TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN NGUYỄN HỒNG LOAN
SỬ DỤNG CHẤT CHIẾT XUẤT TỪ CÂY HOÀNG KỲ
(Astragalus membranaceus) ĐỂ PHÒNG BỆNH MỦ GAN DO
VI KHUẨN Edwardsiella ictaluri TRÊN CÁ TRA
(Pangasinodon hypophthalmus) LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. ĐẶNG THỊ HOÀNG OANH
radix) trong việc phòng bệnh mủ gan trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus).
Cá tra giống có trọng lượng 25 gram được bố trí các nghiệm thức (nghiệm thức 2, 4
và 6) cho ăn thức ăn có bổ sung chiết xuất hoàng kỳ (0,5%) và các nghiệm thức (1,
3 và 5) cho ăn thức ăn bình thường trong 5 tuần. Nghiệm thức 3 và 4 được tiêm vắc-
xin ở tuần thứ 3. Sau 5 tuần, cá ở các nghiệm thức 2, 3, 4 và 5 được gây cảm nhiễm
vi khuẩn E. ictaluri bằng phương pháp tiêm. Mỗi tuần thu mẫu 1 lần để xác định các
chỉ tiêu huyết học, phân tích hàm lượng lysozyme và khả năng diệt khuẩn của huyết
thanh. Kết quả xác định các chỉ tiêu huyết học ở tất cả các nghiệm thức cho thấy số
lượng hồng cầu dao động từ 1,4x10
6
đến 2,02x10
6
và khác biệt có ý nghĩa thống kê
giữa nghiệm thức có bổ sung hoàng kỳ và nghiệm thức cho ăn thức ăn bình thường.
Tổng bạch cầu, tế bào lympho, bạch cầu trung tính, bạch cầu đơn nhân tăng đều qua
5 tuần. Tuy nhiên sau khi gây cảm nhiễm với vi khuẩn E. ictaluri thì số lượng hồng
cầu, tổng bạch cầu, tế bào lympho, tiểu cầu đều giảm ở các nghiệm thức nhưng bạch
cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính lại tăng. Số lượng các chỉ tiêu huyết học của cá
cảm nhiễm có bổ sung hoàng kỳ đều cao hơn cá cho ăn thức ăn bình thường và khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết quả phân tích hàm lượng lysozyme trong
huyết thanh cá sau 5 tuần dao động từ 26,43 ±1,21 µg/ml đến 29,65 ±1,16 µg/ml và
khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) giữa nghiệm thức 3, 4 so với nghiệm thức 1, 2. Sau
khi gây cảm nhiễm thì hàm lượng lysozyme ở các nghiệm thức đều giảm tuy nhiên
chỉ có nghiệm thức 3 là cao nhất và khác biệt so với nghiệm thức 5. Khả năng diệt
khuẩn huyết thanh của cá ở nghiệm thức 2 và 3 cao hơn cá ở nghiệm thức 1 và 5,
phần trăm vi khuẩn sống sót sau khi tương tác với huyết thanh của cá có ăn hoàng
kỳ thấp hơn cá không ăn hoàng kỳ. Tỷ lệ sống của cá sau cảm nhiễm với vi khuẩn
E.ictaluri cao nhất ở nghiệm thức 4 và khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) so với nghiệm
thức 2 và nghiệm thức 3. Kết quả trên cho thấy khi bổ sung hoàng kỳ vào khẩu phần
thức ăn làm tăng cường khả năng đề kháng của cá với sự nhiễm vi khuẩn E. ictaluri.
ml and differed significantly different among the treatments 3,4 and the treatments
1, 2. After causing the susceptibility, content of lysozyme in all the treatments
decreased but that in the treatments 3 is highest and different from the treatment 5.
Bactericidal ability of serum of fish in the treatments 2 and 3 are higher than that of
fish in the treatments 1 and 5. The survival of bacteria after interaction with the
serum of fish fed Hoang ky is lower than those fed normal feed. The highest
survival of fish after bacterial susceptibility to E.ictaluri was in treatment 4 and
significantly higher than treatments of 2 and 3. The results of this study showed that
feeding of Hoang ky’s extract stimulated enhance immune response of catfish and
protection against E. ictaluri.
