TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
TRƯƠNG BÍCH NGỌC ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẾ ĐỘ THAY NƯỚC ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG ỐC BƯƠU ĐỒNG
(Pila polita)
TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG ỐC BƯƠU ĐỒNG
(Pila polita) LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGs.Ts. NGÔ THỊ THU THẢO
20141
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẾ ĐỘ THAY NƯỚC ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG ỐC BƯƠU ĐỒNG (PILA POLITA) GIAI
ĐOẠN GIỐNG
3 so với NT1, 4. Ốc đạt khối lượng và chiều cao ở NT2 (0,32g và 11,47 mm) cao
hơn so với NT3 (0,29g và 10,90 mm), NT4 (0,25g và 10,68 mm) và thấp nhất NT1
(0,23g và 10,51 mm). Kết quả nghiên cứu cho thấy chế độ thay nước 10 và 15
ngày cho tăng trưởng và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng giống đạt cao hơn so với
thay nước sau 5 hoặc 20 ngày.
Từ khóa: Ốc bươu đồng, Pila polita, nuôi, thay nước
1 GIỚI THIỆU 2
Ốc bươu đồng phân bố chủ yếu ở môi trường nước ngọt và là loài ốc bản
địa Đồng Bằng Sông Cửu Long. Những năm qua, do sự xâm nhập của ốc bươu
vàng cùng với sự ô nhiễm môi trường do chất thải nông nghiệp, sinh hoạt.v.v, làm
cho quần thể ốc bươu đồng ngoài tự nhiên giảm một cách đáng kể. Hiện nay, ốc
bươu đồng là một trong những loại đặc sản được nhiều người ưa chuộng do giá trị
dinh dưỡng. Những món ăn được chế biến từ ốc bươu đồng có chất lượng thơm
ngon cung cấp lượng đạm, canxi, axit amin, Giá trị thương phẩm tăng dẫn đến
nguồn lợi ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm do sự khai thác quá mức vì lợi ích
kinh tế. Chính vì vậy mà các nghiên cứu về ốc bươu đồng đang được quan tâm
như: ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của
ốc bươu đồng (Lê Văn Bình et al, 2013), ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi
đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của ốc nhồi (Nguyễn Thị Bình et al, 2012), ảnh
hưởng của rau xanh và thức ăn công nghiệp đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc
bươu đồng (Pila polita) giai đoạn giống (Ngô Thị Thu Thảo, 2013). Nhưng các
nghiên cứu trên chủ yếu về tính ăn của ốc và hiện nay chưa có nghiên cứu về ảnh
hưởng của chế độ thay nước đến sinh trưởng và tỷ lệ sống ốc bươu đồng trong giai
đoạn ương để tìm ra chế độ thay nước phù hợp với đặc điểm sinh học và sinh
trưởng của ốc. Nghiên cứu ảnh hưởng của các chế độ thay nước đến sinh trưởng
và tỷ lệ sống ốc bươu đồng được thực hiên, nhằm tìm ra chế độ thay nước thích
hợp trong ương nuôi giống ốc bươu đồng.
, độ kiềm, pH kiểm tra bằng bộ test SERA (Đức) theo định
kỳ 10 ngày/lần.
Tăng trưởng và tỷ lệ sống
Tiến hành thu mẫu định kỳ 10 ngày/lần để đo chiều cao, cân khối lượng và
đếm số lượng ốc trong bể ương để tính tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và hệ số thức
ăn.
Phương pháp xác định chiều cao và khối lượng ốc: Xác định khối lượng ốc,
sử dụng khăn bông thấm cho ráo nước trước khi cân mẫu, sau đó sử dụng cân 5
con/lần và lặp lại 6 lần/bể. Chiều cao ốc được đo từ đỉnh ốc xuống vành miệng ốc
(đo khoảng cách cao nhất) bằng thước kẹp Caliper (đơn vị 0,01 mm).
