1 Luận văn
Quản lý rủi ro tận dụng tại Chi
nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn tỉnh Kon Tum -
Thực trạng và giải pháp
2
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tín dụng là hoạt động chủ yếu và là mối quan tâm hàng đầu trong hoạt
động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Mặt khác, trong điều kiện cụ
thể ở nước ta hiện nay cũng như trong thời gian tới, nguồn vốn tín dụng ngân
hàng thương mại là nguồn vốn quan trọng, đóng vai trò chủ lực của các doanh
nghiệp và toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì vậy việc quản lý nhằm
giảm thiểu rủi ro có ý nghĩa quyết định đến hoạt động kinh doanh của một
ngân hàng, một hệ thống ngân hàng thương mại và thậm chí đối với cả nền
kinh tế.
Trong một số năm trở lại đây, vấn đề quản lý rủi ro tín dụng được các
trước mắt và ý nghĩa lâu dài, đáp ứng yêu cầu mục tiêu phát triển ổn định, bền
vững, nâng cao năng lực cạnh tranh. Đó là lý do mà học viên chọn đề tài "
Quản lý rủi ro tớn dụng tại Chi nhỏnh Ngõn hàng Nụng nghiệp và Phỏt
triển Nụng thụn tỉnh Kon Tum - Thực trạng và giải phỏp ".
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hoạt động tín dụng có vai trò quan trọng không những trong hệ thống
các ngân hàng thương mại mà nó còn có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế
quốc gia nên đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý rủi ro tín dụng
như: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong giai đoạn hiện nay, của tác giả
Trần Trung Tường (2005); Tín dụng và nghiệp vụ ngân hàng thương mại, của
tác giả Nguyễn Đăng Đờn, Hoàng Đức, Trần Huy Hoảng, Trường Đại học
Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh (1997);
Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu thường tập trung vào
vấn đề lý luận, đánh giá chung để tìm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín
dụng chứ chưa đi sâu vào phân tích và đề xuất các giải pháp để quản lý rủi ro
tín dụng có hiệu quả theo chuẩn mực để đáp ứng yêu cầu và xu thế hội nhập
4
trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt khi Việt Nam chính thức trở thành thành
viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Trên địa bàn tỉnh Kon Tum, đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về
quản lý rủi ro tín dụng trong Ngân hàng thương mại.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu là trên cơ sở lý luận và những vấn đề thực
tiễn về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHNo&PTNT
tỉnh Kon Tum nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm, ứng dụng giải pháp cụ
thể để nhằm nâng cao năng lực nhận dạng, phân tích, đánh giá, kiểm tra, giám
lý rủi ro tín dụng.
6. Đóng góp của đề tài
6.1. Về mặt lý luận
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng và quản
lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại.
- Khái quát những quy định chủ yếu của pháp luật hiện hành liên quan
đến hoạt động tín dụng.
- Nêu một số vấn đề về quản lý rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế,
một số kinh nghiệm quốc tế về quản lý rủi ro tín dụng
6.2. Về mặt thực tiễn
+ Nâng cao năng lực quản lý rủi ro tín dụng cho cán bộ tại Chi nhánh
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Kon Tum.
+ Nhận dạng rủi ro tín dụng đặc thù tại địa phương và biện pháp quản lý.
+ Đề xuất chiến lược phát triển kinh tế của địa phương thông qua hoạt
động tín dụng ngân hàng.
+ Đề xuất cơ chế, chính sách của Nhà nước, các ngành chức năng, của
địa phương và chế độ cho vay của NHNo&PTNT Việt Nam.
+ Dùng làm tài liệu tham khảo trong hệ thống NHNo&PTNT Việt
Nam.
6
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết.
8
Từ những khái niệm tín dụng nói trên ta nhận thấy rằng tín dụng chính
là việc chuyển giao quyền sử dụng chứ không thay đổi quyền sở hữu, việc
chuyển giao này có thời hạn nhất định và có tính hoàn trả bao gồm cả gốc và
lãi. Phần lãi chính là một phần thu nhập của người sở hữu vốn tín dụng.
