khảo sát mầm bệnh vi khuẩn và vi nấm trên cá lóc nuôi thâm canh ở một số tỉnh đồng bằng sông cửu long - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
TRƯƠNG SĨ KHUYẾN KHẢO SÁT MẦM BỆNH VI KHUẨN VÀ VI NẤM TRÊN CÁ
LÓC NUÔI THÂM CANH Ở MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN 2014

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

KHOA THỦY SẢN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Tên đề tài

Khảo sát mầm bệnh vi khuẩn và vi nấm trên cá lóc
(channa striata) nuôi thâm canh ở An Giang và Đồng
Tháp
Bậc đào tạo
Đại học
Ngành/Chuyên ngành
Bệnh học thủy sản
Năm
2014
Sinh viên/ học viên/ NCS thực hiện (MSSV)
3112969
Số trang
13
Cán bộ hướng dẫn
Nguyễn Thị Thu Hằng
Nguồn kinh phí
Tóm tắt Đề tài nhằm khảo sát một số loài vi khuẩn và vi nấm thường gây bệnh trên cá lóc (Channa striata) nuôi
thâm canh trong ao ở An Giang và Đồng Tháp. Tổng số có 123 mẫu cá được thu trong thời gian từ tháng 9
đến tháng 10 năm 2014. Mẫu cá có dấu hiệu bệnh lý như bơi lờ đờ, lở loét, xuất huyết, thận và tỳ tạng có
nhiều đốm trắng, vây tưa rách. Kết quả phân lập được 46 chủng vi khuẩn và định danh được 43 chủng

ABSTRACT
The aim of the study was to survey some species of bacteria and fungi which
are pathegen of snakehead (Channa striata) in intensive culture system in An
Giang and Dong Thap. A total of 123 fish samples were collected from
September to Octorber 2014. Fish samples which showed the clinical signs
such as leaden swimming, ulcers, hemorrhage, white spots on kidney and
spleen, ragged fins. The result indicated 46 isolated bacterial strains and 43
strains were identified as Pseudomonas based on some physiological and
biochemical criteria; There were 5 isolated fungal strains. According to
morphological characteristic, growth rate of colony, charateristic of hyphae
and spore, and classification course of Coker (1923), 2 strains of genus
Achlya and 3 strains of genus Geotrichum were identified, with frequency of
occurrence of pseudomonas sp. was 93.48% and Achlya was 40%, Geotrichum
was 60%.
Key word: Channa striata, bacteria, fungi, pseudomonas sp.
TÓM TẮT
Đề tài nhằm khảo sát một số loài vi khuẩn và vi nấm thường gây bệnh trên cá
lóc (Channa striata) nuôi thâm canh trong ao ở An Giang và Đồng Tháp.
Tổng số có 123 mẫu cá được thu trong thời gian từ tháng 9 đến tháng 10 năm
2014. Mẫu cá có dấu hiệu bệnh lý như bơi lờ đờ, lở loét, xuất huyết, thận và tỳ
tạng có nhiều đốm trắng, vây tưa rách. Kết quả phân lập được 46 chủng vi
khuẩn và định danh được 43 chủng thuộc giống Pseudomonas dựa vào một số
chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa; Vi nấm phân lập được 5 chủng và dựa theo đặc điểm
hình thái, tốc độ phát triển khuẩn lạc và đặc điểm của sợi nấm và bào tử, theo
khóa phân loại của Coker (1923) đã định danh được 2 chủng thuộc giống
Achlya và 3 chủng thuộc giống Geotrichum. Với tần suất xuất hiện của vi
khuẩn Pseudomonas sp. là 93,48%, vi nấm Achlya là 40% và Geotrichum là
60%.
Từ khóa: Cá lóc (Channa striata), vi khuẩn, nấm, pseudomonas sp.
2

canh nên đề tài “Khảo sát mầm bệnh vi khuẩn và vi nấm trên cá lóc
(Channa striata) nuôi thâm canh ở một số vùng Đồng bằng Sông Cửu
Long” được thực hiện.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp thu mẫu bệnh phẩm cá lóc
Mẫu cá lóc bệnh được thu từ 14 ao nuôi thâm canh ở Đồng Tháp, 6 ao nuôi
thâm canh ở An Giang. Mẫu được thu trong khoảng thời gian có cá bệnh xuất
3