Tăng trưởng khối lượng tuyệt đối: TTKL (mg/ngày) =
t
WW
t 0
Tăng trưởng khối lương tương đối: C
w
(%/ngày) =
t
WW
t
)ln()ln(
0
×100
Trong đó: (W
o
): là khối lượng ban đầu (mg); (W
t
2
): là số cá thể tại thời
điểm thu mẫu (con)
Sử dụng phần mềm Excel để tính các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, vẽ
đồ thị. Phân tích ANOVA một nhân tố bằng phần mềm SPSS để so sánh sự khác 4
biệt của giá trị trung bình giữa các nghiệm thức ở mức P<0,05 với kiểm định
Duncan.
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Các yếu tố môi trường
Trung bình nhiệt độ buổi sáng và chiều giữa các nghiệm thức không có sự
khác biệt thống kê (P>0,05). Nhiệt độ trung bình buổi sáng biến động từ 2,79 –
24,92
o
C, trung bình khoảng 24,84
o
C. Trung bình nhiệt độ buổi chiều biến động từ
27,25 – 27,45
o
C, trung bình khoảng 27,40
o
C (Bảng 1).
Bảng 1. Trung bình nhiệt độ sáng, chiều (
o
C), pH, độ kiềm, TAN, NO
2
-
của các
27,25±0,40
a
pH
Độ kiềm (mg/L)
TAN (mg/L)
NO
2
-
(mg/L)
7,67±0,15
a
77,01±5,36
a
0,11±0,01
a
0,11±0,01
a
7,71±0,08
a
78,35±3,56
a
0,12±0,00
a
0,14±0,01
ab
7,70±0,07
a
74,73±3,56
a
nghiệm thức, chu kì thay nước dài thì hàm lượng TAN biến động lớn, chu kì thay
nước ngắn thì hàm lượng TAN cũng biến động nhưng thấp hơn (Hình 1). Theo
Trương Quốc Phú et al (2003) trong môi trường nước ngọt hàm lượng TAN an 5
toàn cho ao nuôi 0,2 – 2 mg/L. Từ nhận định trên cho thấy hàm lượng TAN của thí
nghiệm vẫn nằm trong giới hạn cho phép.
Trung bình hàm lượng NO
2
-
tăng dần từ chu kì thay nước 5 ngày đến chu kì
20 ngày (0,11 – 0,34 mg/L), và khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) giữa chu kì
thay nước 5, 10, 15 ngày so với 20 ngày (Bảng 2). Hàm lượng NO
2
-
phụ thuộc rất
rõ vào chu kì thay nước, chu kỳ thay nước càng kéo dài thì biến động hàm lượng
NO
2
-
càng cao. Kết quả nghiên cứu của Lê Văn Bình et al (2013) trên ốc bươu
đồng cho thấy hàm lượng NO
2
-
biến động trong khoảng 0,3 – 0,62 mg/L, kết quả
cho thấy hàm lượng NO
2
-
trong thí nghiệm thấp hơn nhiều so với nghiên cứu. Từ
Bình (2012) tỷ lệ sống của ốc nuôi trong ao đất và giai lưới lần lượt là (67,50%) và
(59,50%). So với kết quả trên cho thấy tỷ lệ sống của ốc bươu đồng trong thí
nghiệm này đạt tương đối cao hơn.
Bảng 2. Tỷ lệ sống (%) và hệ số tiêu tốn thức ăn của ốc thí nghiệm
Chỉ tiêu
Chu kì thay nước (ngày/lần)
5
10
15
20
Tỷ lệ sống (%)
72,89±5,39
b
80±1,15
c
78,89±0,38
c
67,11±1,39
a
Những giá trị trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Từ ngày 1 – 10 tỷ lệ sống của ốc có xu hướng giảm nhưng tương đối ổn
định, tuy nhiên từ ngày 20 đến kết thúc thí nghiệm có sự chêch lệch giữa chu kì
thay nước 5, 20 ngày với 10, 15 ngày. Chu kì thay nước ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ
sống chu kì thay nước quá dài hoặc thường xuyên thì tỷ lệ sống ốc càng giảm.