Trong Luật các Tổ chức tín dụng ban hành năm 1997, có hiệu lực từ
tháng 10-1998, phần giải thích thuật ngữ không có định nghĩa riêng về tín
dụng. Tuy nhiên thuật ngữ "Hoạt động tín dụng" được giải thích như sau:
"Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn
vốn huy động để cấp tín dụng". Tiếp đó, thuật ngữ cấp tín dụng được giải
thích: "Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử
dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay,
chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác".
Như vậy, theo giải thích trên, thì bản chất của tín dụng ngân hàng đó là
việc cấp một khoản tiền cho khách hàng sử dụng và có nguyên tắc hoàn trả.
Quan điểm của luận văn là đồng tình với khái niệm nói trên về tín dụng và
hoạt động tín dụng, tuy rằng các nghiệp vụ khác được nêu trong Luật các Tổ
chức tín dụng vẫn chưa rõ.
1.1.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế
- NHTM là một trung gian tài chính có vai trò quan trọng trong việc
điều chuyển nguồn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn.
- Tín dụng ngân hàng là một một kênh tạo vốn cho nền kinh tế quốc
dân, nó có vai trò rất quan trọng trong việc ổn định, mở rộng sản xuất, nâng
cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm nó thể hiện như sau:
+ Là một kênh cung ứng vốn nhanh nhất đối với khách hàng, những
người có nhu cầu hợp pháp, tạo điều kiện cung ứng vốn cho khách hàng khi
họ có cơ hội kinh doanh.
+ Tín dụng ngắn hạn, đó là loại cho vay có thời hạn không quá 12
10
tháng. Loại cho vay này nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn của khách hàng,
vốn lưu động của doanh nghiệp.
+ Tín dụng trung hạn, đó là loại cho vay có thời hạn trên 1 năm đến
không quá 5 năm, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung hạn của khách hàng.
+ Tín dụng dài hạn, đó là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, nhằm
đáp ứng nhu cầu đầu tư chiều sâu, đầu tư tài sản cố định, đầu tư thiết bị máy
móc với thời gian hoàn trả vốn dài của khách hàng.
- Dưới góc độ tiền tệ, có hai loại sau đây:
+ Tín dụng nội tệ, đó là cho vay bằng đồng bản tệ của quốc gia đó.
+ Tín dụng ngoại tệ, đó là cho khách hàng vay vốn và giải ngân vốn
vay bằng ngoại tệ, thí dụ như: USD, Euro, Yên Nhật,
- Dưới góc độ mục đích sử dụng vốn vay, có các loại sau đây:
+ Tín dụng sản xuất: cho vay vốn đầu tư cho các mục đích sản xuất
kinh doanh.
+ Tín dụng tiêu dùng: cho vay tiền sử dụng cho các mục đích tiêu dùng,
như: mua ô tô, du học, chữa bệnh ở nước ngoài,
Ngoài ra đứng trên các góc độ khác nhau còn có các loại tín dụng khác
như: tín dụng đồng tài trợ, tín dụng cho vay trả góp, tín dụng cho vay hợp vốn,
1.1.2. Rủi ro tín dụng và những tác động chủ yếu
1.1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường hoạt động kinh doanh của NHTM rất nhạy
cảm với mọi biến động trong nền kinh tế - xã hội, những biến động đó có thể
gây xáo trộn đến các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đối với ngân
hàng, cung ứng tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản, thường mang lại thu
nhập chính cho ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật trên và nó luôn
hiện ra bên ngoài là số tiền cho vay không thu hồi được đầy đủ như mong đợi.
12
Nghiên cứu về rủi ro tín dụng chúng ta cũng cần phân biệt với chất
lượng tín dụng.
