitrogen free extract (Chất dẫn xuất không đạm) = (100% – (%protein +%lipid
+%tro + %xơ).
2.4 Thu thập số liệu
Các yếu tố môi trường: Nhiệt độ và pH được xác định bằng máy đo pH-nhiệt độ
với 2 lần/ngày vào lúc 7h và 14h. Hàm lượng NO
2
-
; NH
4
+
/NH
3
và độ kiềm được xác
định 7 ngày/lần bằng bộ test SERA, Đức.
Chỉ tiêu đánh giá tôm: Khối lượng tôm ban đầu được xác định bằng cách bắt ngẫu
nhiên 30 con đem cân từng cá để tính giá trị trung bình. Tăng trưởng của tôm: định kỳ
thu mẫu 15 ngày/lần, mỗi lần thu ngẫu nhiên 10 con ở mỗi bể để xác định khối lượng
Luận Văn Đại Học NTTS_K37_Khoa Thủy Sản
SVTH: Nguyễn Văn Đang
hợp cho sự sinh trưởng của tôm thẻ chân trắng.
Bảng 4: Nhiệt độ, pH và độ kiềm trung bình của các nghiệm thức
Nghiệm
thức
Nhiệt độ (
o
C)
pH
Độ kiềm
7:00 giờ
14:00 giờ
7:00 giờ
14:00 giờ
(mg
CaCO
3
/L)
ĐC
27,1±0,7
28,6±1,1
7,75±0,2
7,93±0,3
109±21
15% PRM
27,2±0,7
28,6±1,1
7,70±0,2
7,88±0,2
110±19
30% PRM
-
thấp hơn nghiệm thức đối chứng. Kết quả
thống kê cho thấy giá trị TAN và NO
2
-
ở nghiệm thức 60%PRM cao hơn có ý nghĩa
(P<0,05) so với nghiệm thức đối chứng và các nghiệm thức khác.
Bảng 5: Nồng độ TAN và NO
2
-
trung bình của các nghiệm thức
Nghiệm thức
TAN (mg/L)
NO
2
-
(mg/L)
ĐC
0,12±0,08
b
1,28±0,94
b
(0,05-0,23)
(0,13-2,83)
15% PRM
0,16±0,11
b
(0,05-0,47)
(0,13-5,67)
*Các số liệu trong ngoặc đơn biểu thị giá trị nhỏ nhất vào ngày 7 và giá trị lớn
nhất vào ngày 42.
Ngoài ra, trong quá trình thí nghiệm nồng độ TAN và NO
2
ˉ
tăng theo thời gian
nuôi và đạt cao nhất vào ngày 42. Tuy nhiên, nồng độ TAN ở các nghiệm thức tăng ít
(cao nhất 0,47 mg/L). Nồng độ NO
2
ˉ
ở nghiệm thức đối chứng là 2,83 mg/L, ở nghiệm
thức 15% PRM là 2,17 mg/L và cao nhất là nghiệm thức 60% PRM (5,67 mg/L).
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv. (2012), nồng độ NO
2
ˉ
trong khoảng 4-5 mg/L gây
ảnh hưởng bất lợi cho tôm nuôi. Tuy nhiên, Nguyễn Đắc Kiên và ctv. (2009) cho rằng
hàm lượng muối dinh dưỡng nitơ (NO
2
ˉ
, NO
3
ˉ
và TAN) trong ao nuôi tăng theo thời
gian nuôi là do thức ăn thừa và chất thải của tôm nuôi, và được khắc phục bằng cách
thay nước hoặc cấp thêm nước vào ao nuôi tôm sẽ giảm được các hợp chất đạm gây độc
môi trường nuôi và dẫn đến giảm tỉ lệ sống do môi trường nuôi không đảm bảo và tăng
trưởng của đối tương nuôi kém, khả năng chuyển hóa thức ăn kém. Do đó, thức ăn viên
cho tôm nên có độ bền trong nước cao nhằm giảm tối thiểu sự tan rã và mất đi chất dinh
dưỡng do hòa tan vào nước và trong suốt quá trình tôm bắt mồi (Obaldo at el., 2002).