Nguyên nhân do chu kì thay nước quá dài thì các yếu tố môi trường biến động xấu
và 0,03 g/con, sau 40 ngày nuôi thì chiều cao và khối lượng ốc đạt cao nhất ở chu
kì thay nước 10 ngày (11,47 mm; 0,32g) tiếp theo là 15 ngày (10,90 mm; 0,29g),
kế đến 20 ngày (10,68 mm; 0,25 g) và thấp nhất 5 ngày (10,51 mm; 0,23g) và
khác biệt thống kê (P<0,05) giữa chu kì 10 ngày với 5, 15, 20 ngày. Kết quả
nghiên cứu của Ngô Thị Thu Thảo (2013) trên ốc bươu đồng khi bố trí ốc có khối
lượng và chiều cao vỏ (0,03 g/con; 4,03 mm/con) ở nghiệm thức thức ăn công
nghiệp, sau 35 ngày ương chiều cao và khối lượng ốc đạt 15,69 mm/con; 0,83
g/con. Từ nhận định trên cho thấy chiều cao và khối lượng ốc bươu đồng thí
nghiệm thấp hơn so với kết quả nghiên cứu từ kết quả trên cho thấy chu kì thay
nước ảnh hưởng rất rõ đến tốc độ sinh trưởng của ốc.
7 Bảng 3. Trung bình chiều cao (mm) và khối lượng (g) ốc bươu đồng
Chỉ tiêu
Chu kì thay nước (ngày/lần)
5
10
15
20
Chiều cao ngày 1 (mm)
4,44±0,14
a
4,57±0,11
b
0,03±0,00
a
Khối lượng ngày 40 (g)
0,23±0,02
a
0,32±0,02
c
0,29±0,02
b
0,25±0,00
a
Những giá trị trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Tốc độ tăng trưởng chiều cao và khối lượng ốc bươu đồng có xu hướng
tăng theo thời gian thí nghiệm, giai đoạn đầu tốc độ tăng trưởng tương đối chậm từ
ngày 20 đến kết thúc thí nghiệm tốc độ tăng trưởng có sự chênh lệch cao giữa các
chu kì thay nước khác nhau (Hình 4). Tốc độ tăng trưởng chiều cao và khối lượng
ốc ở chu kì thay nước 10, 15 ngày tăng nhanh hơn so với các chu kì 5, 20 ngày, từ
nghiên cứu cho thấy chu kì thay nước khác nhau ảnh hưởng rõ rệt đến tốc độ tăng
trưởng của ốc, chu kì thay nước thường xuyên hoặc quá dài sẽ hạn chế quá trình
sinh trưởng của ốc.
a
0,12±0,03
a
0,11±0,06
a
0,12±0,02
a
11-20
0,15±0,02
b
0,15±0,01
b
0,14±0,03
b
0,13±0,02
a
21-30
0,12±0,00
a
0,16±0,01
c
0,13±0,01
a
Những giá trị trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Trung bình tăng trưởng tương đối về chiều cao từ ngày 1 – 10 không khác
biệt (P>0,05), nhưng giữa các lần thu mẫu tiếp theo đến kết thúc thí nghiệm có sự
khác biệt thống kê (P<0,05). Tăng trưởng tương đối đạt cao nhất ở chu kì thay
nước 10 ngày (2,40%/ngày) và thấp nhất ở chu kì 20 ngày (2,16%/ngày). Nhìn
chung tốc độ tăng trưởng giữa các chu kì thay nước khác nhau của ốc không ổn
định theo thời gian thí nghiệm, giá trị này ở chu kì thay nước 5, 10, 15 ngày tương
đối ổn định từ ngày 1 – 20, nhưng có xu hướng giảm từ ngày 20 cho đến khi kết
thúc thí nghiệm, trong khi đó chu kì thay nước 20 ngày giảm từ ngày 1 – 30,
nhưng từ ngày 30 trở đi có xu hướng tăng trở lại.
Bảng 5. Tốc độ tăng trưởng trung bình chiều cao tương đối (%/ngày) của ốc
Ngày
TN
Chu kỳ thay nước (ngày/lần)
5
10
15
20
1-10
2,36±0,20
a
2,39±0,49
a
2,19±0,16
31-40
2,15±0,13
a
2,29±0,06
b
2,21±0,24
ab
2,11±0,19
a
TB
2,28±0,23
a
2,40±0,10
a
2,26±0,13
a
2,16±0,11
a
Những giá trị trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
2,61±0,28
d
2,38±0,10
c
11-20
3,37±0,69
b
3,59±0,57
c
3,37±0,20
b
2,99±0,12
a
21-30
3,80±0,50
a
4,86±0,46
d
4,34±0,37
c
Trung bình tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng có sự khác biệt
thống kê giữa chu kì thay nước 10, 15 ngày so với 5 ngày tuy nhiên không khác
biệt thống kê với 20 ngày. Giá trị này đạt cao nhất ở chu kì 10, 15 ngày
(6,41%/ngày) tiếp theo 20 ngày (6,05 %/ngày) và thấp nhất 5 ngày (5,84%/ngày).