Theo tác giả luận văn, thì giữa hai khái niệm này không trùng khớp lẫn
nhau. Rủi ro tín dụng có phạm vi rộng lớn hơn, bao gồm cả các biện pháp
phòng ngừa, hạn chế, xử lý rủi ro. Nó cho thấy rõ hơn những tổn thất tài chính
về hoạt động tín dụng, đó là thu nợ vốn vay không đúng hạn ảnh hưởng đến
kế hoạch sử dụng vốn. Thu lãi không đúng kế hoạch, ảnh hưởng đến kế hoạch
tài chính. Vốn cho vay bị thất thoát, lãi không thu được gây suy giảm tài
chính. Kinh doanh ngân hàng kém hiệu quả, có thể dẫn đến thua lỗ kéo dài,
suy giảm uy tín và có thể dẫn ngân hàng đến phá sản.
Còn chất lượng tín dụng phản ánh chất lượng cho vay, được thể hiện ở
các chỉ tiêu: tỷ lệ NQH, tỷ lệ nợ xấu, mà chưa phản ánh đầy đủ hậu quả về
mặt tài chính. Tất nhiên tỷ lệ NQH cao, số nợ xấu lớn cũng phản ánh ngân
hàng kinh doanh kém hiệu quả nhưng chưa đầy đủ. Từ các tỷ lệ nợ xấu này
dẫn đến phải trích lập quỹ dự phòng và xử lý rủi ro. Tất nhiên để nâng cao
chất lượng tín dụng cũng cần phải thực hiện cả các biện pháp nghiệp vụ trước,
trong và sau khi cho vay. Còn phòng ngừa, hạn chế và xử lý rủi ro cũng bao
gồm tất cả các biện pháp từ quản trị điều hành, kiểm soát, quy trình nghiệp
vụ, xử lý nợ xấu, trích lập dự phòng và xử lý rủi ro.
Rủi ro là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc các ngân hàng bị phá sản.
Rủi ro tín dụng luôn tồn tại với hoạt động tín dụng, chúng ta không thể giảm
nó xuống bằng không mà chúng ta phải chấp nhận sự tồn tại của nó. Nhưng
không có nghĩa rằng chúng ta không quan tâm đến rủi ro, mà chúng ta cần
phải có các biện pháp để phòng ngừa hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro tín
dụng có thể xảy ra.
tiền tệ trên thế giới do vậy ngân hàng khó khăn trong việc quan hệ vay vốn,
thiết lập quan hệ đại lý với các tổ chức đó.
- Nguy cơ phá sản ngân hàng
14
Nếu rủi ro tín dụng kéo dài, làm thất thoát lượng vốn lớn thì NHTM có
thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và có thể dẫn đến phá sản.
Việc phá sản ngân hàng có thể dẫn đến phản ứng dây chuyền gây nên phá sản các
ngân hàng khác, nó tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế, chính trị của quốc
gia.
1.1.3. Những dấu hiệu của rủi ro tín dụng
Trong hoạt động tín dụng các khoản cho vay luôn tiềm ẩn rủi ro nhưng
không phải nó thường xuyên xảy ra bất ngờ mà không có dấu hiệu báo trước. Do
vậy đối với hầu hết các trường hợp, một khoản cho vay đang xấu dần đi đều có
những dấu hiệu báo trước là rắc rối đang sắp xảy ra. Nếu cán bộ tín dụng muốn
phát hiện những khoản cho vay có vấn đề thì họ phải liên tục nghiên cứu cẩn
thận các khoản cho vay để xác định những yếu tố báo hiệu khả năng rủi ro có
thể xảy ra. Dưới đây là một số dấu hiệu rủi ro có thể xảy ra đối với khoản vay.
- Khách hàng trả nợ gốc, lãi không đúng hạn
Đây là dấu hiệu ngân hàng dễ nhận thấy nhất, nó phản ánh khả năng
xảy ra rủi ro rất cao, việc hoàn trả gốc và lãi là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá
chất lượng tín dụng, nếu khách hàng không trả nợ gốc và lãi đúng hạn như đã
cam kết trong hợp đồng tín dụng khi vay vốn thì đồng nghĩa với việc rủi ro tín
dụng xảy ra.
- Khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là một trong những tài liệu quan trọng giúp cho cán
bộ tín dụng thẩm định và quyết định việc tham mưu tới cấp có thẩm quyền
cho vay. Thông qua báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu
Trong hoạt động kinh doanh khách hàng thông thường chỉ có quan hệ
giao dịch với một ngân hàng. Tuy nhiên khi khách hàng mở rộng quan hệ với
nhiều ngân hàng thì ta cần xem xét khách hàng, có thể khách hàng khó khăn
không thể trả đúng hạn, do vậy vay nhiều ngân hàng để đảo nợ, hoặc quan hệ
16
với ngân hàng khác để tránh sự kiểm soát về nguồn vốn thanh toán qua ngân
hàng đang cho vay, để không trả nợ những khoản nợ đến hạn.
- Sự thay đổi tổ chức bộ máy bất thường hoặc đang bị cơ quan chức
năng tiến hành điều tra
Bộ máy lãnh đạo, hay đó là bộ máy quản trị điều hành của khách hàng
có vai trò rất quan trọng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng, mỗi khi
có sự thay đổi bộ máy tổ chức bất thường xảy ra, thường là khi khách hàng có
vấn đề như thua lỗ, kiện cáo Khi ban lãnh đạo mới về thay thế nếu không
thiện chí trả những khoản nợ đã vay của ban lãnh đạo cũ, coi đó là những tồn
tại của ban lãnh đạo cũ cần giải quyết, do vậy rủi ro tín dụng rất dễ xảy ra.
Trong trường hợp khách hàng của ngân hàng đang bị cơ quan pháp luật
xem xét, điều tra thì rủi ro rất dễ xảy ra đối với ngân hàng do hoạt động
kinh doanh bị đình trệ, tài sản doanh nghiệp dễ bị cơ quan pháp luật phong
tỏa
- Bạn hàng của khách hàng gặp rủi ro, phá sản, truy tố
Trong nền kinh tế thị trường việc quan hệ mua bán chịu luôn xảy ra, khi
khách hàng là bạn hàng của doanh nghiệp bị rủi ro thì khả năng trả nợ cho
doanh nghiệp là rất thấp do vậy sẽ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng.
- Các thảm họa thiên nhiên, biến động về chính trị - xã hội
Các thảm họa thiên nhiên, biến động về chính trị xã hội luôn có ảnh
hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là đối với doanh
nghiệp hoạt động phụ thuộc vào thiên nhiên, khi có biến động trên xảy ra
để đầu tư dài hạn như trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm tài sản cố
định, các dự án dài hạn khác làm mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Đặc
biệt, nếu các dự án này không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp thì nguy cơ phá
sản doanh nghiệp là khó tránh khỏi.
1.1.4. Đặc điểm rủi ro tín dụng mang tính đặc thù trong Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
- Rủi ro tín dụng luôn ở mức độ cao
18
Khách chủ yếu của Ngân hàng Nông nghiệp là hộ sản xuất kinh doanh,
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn với số
lượng khách hàng rất lớn nhưng trình độ dân trí thấp, vốn và trình độ quản lý
còn yếu kém nên rủi ro trong quan hệ tín dụng là rất cao, thường cao hơn các
Ngân hàng thương mại khác.
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng phức tạp:
Đối tượng đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đa dạng, phức
tạp (chăn nuôi, trồng trọt, chế biến, nuôi trồng thủy hải sản, thương mại dịch
vụ…), mỗi một quan hệ tín dụng có những đặc điểm riêng, do vậy rủi ro tín
dụng xảy ra đối với mỗi trường hợp cụ thể cũng không giống nhau. Do tính
chất phức tạp như vậy cho nên trong hoạt động tín dụng cần có nhiều biện
pháp, phương án phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng xảy ra.
- Rủi ro tín dụng gắn liền với thiên tai
Đây là đặc điểm lớn nhất trong tín dụng phục vụ phát triển nông
nghiệp, nông thôn là chịu nhiều thiệt hại do thiên tai. Đặc biệt Việt Nam là
một trong những nước chịu nhiều thiên tai, nhất là bão lụt, hạn hán. Ngoài ra,
khi có thiên tai xảy ra, NHNo&PTNT có trách nhiệm đầu tư để khắc phục hậu
quả, khôi phục sản xuất kinh doanh.