hiện ở tháng 9 và tháng 10 năm 2014. Tổng cộng thu được 123 mẫu được ghi
nhận dấu hiệu bên ngoài, giải phẫu và quan sát dấu hiệu trên các cơ quan nội
tạng. Mẫu cá được phân tích tại phòng thí nghiệm Bộ môn Bệnh học Thủy sản
– Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ.
2.2 Phương pháp phân lập và định danh vi khuẩn
Phân lập vi khuẩn
Quan sát và ghi nhận dấu hiệu bệnh lý bên ngoài. Dùng cồn 70% sát trùng bên
ngoài cá, lau sạch, mổ xoang bụng, quan sát và ghi nhận dấu hiệu bên trong.
Phân lập vi khuẩn bằng cách rạch một đường ở gan, thận và tỳ tạng bằng dao
tiệt trùng, dùng que cấy lấy mẫu bệnh phẩm từ điểm vừa rạch và cấy trên môi
trường TSA. Mẫu cấy được ủ ở nhiệt độ 28
o
C. Sau 24 đến 48 giờ, ghi nhận
màu sắc, hình dạng, kích thước khuẩn lạc và tiến hành tách ròng đến khi được
đĩa cấy thuần (Đặng Thị Hoàng Oanh, 2011)
Định danh vi khuẩn
Các chỉ tiêu về hình thái, một số chỉ tiều về sinh lý và sinh hóa được chọn để
xác định vi khuẩn phân lập được trên cá lóc bệnh theo các chỉ tiêu định danh
vi khuẩn mô tả bởi Barrow và Feltham (1993). Hình dạng, kích thước và tính
ròng của vi khuẩn được xác định bằng phương pháp nhuộm Gram (Barrow và
Feltham, 1993). Đặc điểm sinh lý, sinh hóa được xác định theo cẩm nang của

xuất hiện những điểm xuất huyết nhỏ li ti, màu sắc nhợt nhạt, vây và xoang
miệng xuất huyết (Hình 1A), đặc biệt một số có dấu hiệu bệnh lý nặng hơn
như có các vết loét ăn sâu vào cơ, mòn, cụt vi đuôi và xuất hiện các búi bông
gòn trên vết loét (Hình 1B và hình 1C). Bên cạnh đó, khi giải phẩu thấy có
nhiều đốm trắng trên gan, thận, tỳ tạng và gan có màu đỏ bầm (Hình 1D).Kết
quả này tương tự với kết quả nghiên cứu khảo sát mầm bệnh trên cá lóc nuôi
thâm canh ở An Giang và Đồng Tháp của Phạm Minh Đức và ctv (2012).
Nghiên cứu này cũng đã xác định cá lóc nhiễm mầm bệnh vi khuẩn và vi nấm
thường có một số dấu hiệu bệnh lý đặc trưng như vảy xù xì, xuất huyết, lở
loét, nhiều nhớt, có các đốm đỏ và trắng xuất hiện trên thân, có đốm trắng trên
gan, thận và tỳ tạng, nội tạng có mùi hôi… Đồng thời các dấu hiệu cá bơi lờ
đờ, ăn ít; thân, vây và đầu bị xuất huyết, nội quan sẫm màu, có chất dịch màu
đỏ bầm trong xoang bụng ở cá lóc giống trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Út
(2013).
5

Hình 1: A: Cá lóc bị xuất huyết toàn thân (mũi tên); B và C: Lở loét trên
thân, mang, mòn cụt vi đuôi và có búi bông gòn xung quanh loét (mũi
tên); D: Gan bầm, có đốm trắng trên gan (mũi tên).
3.2 Kết quả phân lập và định danh vi khuẩn
Kết quả nghiên cứu đã phân lập được 46 chủng vi khuẩn trên cá lóc bị bệnh
nuôi thâm canh trong ao, trong đó có 11 chủng được phân lập trên cá giai đoạn
giống và 35 chủng được phân lập trên cá thịt. Tất cả các chủng vi khuẩn này
đều được kiểm tra các chỉ tiêu sinh lý sinh hóa cơ bản như nhuộm Gram,
oxidase, catalase, di động, O/F. Tất cả các chủng vi khuẩn đều phát triển sau
48 giờ ở nhiệt độ 28
o
C với khuẩn lạc màu vàng, tròn lồi, đường kính khuẩn lạc
từ 2-3mm trên môi trường TSA. Các chủng đều là vi khuẩn Gram âm, hình
que ngắn, di động, hầu hết dương tính với oxiadase (43/46 chủng), có khả