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
CHƯƠNG 1 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2 3
3.3 Phương pháp nghiên cứu 17
3.3.1 Phục hồi và nuôi tăng sinh vi khuẩn 17
3.3.2 Thí nghiệm xác định LD
50
18
3.3.3 Thí nghiệm cho ăn thảo dược. 18
3.3.4 Thí nghiệm gây cảm nhiễm sau khi cho ăn thảo dược 5 tuần 19
v
3.3.3 Xác định hiệu quả của chiết xuất thảo dược lên sự đề kháng bệnh mủ gan trên cá tra
qua các chỉ tiêu. 19
3.4 Quản lý hệ thống thí nghiệm 21
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 22
CHƯƠNG 4 23
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Ảnh hưởng của chiết xuất từ cây Hoàng Kỳ lên các chỉ tiêu huyết học của cá tra 23
4.1.1 Hồng cầu 23
4.1.2 Bạch cầu 24
PHỤ LỤC B 54
PHỤ LỤC C 55
PHỤ LỤC D 56
vi
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.2: Khả năng ảnh hưởng của thuốc và hóa chất dùng trong NTTS đến sức khỏe con
người (Kimbrell et al., 2005) 10
Bảng 4.2 Số lượng hồng cầu trước và sau cảm nhiễm 30
Bảng 4.2 Số lượng các loại bạch cầu sau cảm nhiễm 33
Bảng 4.5 LD
50
của vi khuẩn E. ictaluri thí nghiệm 39
vii
DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Diễn biến diện tích và sản lượng cá tra ở vùng ĐBSCL giai đoạn 1997-2008 và
quy hoạch đến năm 2020 3
Hình 2.4: Rễ và thân cây Hoàng kỳ. 15
Hình 4.1 Biểu đồ so sánh số lượng hồng cầu của các nghiệm thức thí nghiệm sau 5 tuần. 23
Hình 4.14 Tỷ lệ chết cá chết tích lũy sau khi gây cảm nhiễm vi khuẩn E.ictaluri 41
1
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Trong những năm gần đây phong trào nuôi cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus) xuất khẩu ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gia tăng đáng kể.
Thế nhưng, do phát triển quá nhanh không theo quy hoạch nên dịch bệnh trên cá tra
nuôi hiện nay xảy ra ngày càng nhiều. Theo Phạm Đình Khôi (2009) trong vòng 5
năm qua, môi trường ô nhiễm và dịch bệnh đã làm tỷ lệ sống trung bình của cá nuôi
giảm từ 90% xuống còn 80%. Theo thống kê của Lý Thị Thanh Loan và ctv. (2006)
thì tần suất xuất hiện bệnh ở các tỉnh ĐBSCL là đốm trắng trên gan, thận: 52,80%;
xuất huyết: 42,50%; phù đầu, phù mắt: 20,70% và vàng da: 21,60%. Trong đó bệnh
đốm trắng xuất hiện trên nội tạng đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho người nuôi.
Theo nghiên cứu của Từ Thanh Dung và ctv. (2004) thì bệnh đốm trắng trên
gan cá tra là do vi khuẩn Edwardsilla ictaluri gây ra, thường xuất hiện vào mùa lũ,
cao điểm là tháng 7 và tháng 8. Ngoài ra qua kết quả khảo sát của (Nguyễn Chính,
2005) cho rằng bệnh đốm trắng trên gan thân gây tỉ lệ hao hụt cao ở cá hương giống
(10-90%) tổng số cá nuôi, mức độ thiệt hại có thể lên đến 60-80%. Khi dich bệnh
xảy ra, để hạn chế thiệt hại người nuôi đã sử dụng thuốc kháng sinh để trị bệnh từ
đó dẫn đến hiện tượng kháng thuốc. Vi khuẩn E. ictaluri trên cá tra đã kháng với
Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của đề tài nhằm tìm hiểu khả năng sử dụng chiết xuất từ cây Hoàng
Kỳ (Astragalus radix) để phòng bệnh mủ gan do vi khuẩn E. ictaluri gây ra ở cho cá
tra nuôi thâm canh nhằm từng bước thay thế kháng sinh trong việc phòng bệnh này.