- Rủi ro tín dụng cao trong thực hiện chính sách tín dụng đối với nông
chi phí ngân hàng sẽ tăng trong khi thu nhập ở tài sản dài hạn vẫn giữ nguyên.
Ngoài ra lạm phát tăng cũng ảnh hưởng đến thu nhập của ngân hàng do
lãi suất buộc phải điều chỉnh tăng lên.
Rủi ro lãi suất liên quan trực tiếp đến hoạt động tín dụng còn xảy ra khi
ngân hàng ký hợp đồng cho khách hàng vay theo lãi suất cố định tại thời điểm
ký hợp đồng, song đến khi giải ngân cho vay thì lãi suất huy động vốn tăng
lên, nhưng ngân hàng không thể tăng được lãi suất cho vay. Hoặc ngân hàng
ký hợp đồng cho vay theo lãi suất thả nổi, khi đến kỳ giải ngân vốn vay, lãi
suất thị trường giảm xuống nhưng chi phí bình quân lãi suất huy động vốn
vẫn ở mức cao. Rủi ro lãi suất còn được hiểu là do lãi suất thả nổi, đến kỳ giải
ngân lãi suất tăng cao, làm cho chi phí của doanh nghiệp, chi phí của khách
hàng tăng cao, gây rủi ro khả năng trả nợ cho ngân hàng. Do đó trong quản trị
20
điều hành rủi ro tín dụng cần hết sức quan tâm đến rủi ro lãi suất.
- Rủi ro hối đoái
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền tính ra một đồng tiền khác.
Rủi ro hối đoái là rủi ro xuất hiện trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối
do sự biến động về tỷ giá giữa các đồng tiền. Nếu tỷ giá hối đoái bán ra lớn
hơn tỷ giá mua vào thì nhà kinh doanh có lãi và ngược lại thì lỗ.
Trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá luôn biến động, với biến đổi của tỷ
giá hối đoái, bất kỳ một khoản nợ nào cho dù dài hay ngắn, đối với một đồng
tiền nhất định, đều có thể tạo cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tỷ giá hối
đoái. Rủi ro hối đoái liên quan trực tiếp đến hoạt động tín dụng khi khách
hàng vay vốn ngoại tệ, bán đi lấy nội tệ, hoặc kinh doanh nhập khẩu nhưng
không cân đối được vốn ngoại tệ phải mua trên thị trường, đến khi trả nợ thì
tỷ giá tăng cao, gây rủi ro cho khách hàng và rủi ro cho ngân hàng. Trường
hợp rủi ro hối đoái cũng liên quan trực tiếp đến tín dụng đối với ngân hàng khi
1.1.6. Các tiêu chí đánh giá và đo lường rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng luôn tồn tại cùng với hoạt động tín dụng, ngân hàng
không thể loại trừ được rủi ro tín dụng mà chỉ có thể hạn chế đến mức thấp
nhất các tổn thất có thể xảy ra.
Để phản ánh mức độ rủi ro tín dụng, các NHTM thường sử dụng một số
chỉ tiêu sau:
- NQH: là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn thỏa
thuận ghi trên hợp đồng. Đây là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền quá
hạn ngân hàng chưa thu hồi được cho đến thời điểm đang xem xét.
Tỷ lệ NQH =
NQH
100
Tổng dư nợ
Đây là chỉ tiêu tương đối được sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng.
Chỉ tiêu này thường giúp các nhà quản lý trong công tác điều hành tín dụng.
- NQH thông thường: là khoản nợ đã quá hạn có khả năng thu hồi tại
22
thời điểm xem xét.
- Nợ khó đòi: đây là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền quá hạn
khả năng thu hồi thấp, ảnh hưởng đến nguy cơ mất vốn của ngân hàng.