cá. Cá bị bệnh Aeromonas xuất huyết từng vùng ở bụng, xuất hiện từng mảng
đỏ trên cơ thể và các vết thương lưng. Xoang bụng chứa dịch đỏ, nội tạng xuất
huyết. Như vậy, có thể khẳng định Aeromonas chính là tác nhân gây bệnh xuất
huyết trên cá lóc nuôi ao thâm canh ở An Giang và Đồng Tháp.
7

Hình 3: A: Khuẩn lạc Aeromonas hydrophila trên môi trường TSA; B: Vi
khuẩn Aeromonas hydrophila là vi khuẩn Gram âm, hình que.
Bảng 1: Các đặc điểm sinh hóa của vi khuẩn thuộc nhóm Aeromonas
hydrophila
Chỉ
tiêu
Chủng vi khuẩn
TN
2.3G
TN
2.4T
TN
4.1G
TN
4.3T
TN
4.3TT
TN
5.1T
TN
5.1TT
HN
6.1T
TN

-
-
-
-
-
-
ODC
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
CIT
+
+
-
-
-
+
+
+
+
+
H
2

-
-
-
IND
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
VP
+
+
+
+
-
+
+
+
+
+
GEL
+
+
+
+

-
-
-
+
-
-
-
-
-
SOR
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
RHA
-
-
-
-
-
-
-
-
-

-
-
-
-
-
-
-
-
ARA
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Chú thích: HN: Hồng Ngự. TN: Tam Nông. T: Thận, G: Gan, TT: Tỳ tạng.
ONPG: Ortho-nitrophenyl galactosidase, ADH: Arginine, LDC: Lysine, ODC:
Ornithine, CIT: Sodium Citrate, H
2
S: Sodium Thiosulphate, URE: Urea, TDA:
Tryptophane, IND: Tryptophane, VP: Sodium Pyruvate, GEL: Gelatin, GLU:
Glucose, MAN: Mannitol, INO: Inositol, SOR: Sorbitol, RHA: Rhamnose,
SAC: Sucrose, MEL: Melibiose, AMY: Amygdalin, ARA: Arabinose.
3.3 Kết quả phân lập và định danh vi nấm
Kết quả nghiên cứu đã phân lập được 5 chủng vi nấm trên cá lóc giống thu tại
tỉnh An Giang (Không phân lập được trên cá giai đoạn thịt). Dựa vào đặc điểm

(2003) thì nấm Achlya cũng được cho là thuộc nhóm nấm noãn, Oomycetes,
gây bệnh chủ yếu trên trứng và các loài cá nước ngọt. Loài Achlya bisexualis
được ghi nhận nhiễm trên trứng và cá rô phi vằn bột (Oreochromis noloticus)
ở Thái Lan (Panchai et al., 2005) và trên trứng cá tra dầu ở Thái Lan (Abking
et al., 2009).
Nhóm 2: Vi nấm Geotrichum
Các chủng vi nấm bậc cao sau khi phân lập và nuôi cấy được 4 ngày, khuẩn
lạc có một số đặc điểm như đường kính trung bình là 7,5mm, có màu trắng
hình vòng tròn đồng tâm, ngắn sợi và có vách ngăn (Hình 5A), có bào tử trần
và đứt đoạn (Hình 5B). Theo khóa phân loại của Coker (1923) thì 3 chủng vi
khuẩn bậc cao thuộc giống Geotrichum.