Nội dung của đề tài
1. Xác định ảnh hưởng của chiết xuất Hoàng kỳ lên các chỉ tiêu huyết học và miễn
dịch của cá tra.
2. Xác định ảnh hưởng của chiết xuất Hoàng kỳ lên sự nhiễm mầm bệnh vi khuẩn
E. ictaluri ở cá tra.
3
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1.1Tổng quan về nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL
ĐBSCL có một mạng lưới kênh rạch chằng chịt bao gồm các hệ thống sông rạch tự
nhiên và các kênh mương nhân tạo với tổng chiều dài trên 5.000 km với nhiều kích
thước khác biệt nhau (Lê Anh Tuấn, 2009). ĐBSCL có hai mặt giáp biển Đông và
vịnh Thái Lan dài hơn 600 km, mỗi năm vùng đất này nhận hơn 450 tỷ m
3
tổng
lượng nước từ sông Mêkông. Cùng với hệ thống sông Tiền và sông Hậu là điều kiện
thuận lợi để phát triển nuôi trong thủy sản nước ngọt (Lê Anh Tuấn, 2008), trong đó
cá tra là đối tượng nuôi phổ biến mang tính truyền thống từ các hình thức nuôi như
tận dụng ao hầm, mương vườn và nguồn thức ăn sẵn có, đến cuối thập niên 90, khi
nghề nuôi cá tra đã có những bước tiến vượt bậc sau sự thành công trong việc sản
xuất nhân tạo loài cá này (Từ Thanh Dung và ctv, 2004). Kết hợp với điều kiện tự
nhiên thuận lợi, áp dụng những kỹ thuật nuôi thích hợp và sự phát triển của thị
trường quốc tế đã thúc đẩy cho việc mở rộng diện tích nuôi cá tra ở ĐBSCL. Năm
phù hợp với các nghiên cứu của Nguyễn Chính (2005) và Trần Anh Dũng (2005)
trên cá tra nuôi thâm canh ở An Giang.
Dịch bệnh trên cá tra nuôi xảy ra quanh năm, thời điểm bệnh bùng phát nhiều
nhất là lúc giao mùa do sự thay đổi đột ngột của thời tiết, nhiệt độ, đặc biệt là giai
đoạn nước rút, ngoài ra bệnh còn xuất hiện theo loại hình nuôi với tác nhân là ký
sinh trùng (trùng bánh xe, sán lá mang, Myxobolus) và nấm (Bùi Quang Tề, 2001;
Trần Thị Minh Tâm và ctv, 2003; Trần Anh Dũng, 2005). Vào mùa khô (từ tháng 11
đến tháng 4 năm sau) thì 68,3% hộ nuôi ghi nhận là do sán lá gan, trong khi mùa
mưa (từ tháng 4 đến tháng 11) 73% hộ nuôi ghi nhận là do trùng bánh xe và sán lá
mang, nhưng khi lũ rút thì đa số là do trùng bánh xe có 85,4% hộ nuôi ghi nhận.
Ngoài ra bệnh trên cá tra nuôi còn tùy thuộc vào giai đoạn nuôi. Qua khảo sát
các tác nhân gây bệnh trên cá tra nuôi thâm canh ở An Giang cho thấy cá tra giống
rất mẫn cảm với ký sinh trùng, đặc biệt là trùng bánh xe và chủ yếu gây hại ở giai
5
đoạn này. Tuy nhiên đến giai đoạn cá thịt thì tỉ lệ tác nhân gây bệnh do sán lá mang
là 68,3% hộ nuôi ghi nhận được đối với loại hình nuôi ao, loại hình nuôi bè là
73,9% và cao nhất là 88% đối với loại hình nuôi đăng quầng. Từ đó cho thấy cá tra
nuôi thâm canh rất mẫn cảm với bệnh do sán lá mang và thuộc nhóm khó trị (Trần
Anh Dũng, 2005).