Tỷ lệ nợ khó đòi =
Nợ khó đòi
100
Tổng dư nợ
Đây là chỉ tiêu tương đối được sử dụng để đánh giá tỷ lệ vốn có nguy
khẩu Những thay đổi về chính sách vĩ mô của Nhà nước có tác động mạnh
mẽ đến sản xuất của doanh nghiệp, nó có thể khuyến khích phát triển hay kìm
hãm sự phát triển của doanh nghiệp.
Một ví dụ cụ thể là trong thời gian qua Chính phủ Việt Nam có quy
định về hạn chế đăng ký xe máy, hay việc áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối
với ô tô đã gây tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm.
Những diễn biến khác về môi trường kinh tế vĩ mô, như: diễn biến lạm
phát, tiền tệ, thị trường, lãi suất, tỷ giá ảnh hưởng đến sự phát triển của các
lĩnh vực của nền kinh tế, hành vi của các chủ thể kinh doanh, sự cạnh tranh
của các doanh nghiệp
Môi trường kinh tế tác động mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của
ngân hàng cũng như doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trong giai đoạn kinh tế
hưng thịnh, tăng trưởng ổn định thì người đi vay hoạt động kinh doanh thuận
lợi hơn, lợi nhuận thu được tương đối cao, khả năng hoàn trả vốn vay chắc
chắn. Ngược lại khi nền kinh tế giảm sút, mất ổn định, có chiều hướng đi
xuống, sức mua giảm sút, người đi vay tiêu thụ sản phẩm và thu hồi vốn khó
khăn, khả năng trả nợ vay giảm.
+ Môi trường chính trị: Một nền chính trị ổn định là điều kiện cho doanh
nghiệp phát triển, doanh nghiệp yên tâm đầu tư sản xuất, tập trung vốn cho mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại nếu môi trường chính trị không
24
ổn định, xảy ra các cuộc xung đột, chiến tranh làm cho doanh nghiệp không
quan tâm đến sản xuất, sản xuất đình trệ, khả năng trả nợ ngân hàng khó khăn.
- Môi trường pháp lý
Trong kinh doanh các yếu tố pháp lý có tác động đến hoạt động kinh
doanh bao gồm hệ thống pháp luật, hệ thống các biện pháp bảo đảm cho pháp
nghịch và rủi ro đạo đức. Do thông tin không cân xứng do vậy thay vì lựa
chọn những khách hàng có khả năng trả nợ, ngân hàng lại cho vay những
khách hàng có khả năng trả nợ cho ngân hàng thấp, gây rủi ro cho ngân hàng.
Còn đối với rủi ro đạo đức, người vay sau khi nhận được khoản tiền vay thực
hiện những hoạt động trái với cam kết đưa đến khó có thể hoàn trả vốn vay,
gây rủi ro cho ngân hàng.
1.1.7.2. Nhân tố từ phía ngân hàng
- Chính sách tín dụng không hợp lý
Chính sách tín dụng có tác động rất lớn đến chất lượng tín dụng, nó
định hướng về cơ cấu tín dụng, lĩnh vực đầu tư tín dụng, lãi suất, cơ chế
nghiệp vụ đối với cán bộ tín dụng, quyền lợi và trách nhiệm của cán bộ tín
dụng, quy trình nghiệp vụ tín dụng
Nếu ngân hàng xác định chính sách tín dụng mở rộng, tăng trưởng, lợi
nhuận trước mắt thì sẽ ít quan tâm đến cơ cấu tín dụng, chất lượng tín dụng, thường
áp dụng lãi suất cho vay có thể thấp để tăng khả năng cạnh tranh. Việc lựa chọn
khách hàng vay không chặt chẽ, cho vay tràn lan và cho vay không có cơ sở đảm
bảo, cán bộ tín dụng không được coi trọng, Với chính sách như vậy rất dễ gây
rủi ro về sau này đối với hoạt động tín dụng và cơ cấu nguồn vốn huy động.
- Quy trình tín dụng thiếu chặt chẽ và không phù hợp
Quy trình tín dụng thông thường được xây dựng trên những quy định
chung của pháp luật và đặc thù trong hoạt động của mỗi ngân hàng. Việc xây