3.2.2 Tăng trưởng khối lượng của tôm
Hình 1. Cho thấy khối lượng của tôm thí nghiệm bị ảnh hưởng bởi nghiệm thức
thức ăn được tìm thấy vào ngày nuôi 15 và khuynh hướng này duy trì đến khi kết thúc
thí nghiệm. Khối lượng tôm ở nghiệm thức thay thế 15% protein bột cá bằng protein
chiết xuất từ rong mềm (15% PRM) đạt 3,73 g, lớn hơn so với nhóm tôm ăn thức ăn đối
chứng (3,62 g). Khối lượng tôm giảm theo sự gia tăng mức thay thế protein bột cá bằng
protein chiết xuất từ rong mền được tìm thấy ở mức thay thế từ 45% trở lên. Phân tích
thống kê về khối lượng cuối của tôm thí nghiệm cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa
(P>0,05) giữa các nghiệm thức ĐC, 15% PRM và 30% RM. Ba nghiệm thức này tôm có
khối lượng lớn hơn đáng kể (P<0,05) so với tôm ở nghiệm thức 45% PRM và 60%
PRM.
Hình 1. Khối lượng tôm qua các đợt thu mẫu ở thí nghiệm
Tốc độ tăng trưởng của tôm có cùng khuynh hướng với sự tăng trọng. Tốc độ tăng
trưởng tuyệt đối (DWG) và tốc độ tăng trưởng tương đối (SGR) của tôm ở nghiệm thức
Luận Văn Đại Học NTTS_K37_Khoa Thủy Sản
SVTH: Nguyễn Văn Đang
10
15% PRM đạt (0,080 g/ngày và 7,58 %/ngày) khá tốt hơn so với tôm ở nghiệm thức đối
chứng (0,078 g/ngày và 7,49 %/ngày). Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của tôm có xu
hướng giảm dần khi tăng mức thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong
mền trong thức ăn từ 30% trở lên. Nghiệm thức 45% PRM và 60% PRM có tốc độ tăng
trưởng thấp nhất và khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức
15% PRM và 30% PRM (P<0,05).
Bảng 5: Tỉ lệ sống và tăng trưởng về khối lượng của tôm sau 45 ngày thí nghiệm
Nghiệm
15% RM
78,9±3,8
a
0,12±0,01
3,73±0,56
a
3,61±0,56
a
0,080±0,012
a
7,58±0,34
a
30% RM
78,9±5,1
a
0,12±0,01
3,42±0,51
a
3,29±0,51
a
0,073±0,011
2,13±0,51
c
0,047±0,011
c
6,42±0,56
c
Các giá trị thể hiện trên bảng là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn
Các giá trị trung bình trên cùng một cột có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa (p<0,05)
Theo tài liệu của Trần Viết Mỹ (2009), trong nuôi tôm thẻ chân trắng thì thức ăn
là một trọng các yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và năng suất tôm nuôi
nuôi. Khi sử dụng thức ăn không thích hợp tôm tăng trưởng chậm và hiện tượng ăn
nhau xảy ra nhiều, thường dẫn đến tỉ lệ sống tôm nuôi thấp. Các nghiên cứu trước,
khẳng định bột cá có hầu hết các axít amin cho các loài thủy sản và có độ ngon miệng
cao, tạo sự hấp dẫn cho viên thức ăn và thúc đẩy tối đa sự lấy thức ăn vào của tôm cá
(Jackson, 2006; Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn , 2009).
Marinho-Soriano et al. (2007), nhận thấy tỷ lệ sống, tăng trưởng của tôm thẻ chân
trắng Litopenaeus vannamei giảm khi cho ăn thức ăn có chứa rong Gracilaria
cervicornis. Nghiên cứu của Liberal and Milton (2009) nhận thấy có thể sử dụng đến
39% rong Hypnea cervicornis và Cryptonemia crenulata trong chế độ ăn tôm thẻ chân
trắng L. vanamei vẫn không ảnh hưởng đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm. Phan Thị
Xuân Nguyên (2013) cho biết protein chiết xuất từ rong mền có thể thay thế protein bột
cá lên đến 45% trong khẩu phần ăn cho cá kèo giống.