2.1.2.2 Tinh hình bệnh mủ gan ở ĐBSCL.
Có thể nói nghiên cứu công bố sớm nhất về bệnh mủ gan (đốm trắng) trên cá tra ở
Việt Nam thuộc về Trần Thị Minh Tâm và ctv. (2003) nhưng xác định tác nhân là
do 2 loài vi khuẩn Hafnia avlei và Plesiomonas shigelloides gây ra, ngoài ra từ các
nghiên cứu của Từ Thanh Dung và ctv. (2004) và Nguyễn Quốc Thịnh và ctv.
(2004) đã xác định bệnh mủ gan trên cá tra là do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri.
Tuy nhiên trong giới khoa học về bệnh thủy sản vẫn còn nhiều tranh cải về tác nhân
gây bệnh mủ gan trên cá. Theo kết quả nghiên cứu của Lý Thị Thanh Loan và ctv.
(2006) thì vi khuẩn gây bệnh mủ gan là do vi khuẩn Clostridium sp. Đến năm 2008,
tại Hội thảo cá da trơn Châu Á tổ chức tại Cần Thơ, các tác giả (Truong Thi Ho et
2.2 Hiện trạng sử dụng thuốc kháng sinh trong nuôi cá tra
2.2.1 Hiện trạng sử dụng
Nuôi trồng thủy sản hiện nay đang phát triển mạnh trên nhiều khía cạnh cả về diện
tích, mức độ thâm canh, loại hình nuôi đến đầu tư cơ sở hạ tầng và chế biến sau thu
hoạch. Vì thế việc sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi trồng thủy sản có một đóng
góp không nhỏ trong sự phát triển của ngành. Từ đó việc sản xuất, kinh doanh thuốc
kháng sinh ngày càng thu hút nhiều công ty ra đời và thường xuyên tung ra các sản
phẩm mới nhằm đáp ứng nhu cầu của người nuôi về giá thành, tính đa dạng của sản
phẩm (Nguyễn Hữu Đức, 2007). Qua kết quả điều tra tình hình sử dụng thuốc, hóa
chất và chế phẩm sinh học (CPSH) trong NTTS của Mai Văn Tài và ctv (2004) cho
thấy có ít nhất 373 loại hóa chất và CPSH được sử dụng trong NTTS, trong đó có 14
loại hóa chất xử lý đất và nước, 6 chất gây màu nước, 86 hóa chất khử trùng và diệt
tạp, 138 kháng sinh, 47 loại CPSH, 13 loại vitamin, 57 loại thức ăn bổ sung, 10 loại
hoocmon, 5 loại không xác định. Đối với nuôi cá ao nước ngọt có 67 loại (trong đó
31 loại là kháng sinh), sản xuất cá giống nước ngọt có 85 loại (trong đó 37 loại là
kháng sinh).
Kháng sinh là nhóm có số lượng sản phẩm kinh doanh đứng thứ nhì với mục
đích chủ yếu là trị bệnh, ngoài ra còn sử dụng để phòng bệnh bằng cách trộn vào
thức ăn (Trần Thị Minh Tâm và ctv., 2003) đồng thời kích thích tăng trưởng
(Nguyễn Chính 2005). Chi phí cho sử dụng thuốc trong nuôi cá tra công nghiệp
tương đối cao và đứng hàng thứ ba sau chi phí thức ăn và con giống. Thị trường các
loại thuốc trị bệnh cho cá hiện nay rất phong phú và đa dạng về số lượng và chủng
loại (Nguyễn Quốc Thịnh, 2006).
Tình hình sử dụng thuốc, hóa chất trong nuôi cá tra ở An Giang và Cần Thơ
cho thấy nhóm quinolone và sulfonamide có nhiều hoạt chất được sử dụng, cao nhất
7
là 6 chất, kế đến là nhóm aminoside 4 chất, tetra 3 chất. Về tần suất xuất hiện trong
113 sản phẩm khảo sát thì nhóm quinolone chiếm nhiều nhất là 43 sản phẩm, kế đến
là nhóm colistin 32 sản phẩm (thường dùng kết hợp với các nhóm khác),
cạnh đó còn thể hiện tính đa kháng. Trong 101 vi khuẩn phân lập đều thể hiện tính
đa kháng với ít nhất 4 loại kháng sinh, đa số (80%) là kháng với 6 loại kháng sinh.