Hình 5: A: Khuẩn lạc có màu trắng hình tròn, sợi ngắn; B: Bào tử tròn
đứt đoạn.
Geotrichum là một loài nấm được tìm thấy trên toàn thế giới trong đất, nước,
không khí, nước thải, cũng như trong thực vật, ngũ cốc, và các sản phẩm từ
sữa. Geotrichum cũng thường được tìm thấy trong động vật, con người. Nấm
Geotrichum được mô tả lần đầu vào năm 1809 bởi Johann Heinrich Friedrich
Lind (Carmichael, 1957). Theo nghiên cứu của Phạm Minh Đức và ctv (2012)
là lần đầu tiên tìm thấy vi nấm Geotrichum trên cá lóc nuôi thâm canh ở An
Giang và Đồng Tháp vào khoảng tháng thứ 2 và thứ 3 khi nuôi. Ngoài ra,
Geotrichum cũng xuất hiện trên cá rô đồng bị “nấm nhớt” ở Cần Thơ và Hậu
B
A
10

Giang với các biểu hiện vảy cá xù xì và thân cá phủ một lớp nhớt dày (Phạm
Minh Đức và ctv, 2012).
3.4 Tần suất xuất hiện và tỉ lệ nhiễm vi khuẩn và vi nấm trên cá lóc
Tỉ lệ nhiễm là đại lượng đặc trưng cho mức độ cảm nhiễm của vi khuẩn, vi


Bảng 2: Tỉ lệ nhiễm và tuần suất xuất hiện của các chủng vi khuẩn và vi
nấm trên cá lóc
Tác nhân
Tỉ lệ nhiễm (%)
Tên Giống
Tần suất xuất
hiện (%)
Giống
(n = 55)
Thịt
(n = 68)
Giống
Thịt
Vi khuẩn
12,73
25
Aeromonas
hydrophila
100
91,14
Vi nấm
9,09
-
Achlya
40
-
Geotrichum
60
-


TÀI LIỆU THAM KHẢO
Abking, A., W. Fuangsawat and O. Lawhavinit. 2009. Achlya spp. isolated
from eggs of the Mekong giant catfish (Pangasianodon gigas, Chevey).
Department of Microbiology and Immunology Faculty of Veterinary
Medicine, Kasetsart University Bangkok 10900, Thailand.
Barow, G.I. and R.K.A. Feltham, 1999. Cowan and Steel’s manual for the
identification of medical bacteria. Cambridge university press, Cambridge.
331p.
Carmichael, J.W., (1957) "Geotrichum candidum", Mycologia, Vol. 49, No. 6,
Nov. - Dec., 1.
Coker, W.C. 1923. The Sarproleniacece with notes on other water molds. The
University of North Carolina Press. Chapel Hill. 201 pp.
Đặng Thị Hoàng Oanh, 2011. Nguyên lý và kỹ thuật chẩn đoán bệnh thủy sản.
Nhà xuất bản Nông nghiệp.
Hatai, K. A. Yamamoto and N. Kitancharoen, 1997. Fungicidal effect of
hydrogen peroxide on fungal infection rainbow trout eegs. Mycoscience
38:375-378.
László Ardó, Y. Guojun, V. László, S. Gábor, J. Zsigmond and J. Galina,
2008. Chinese herbs (Astragalus membranaceus and Lonicera japonica)
and boron enhance the non-specific immune response ò Nile tilapia
(Oreochromis niloticus) and resistance against Aeromonas hydrophila.
Aquaculture 275.(2008). 26-33.
Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung, 2009. Khảo sát các mô hình nuôi cá lóc
(Channa micropeltes và Channa striatus) ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản toàn quốc, Đại Học Nông Lâm TP
HCM: T436-447.
Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung, 2010. Hiện trạng và những thách thức cho
nghề nuôi cá lóc ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Tạp chí Nông nghiệp và
phát triển nông thôn 2: 56-63.

Philippines, 1992. Animal Dis. 3: 79-86.
Tanasomwan, V. and K. Saitanu. 1979. Ulcer disease in strided catfish
(Pangasius pangasius). Animal. In Asian Fish Health Biblography and
Abstracts I: Southeast Asia. Fish Health Section Asian Fisheries Society
Manila, Phlippines, 1992. Dis 2: p 131-133.
Từ Thanh Dung, 2008. Bài giảng bệnh vi khuẩn trên động vật thủy sản. Khoa
thủy sản. Trường Đại học Cần Thơ. 127 trang.
Yanong, R. P. E. 2003. Fungal diseases of fish. Vet. Clin. Exot. Anim. 6:377-
400.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status