3.2.2 Hiệu quả sử dụng thức ăn
Bảng 6 cho thấy hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) tôm dao động từ 1,28-1,98, trong đó
FCR ở nghiệm thức 15% PRM thấp hơn và 30% PRM cao hơn so với nghiệm thức đối
chứng nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa (P>0,05). FCR ở nghiệm thức 45% PRM và
60% PRM cao hơn có ý nghĩa (P<0,05) so với các nghiệm thức còn lại. Như vậy khi
1,74±0,05
b
45% PRM
1,72±0,08
c
1,45±0,07
b
60% PRM
1,98±0,04
d
1,30±0,02
c
Các giá trị thể hiện trên bảng là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn
Các giá trị trung bình trên cùng một cột có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa (p<0,05)
Hiệu quả sử dụng protein (PER) ở các nghiệm thức dao động từ 1,30-1,96 trong
đó PER ở nghiệm thức 15% PRM (1,96) cao hơn có ý nghĩa so với đối chứng (1,76).
PER có xu hướng giảm khi hàm lượng protein chiết xuất từ rong mền trong thức ăn
tăng từ 30 đến 60%. Kết quả thống kê biểu thị PER ở nghiệm thức đối chứng không
khác biệt (P>0,05) so với nghiệm thức 30% PRM nhưng khác biệt có ý nghĩa so với
nghiệm thức 45% PRM và 60% PRM (Bảng 6).
Kết quả biểu thị khi thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền ở
mức 15 và 30%, hoặc protein bột đậu nành li trích dầu được thay thế bằng protein chiết
xuất từ rong mền với tỉ lệ 25 và 50% thì tốc độ tăng trưởng của tôm tốt hơn so với
nghiệm thức đối nhóm đối chứng. Tuy nhiên, ở mức thay thế cao hơn tôm có xu hướng
tăng trưởng chậm hơn nhiều so với đối chứng. Điều này phù hợp với nhận định của
3.2.5 Thành phần sinh hóa thịt tôm thẻ chân trắng
Kết quả thành phần sinh hóa của tôm cho thấy hàm lượng nước cơ thể không bị
ảnh hưởng bởi các mức thay thế protein chiết xuất từ rong mền, dao động trong khoảng
77,32-78,12%. Hàm lượng protein trong cơ thể tôm dao động 75,41-76,53%. Hàm
lượng protein có xu hướng tăng khi gia tăng tỉ lệ protein chiết xuất từ rong mền trong
thức ăn, cao nhất ở nghiệm thức 60% PRM (76,53%), tuy nhiên giữa các nghiệm thức
khác biệt không có ý nghĩa (P>0,05) thống kê (Bảng 7). Hàm lượng lipid đạt thấp nhất ở
nghiệm thức 60% PRM (2,77%), khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng và
nghiệm thức thay thế 15% PRM (P<0,05).
Bảng 7: Thành phần sinh hóa thịt tôm (% khối lượng khô) sau khi thí nghiệm
Nghiệm thức
ĐC
15%PRM
30%PRM
45%PRM
60%PRM
Hàm lượng
nước
77,32±0,52
a
77,79±0,38
a
77,88±0,61
a
78,12±0,47
a
ab
2,77±0,16
b
Tro
6,70±0,03
a
6,89±0,01
a
6,59±0,60
a
7,03±0,43
a
6,42±0,27
a
Ca
0,49±0,14
a
0,43±0,10
a
0,52±0,15
a
giảm theo mức tăng thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền trong
thức ăn. Hàm lượng tro, Ca và P tương tự giữa các nghiệm thức thức ăn, dao động lần
lượt là 6,42-7,03%; 0,46-0,68% và 0,70-0,80%.
Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Phan Thị Xuân Nguyên (2013), sử dụng
protein chiết xuất từ rong mền làm thức ăn cho cá kèo (P. elongatus) giống.