Qua phân lập và khảo sát đặc điểm kháng kháng sinh của vi khuẩn E. ictaluri
gây bệnh mủ gan trên cá tra nuôi thâm canh ở một số tỉnh ĐBSCL cho thấy tỷ lệ
chủng kháng florfenicol tại Vĩnh Long cao nhất là 45%, kế đến là An Giang 30%,
thấp nhất là Cần Thơ 5% trong tổng số 20 chủng kháng florfenicol được khảo sát tại
4 tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang, Bến Tre.
Theo Crumlish et al. (2008) vi khuẩn E. ictaluri phân lập từ cá tra bị bệnh từ
các trại nuôi từ 2002 đến 2008, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về loài vi
khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên sự kháng thuốc của vi khuẩn ngày càng phát hiện nhiều.
Theo Stock and Bernd (2001) cho rằng tất cả các chủng E.ictaluri thì nhạy cảm với
các kháng sinh: tetracyclines, aminoglycosides, ß-lactam, quinolones, antifolates,
chloramphenicol, nitrofurantoin and fosfomycin, ngoài ra chúng còn thể hiện tính đề
kháng với macrolides, lincosamides, streptogramins, glycopeptides, rifampin and
fusidic acid.
2.2.3 Tồn lưu trong môi trường và sản phầm
Xu hướng hiện nay trong việc phát triển nghề nuôi cá tra là thâm canh hóa để gia
tăng năng suất và sản lượng. Tuy nhiên, thâm canh đã gây ảnh hưởng xấu đến môi
trường nước và làm giảm chất lượng sản phẩm mà tác nhân chính là do hậu quả của
việc sử dụng hóa chất, kháng sinh không đúng cách, đồng thời tạo hệ vi sinh vật
gây bệnh cho người và vật nuôi. Ngoài ra dư lượng hóa chất kháng sinh không đáp
ứng được yêu cầu bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng trong nước cũng như qui định
của các nước nhập khẩu. Do đó nhiều lô thủy sản xuất khẩu đã bị từ chối hoặc tiêu
hủy do phát hiện nhiễm dư lượng hóa chất kháng sinh cấm như: chloramphenicol,
nitrofuran, malachite green, thiệt hại ước tính hàng triệu USD (Lê Thị Huệ, 2006).
Vấn đề tồn lưu kháng sinh, hóa chất trong cá thương phẩm trong các trại nuôi cá tra
thâm canh ở An Giang và Cần Thơ năm 2005 cho thấy các chỉ tiêu như:
chloramphenicol, nitrofuran và nhóm tetracycline đều không phát hiện, nhưng nhóm
sulfonamid thì có 8 mẫu (12,5%), nhóm quinolone có 3 mẫu (4,67%) dưới mức giới
thảo về một số kháng sinh, hóa dược, chế phẩm sinh học dự định được thay thế
kháng sinh cấm sử dụng trong NTTS nhằm làm giảm những tác hại không mong
muốn gây ra cho con người.
Đối với các kháng sinh như erythromycin, rifampin được dùng để thay thế
cho kháng sinh chloramphenicol, nitrofuran, furazon. Kháng sinh bactrim và
doxycycline thì thay cho chloramphenicol, nitrofuran, furazon và metrodidazole.