Kết quả nghiên cứu của Lê Văn Bình (2013), sau 35 ngày ương nuôi khối lượng
tương đối ốc đạt 5,55 – 8,20 %/ngày. Từ nghiên cứu trên cho thấy tốc độ tăng
trưởng của ốc bươu đồng thí nghiệm tương đối thấp hơn. Tăng trưởng khối lượng
tương đối của ốc theo thời gian thí nghiệm không ổn định giữa các nghiệm thức,
từ ngày 1 – 20 tăng trưởng khối lượng chu kì 5 , 10 ngày tương đối đều nhưng ở
chu kì 15, 20 ngày có xu hướng giảm và từ ngày 20 đến kết thúc thí nghiệm tốc độ
tăng trưởng khối lượng tương đối đều giảm. 10
Bảng 6. Tốc độ tăng trưởng trung bình khối lượng tương đối (%/ngày) của ốc
bươu đồng
Ngày
TN
Chu kỳ thay nước (ngày/lần)
5
10
15
20
1-10
d
6,07±0,24
c
5,85±0,30
b
31-40
5,45±0,27
a
6,29±0,17
c
5,96±0,11
b
5,64±0,10
a
TB
5,84±0,45
a
6,41±0,20
b
6,41±0,51
b
Tỷ lệ sống ốc ở chu kì thay nước 10 ngày (80%) và 15 ngày (78,98%) đạt
tỷ lệ sống cao hơn so với chu kì thay nước 5 ngày (72,89%) và 20 ngày (67,11%). 11
Chiều cao và khối lượng cơ thể ốc ở chu kì thay nước 10 ngày (11,47 mm;
0,32g) và 15 ngày (10,90 mm; 0,29g) cao hơn so với 20 ngày (10, 68 mm; 0,25g)
và 5 ngày (10,51 mm; 0,23g).
2 Kiến nghị
Khi ương ốc bươu đồng giai đoạn giống nên chọn chu kì thay nước 10 hoặc
15 ngày/lần, không nên thay nước thường xuyên hoặc quá lâu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lê Văn Bình và Ngô Thị Thu Thảo, 2013. Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác
nhau đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng. Tạp chí Nông nghiệp –
Phát triển nông thôn, số 18/2013: trang 84 – 90.
Ngô Thị Thu Thảo, 2012. Ảnh hưởng của chế độ thay nước khác nhau đến sinh
trưởng và tỷ lệ sống của ốc len (Cerithidea obtusa). Tạp chí khoa học, Đại học
Cần Thơ, số 24b, ISSN (1859 – 2333): trang 455 – 456.
Ngô Thị Thu Thảo, Lê Văn Bình và Lê Ngọc Việt, 2013. Ảnh hưởng của rau xanh
và thức ăn công nghiệp đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng giống
(Pila polita) giai đoạn giống. Tạp chí khoa học, Đại học Cần Thơ, số 28, ISSN
(1859 – 2333): trang 151 – 156.
Nguyễn Thị Bình, Tạ Thị Bình và Mai Duy Minh, 2012. Ảnh hưởng của thức ăn
và mật độ nuôi đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của ốc nhồi. Nông nghiệp và phát
triển nông thôn – Kỳ 1 – tháng 12/2012: trang 57 – 61.
Nguyễn Thị Xuân Thu, 2002. Đặc điểm sinh học, kỹ thuật sản xuất giống và nuôi
ốc hương (Babylonia areolata, Link 1807). Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội.
54 trang.
Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2003. Quản lý chất lượng nước trong ao nuôi
cá nước ngọt. Nhà xuất bản Nông Nghiệp. 201 trang.