Luận Văn Đại Học NTTS_K37_Khoa Thủy Sản
SVTH: Nguyễn Văn Đang
13
IV. KẾT LUẬN
- Tỉ lệ sống của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) không bị ảnh hưởng
bởi việc thay thế đến 45% protein bột cá bằng protein chiết xuất từ rong mền
(Cladophoracea). Tuy nhiên, tỉ lệ sống có giảm so với đối chứng, 15%PRM và
45%PRM.
- Tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của tôm thẻ chân trắng khi cho
ăn thức ăn có hàm lượng protein chiết xuất từ rong mền (Cladophoracea) thay thế
protein bột cá lên đến 30% trong khẩu phần ăn.
- Thành phần sinh hóa của thịt tôm không bị ảnh hưởng bởi nghiệm thức thức ăn.
- Hiệu quả sử dụng thức ăn khi thay thế protein bột cá bằng protein chiết xuất
rong mền 30%PRM thì không ảnh hưởng đến FCR và PER.
LỜI CẢM TẠ
Xin gởi lời cảm ơn chân thành đến ban chủ nhiệm Khoa Thủy Sản – Trường Đại
Học Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ts. Nguyễn Thị Ngọc Anh và anh Trần Anh Tuấn đã tận
tình giúp đỡ, hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn
tốt nghiệp này. Đồng cảm ơn bạn Nguyễn Chí Khải và các bạn cùng lớp động viên và
giúp đỡ. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Liberal, D. S. R. and B. J. Milton. 2009. Seaweed meal as a protein source for the white
shrimp Litopenaeus vannamei. Journal of applied phycology. Vol. 21, No 2, 193-
197 pp.
Liu, C.H. and Chen, J.C. 2004. Effect of ammonia on the immune response of white
shrimp Litopenaeus vannamei and its susceptibility to Vibrio alginolyticus. Fish &
Shellfish Immunology 16, 321-334.
Marinho-Soriano, E. Camara, M.R., Cabral, M.C. and M.C.A. Carneiro. 2007.
Preliminary evaluation of the seaweed Gracilaria cervicornis (Rhodophyta) as a
partial substitute for the industrial feeds used in shrimp (Litopenaeus vannamei)
farming. Aquaculture Research 38, pp 182-187.
Nguyễn Đắc Kiên, Phan Minh Thụ, Lê Nguyễn Na Uyên. 2010. Đánh giá biến động
muối dinh dưỡng trong ao nuôi hải sản. Tạp chí Khoa học Trường Đại học
Nha Trang: trang116-124.
Nguyễn Hoàng Duy, 2012. Khảo sát sự phân bố, biến động sinh lượng và thành phần
sinh hóa của một số loài rong ở Đồng bằng sông Cửu Long. Luận Văn tốt nghiệp
Đại học, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguyễn Thanh Phương, Trần Ngọc Hải, Dương Nhựt Long, Võ Nam Sơn, 2012. Giáo
trình Nuôi trồng thủy sản. Khoa Thủy sản-Trường Đại học Cần Thơ. 152 trang.
Nguyễn Thị Ngọc Anh, Nguyễn Thiện Toàn, Cao Ngọc Hà, 2013.
Khả năng thay thế
protein bột cá bằng protein bột rong bún (Enteromorpha sp.) và bột rong mền
(Cladophoraceae) làm thức ăn cho cá tai tượng (Osphronemus goramy). Tạp chí
Bộ NN &PTNT, 9 trang.
Obaldo, L.G., Divakaran, S. and Tacon, A.G. 2002. Method for determining the
physical stability of shrimp feed in water. Aquaculture research 33, 369-377.
Phan Thị Xuân Nguyên. 2013. Khả năng sử dụng protein chiết suất từ rong mền
(Cladophoraceae) trong thức ăn viên cho cá kèo (Pseudapocryptes elongatus).
Luận văn cao học, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ, 55 trang.
Trần Thị Thanh Hiền, Nguyễn Anh Tuấn. 2009. Giáo trình dinh dưỡng và thức ăn thủy