Kháng sinh chlortetracyclin dùng thay cho kháng sinh cấm hiện nay là
chloramphenicol và nitrofuran. Bên cạnh đó còn có một số hóa dược như MS-222
thay thế cho kháng sinh chloroform và chlorpromazine trong điều trị. Ngoài ra còn
10
có nhóm thuốc sát khuẩn như tricloisocyanuric acid (TCCA), BKC, chlorine, dung
dịch anolyte, iodine, formalin và KMnO4 thì dùng để thay thế các chất khử trùng có
độc lực cao. Quan trọng hơn là việc dùng chế phẩm sinh học như các vi sinh vật hữu
ích, men vi sinh, chiết xuất của thực vật (trừ Aristolochia spp), β Glucan, Vắc-xin
vô hoạt, Bacterin giải độc tố, kháng thể và vitamin các loại để thay thế các loại
kháng sinh cấm.
Bảng 2.2: Khả năng ảnh hưởng của thuốc và hóa chất dùng trong NTTS đến sức khỏe con
người (Kimbrell and Letterman, 2005).
STT Thuốc và
hóa chất
Ví dụ Loài bị nhiễm Khả năng nguy hiểm
1 Kháng sinh Oxytetracycline,
Chloramphenicol,
Sulfadimethoxine-
ormethoprim,
Amoxicillin
trihydrate,
Nitrofurans
Gây dị ứng, gây độc, gây
ảnh hưởng ngoài dự kiến.
6 Hormone Bovine growth
hormone (rBGH)
Hai mảnh vỏ
(sò, nghêu)
Có liên quan đến ung thư
2.3 Sơ lược các nghiên cứu về thảo dược
Trong lịch sử y học cổ truyền Việt Nam vấn đề nghiên cứu về cây thuốc để trị bệnh
cho người và động vật đã có từ thế kỷ 17 do Đại y thiền sư Tuệ Tĩnh với hai tác
phẩm “ Nam dược thần hiệu” mô tả 580 vị thuốc trong 3.873 bài thuốc dân gian và
11
“Hồng nghĩa gia thủ thư” tóm tắt về 680 vị thuốc. Sau đó lương y Lê Hữu Trác tức
Hải Thượng Lãn Ông (1720-1791) là tác giả của 30 tập sách về y học cổ truyền Việt
Nam. Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đỗ Tất Lợi, đã nghiên cứu và biên
soạn cuốn sách “Medicinal Plants and Drugs from Vietnam” dày hơn 1.200 trang về
cây thuốc, động vật và khoáng vật làm thuốc ở Việt Nam (Đỗ Tất Lợi Và Nguyễn
Xuân Dũng, 1991). Từ đó cho thấy tầm quan trọng của thảo dược trong phòng trị
bệnh ở người và động vật và đã được nghiên cứu từ rất lâu.
Đối với NTTS việc sử dụng các hoạt chất có nguồn gốc thực vật trong việc
phòng bệnh đã được người dân áp dụng từ rất lâu theo kinh nghiệm. Một số thảo
mộc có hoạt chất sinh học có thể sử dụng trong NTTS như: Hành (Allium
fistulosum), tỏi (Allium sativum L.) có chất alixin có tác dụng kháng khuẩn mạnh
(Đỗ Tất Lợi, 2004; Bùi Quang Tề và ctv. 2006a), hẹ (Allium odorum L.) có chất
odorin có tác dụng ức chế vi trùng Staphyllo coccus aureus và Bacillus coli và một
số cây dùng trong diệt tạp như dây thuốc cá (Derris elliptica) có chất rotenone, có
nhiều trong rễ cây, cỏ sữa lá nhỏ (Euphorbia thymifolia Burm) trong toàn bộ cây có
chứa cosmosilin, taraxerol, tirucallol và myrixylacohol có tác dụng ức chế sinh sản
của nhiều loài vi trùng (Đỗ Tất Lợi, 2004; Phan Xuân Thanh và ctv, 2003).
thức có cho ăn Methanolic. Nghiệm thức cho ăn 800 mg Methanolic/kg thức ăn có
tỷ lệ sống 74% khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức cho ăn Methanolic còn
lại (p<0,0001). Với tôm sú bị bệnh mềm vỏ do Vibrio spp, theo Bùi Quang Tề và
ctv. (2006a) phối hợp chất chiết từ tỏi (Alltium sativum) và sài đất (Weledia
calendualacea) có thể phòng trị được bệnh này. Immanuel et al. (2004) báo cáo
rằng giàu hóa Artemia bằng butanolic chiết từ thực vật (cây Thầu dầu (Ricinus
communis), Diệp hạ châu (Phyllanthus niruri), Húng cay đất (Leucus aspera),
Khoai mì (Manihot esculenta)) và rong biển (Rong mơ (Ulva lactuca và Rong nâu
(Sargassum wightii)) làm tăng tỷ lệ sống của tôm he Ấn Độ (Penaeus indicus) giai
đoạn giống từ 24,4 lên 43,3-58,9%, tốc độ tăng trưởng từ 1,1%/ngày lên 1,46-2,15
%/ngày và giảm nồng độ vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus trong cơ và gan tụy từ
3,71 x10
5
và 3,86 x10
5
CFU/g xuống 1,36-2,03 x10
5
và 1,47-2,16x10
5
CFU/g.
Tại Trung Quốc, Zheng et al. (2009) chứng minh tinh dầu cây lá thơm
orengano (Origanum heracleoticum) thêm vào khẩu phần thức ăn cá Nheo bị nhiễm
Aeromonas hydrophila thì cá vẫn tăng trưởng khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng
(P<0,005) và c
hức năng gan và các cơ quan nội
tạng được cải thiện (P<0,005). Hoạt
động chống oxy hóa của cá cũng tăng lên. Kết quả của Jeney et al. (2008) cho thấy
trộn thảo dược Hoàng kỳ (Astragalus radix) và Kim ngân (Lonicera japonica) vào
thức ăn có thể tăng cường hệ miễn dịch cá chép và rô phi chống lại vi khuẩn
A.hydrophila. Theo Yin et al. (2006) bổ sung Hoàng kỳ (Astragalus radix) 0,1-0,5%
corticata). Kết quả C.taxifolia, C.antennina và G. corticata có khả năng chống lại vi
khuẩn Bacillus subtilis. Gracilaria corticata còn có tác dụng chống lại nấm
Candida albicans. Nhưng không có chất chiết nào có thể ức chế vi khuẩn
Pseudomonas aeurginosa, nấm Aspergillus flavus và Fusarium oxysporum.
14
Thí nghiệm cho cá Rô phi (Oreochromis niloticus) ăn 2 loại thảo dược Hoàng
kỳ (Astragalus membranaceus) và Kim ngân (Lonicera japonica) 0,1% trong 4
tuần. Kết quả cho thấy hệ miễn dịch của cá được tăng cường. Hoạt động đại thực
bào, hô hấp của tế bào máu được tăng cường, tỷ lệ sống tăng lên (Ardó et al., 2008).
Cũng trên cá Rô phi, Pachanawan et al. (2008) chứng minh có thể sử dụng lá ổi
(Psidium guajava) để kiểm soát bệnh do Aeromonas hydrophila gây ra. Vi khuẩn
Aeromonas hydrophila gây bệnh trên cá Trê trắng (Clarias batrachus) cũng sẽ được
kiểm soát chất chiết từ Xuyên tâm liên (Andrographis paniculata) (Balasundaram
and Harikrishnan, 2009). Theo Bùi Quang Tề và ctv. (2006a) phối hợp chất chiết từ
tỏi và sài đất cũng có tác dụng tốt để tăng cường hệ miễn dịch cá Tra với mầm bệnh
xuất huyết (do A.hydrophila) và mủ gan (do Edwardsiella tarda và Hafnia alvei)
gây ra. Theo Harikrishnan et al. (2003) ngâm cá chép đã gây cảm nhiễm A.
hydrophila nồng độ 10
8
cfu/ml bằng lá Sầu đâu (Azadirachta indica) 1g/l trong 10
phút suốt 30 ngày để kiểm tra sự thay đổi thành phần sinh hóa. Kết quả tế bào bạch
cầu, tế bào hồng cầu, mức protein huyết thanh tăng có ý nghĩa thống kê so với cá
đối chứng. Tuy nhiên mức glucose, cholesterol và calcium trong huyết thanh giảm
dần theo các lần thu mẫu. Trên cá vàng (Carassius auratus) và cá chép gây cảm
nhiễm nhân tạo bằng A.hydrophila được ăn kết hợp Probiotics (Lactobacillus sp. và
Sporolac sp.) và 3 loại thảo. Kết quả cho thấy cả probiotics và thảo dược điều có tác
dụng giúp cá hồi phục tốt sau 24 ngày (Harikrishnan. R and C. Balasundaram,
2009).
Tại Việt Nam, Phan Xuân Thanh và ctv. (2003) đã đánh giá 25 loài cây (tỏi,
Amin và Sacarosa, Glucosa, tinh bột, chất nhầy, gôm, hơi có phản ứng Alcaloid.
Ngoài ra còn có nhiều loại Acid Amin, Protid (6,16- 9,9%), Cholin, Betain, Acid
Folic, Vitamin P, Amylase, Palmatic acid, Linoleic acid, Linolenic acid, Coriolic
acid.
16
Theo Đỗ Tất Lợi (2004) cho rằng Hoàng kỳ (Astragalus membranaceus (Fish)
Bunge) là một cây sống lâu năm, cao 50-80 cm, rễ cái dài và mọc sâu, rất khó bẻ,
đường kính 1-3 cm, vỏ ngoài màu vàng đỏ hay nâu và là bộ phận chính dùng làm
thuốc. Trong hoàng kỳ có cholin betain, nhiều axit amin và sacaroza. Cho đến nay
chúng ta vẫn phải nhập hoàng kỳ của Trung Quốc, mặc dù đã được trồng thử
nghiệm trong nước cho kết quả tốt nhưng chưa đưa vào trồng phổ biến.
Tác dụng dược lý của cây Hoàng kỳ
Theo Y học cổ truyền Việt Nam cho rằng Hoàng kỳ có tác dụng làm tăng cường hệ
miễn dịch của cơ thể bằng cách làm tăng chức năng thực bào của hệ thống tế bào
lưới, ngoài ra còn có khả năng làm cho tế bào tương của lách súc vật tăng sinh, thức
đẩy sự hình thành kháng thể và nâng cao tính miễn dịch thể dịch. Bên cạnh đó còn
thúc đẩy quá trình chuyển hóa trong cơ thể như chuyển hóa sinh lý tế bào bằng cách
điều chỉnh cAMP và cGMP trong tế bào, thúc đẩy sự chuyển hóa protid của huyết
thanh và gan.
Theo Đỗ Tất Lợi (2004). Một số tác dụng dược lý của hoàng kỳ đã được ghi
nhận: kéo dài chu kỳ động kinh của chuột bạch, tăng sự co bóp của tim, lợi tiểu, có
tác dụng như kháng sinh (đối với vi trùng lị Shiga) trong ống nghiệm.
17
CHƯƠNG 3
2
O, KH
2
PO
4
, Formaline
(37%), Methyl violet, nước cất, Methanol, Glycerol, dung dịch Wright&Giemsa,
Acid nitric, môi trường TSA, NB, cồn đốt, cồn 70
0
C.
− Nguồn cá tra thí nghiệm được mua từ trại cá giống ở Thành phố Cần Thơ.
− Chiết xuất hoàng kỳ (40% polysaccharide) do hãng Xuancheng Baicao, Trung
Quốc sản xuất.
− Nguồn vi khuẩn E. ictaluri CAF 258 từ bộ sưu tập vi khuẩn của Bộ môn Sinh
học và Bệnh Thủy Sản, Khoa Thủy Sản, Đại Học Cần Thơ.
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phục hồi và nuôi tăng sinh vi khuẩn
Chủng vi khuẩn thí nghiệm được phục hồi trên môi trường TSA. Sau 48 giờ quan
sát hình dạng, màu sắc khuẩn lạc và nhuộm gram kiểm tra tính thuần của chủng vi
khuẩn được phân lập. Sau đó nuôi tăng sinh trong môi trường BHI để chuẩn bị cho
thí nghiệm xác định LD
50
và thí nghiệm cảm nhiễm.