Các yêu cầu, giải pháp cơ bản để có thể nâng cao vai trò của kiểm toán nhà nước trong quá trình thực hiện NSNN - Pdf 30



LUẬN VĂN:

Các yêu cầu, giải pháp cơ bản để có thể
nâng cao vai trò của kiểm toán nhà nước
trong quá trình thực hiện NSNN
Mở Đầu
đã định trên cơ sở nguồn lực xác định nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Quá trình này
bao gồm nhiều chức năng và có thể chia thành nhiều giai đoạn: Giai đoạn định hướng,
giai đoạn tổ chức thực hiện Trong đó kiểm tra không phải là một giai đoạn của quá
trình quản lý mà nó thực hiện ở tất cả các giai đoạn cua quá trình này
Quản lý NSNN là một quá trình thực hiện việc giám sát kiểm tra và đánh giá
quá trình thực hiện NSNN, từ đó đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện
NSNN.
Chu trình thực hiện NSNN gồm ba khâu cơ bản:
 Lập dự toán NSNN.
 Chấp hành dự toán NSNN.
 Quyết toán NSNN.
Quản lý NSNN thực hiện việc giám sát, kiểm tra tính đúng đắn của một trong
ba khâu của chu trình đó: Từ khi bắt đầu lập dự toán cho đến khi kết thúc chuyển ngân
sách mới.
Như vậy kiểm tra nảy sinh và phát triển từ chính nhu cầu quản lý. Kiểm tra
được thực hiện đồng thời với các chức năng quản lý khác trên cùng một bộ máy thống
nhất khi nhu cầu kiểm tra chưa nhiều và chưa phức tạp, trái lại khi nhu cầu này thay
đổi đến mức độ cao kiểm tra cân tiến hành một cách độc lập và tách rời.
Một trong những cơ sở quan trọng trọng quá trình thực hiện quản lý NSNN đó
là Luật NSNN. Là hành lang pháp lý trong việc hưỡng dẫn thực hiện, tuân thủ, cũng
như để kiểm tra quá chu trình NSNN cụ thể.
3. Thực trạng cơ bản của Chu trình NSNN
a.Thực trạng việc lập và phân bổ NSNN
Một trong những tồn tại hiện nay trong việc lập và phân bổ dự toán NSNN là
tình trạng nguồn Ngân sách quá hạn hẹp trong khi nhu cầu chi tiêu ngày một tăng,
trong khi đó chưa có một phương pháp lập và phân bổ nguồn Ngân sách thích hợp, có
khoa học để có thể vừa đạt được sự hiệu quả trong khi thực hiện cũng như vùa xác

nhiều nơi. Trong khi Đảng và chính phủ đang có kêu gọi thực hành tiết kiệm thì một
phần kinh phí lại bị sử dụng lãng phí sai mục đích tại các cơ quan đơn vị có dùng
NSNN cấp.Dịnh mức chi Ngân sách nhất là chi hành chính không được tuân thủ, chi
hành chính có su hướng tăng nhanh:
Ví dụ : tại các địa phương chi hành chính còn cao hơn cả các cơ quan Trung
ương. Đáng chú ý là các khoản chi này vẫn được quyết toán và hội đồng nhân dân phê
chuẩn quyết toán. Trong khi Ngân sách địa phương còn rất hạn hẹp nguồn thu chủ yếu
là bổ xung từ Ngân sách Trung ương thì một vài địa phương lại sử dụng Ngân sách
cho tiêu dùng cá nhân trái với quy định của luật NSNN. Hay công tác thu phí và lệ phí
ngoài danh mục quy định ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ chính sách của nhà
nước một số khoản mục thu phí và lệ phí có trong danh mục thì lại không đưa vào
quyết toán làm sai lệch số liệu.
c. Công tác kế toán và quyết toán NSNN
Công tác kế toán và quyết toán mặc dù đẵ được cải thiên, nâng cao trình độ
trong thời gian gần đây, các đơn vị có sử dụng nguồn ngân sách đã chủ ý đến công tác
quyết toán. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại lớn tại các đơn vị quyết toán theo số cấp phát
không theo đúng quy định của luật NSNN. Các đơn vị báo cáo hoàn thành dự toán
nhưng khi tiến hành kiểm tra lại phát hiện đơn vị đưa vào quyết toán theo số tạm ứng
của các đề tài chưa đươc nghiệm thu. Một số địa phương không thực hiện quyết toán
kinh phí uỷ quyền, kinh phí chưong trình mục tiêu với ngân sách Trung ương do vậy
bộ tài chính phải tổng hợp theo số cấp phát. Kinh phí chương trình mục tiêu không
đúng thực hiện quyết toản riêng theo chương trình để có cơ sở và số liệu đánh giá thực
hiện chương trình. Một hiện tưọng khá phổ biến là các công trinh xây dựng cơ bản
hoàn thành chậm được quyết toán trước khi hoàn thành.Tình trạng quyết toán theo số
tạm ứng và kinh phí tồn dư cuối năm còn phổ biến tại các đơn vị dự toán các cấp.
Trong khi NSNN mất cân đối thì kinh phí NSNN tồn tại dưới dạng tiền mặt,tiền
gửi,tạm ứng không thu hồi tại các đơn vị thụ hưởng NSNN.Các đơn vị quản lý thiếu

chức năng vốn có và mang tính truyền thống của các cơ quan kiểm toán tối cao trên
thế giới, đó là một nhiệm vụ không thể thiếu trong việc trợ giúp Quốc hội phê chuẩn
quyết toán hàng năm. Trên thế giới vấn đề này cũng được nên dõ trong tuyên bố Lima
của INTOSAI: ”Kiểm toán sau là một nhiệm vụ không thể thiếu được của cơ quan
KTNN, không lệ thuộc vào việc nó có được kiểm toán trước hay không”.Kiểm tra sau
của kiểm toán không chỉ dừng lại việc xem xét tính tuân thủ trong quản lý điều hành
NSNN mà còn xem xét khía cạnh về tính hợp lý, tiêt kiệm, hiệu quả của công tác quản
lý và điều hành của chính phủ.Xem xét tính hiệu lực hiệu quả trong các khoản chi của
NSNN,tuyên bố Lima cung nêu rõ: ”Kiểm toán sau do cơ quan KTNN thực hiện chỉ
dõ trách nhiệm của cơ quan có nghĩa vụ báo cáo, có thể dẫn tới bồi hoàn thiệt hại đã
xảy ra và việc làm thích hợp để ngăn chặn những tái phạm sau này ”.Một số nước có
quy định báo cáo quyết toán NSNN trình Quốc hội có ý kiến xác nhận của Tổng kiểm
toán Nhà nước rằng báo cáo quyết toán trình Quốc hội là báo cáo của KTNN về công
tác quản lý và điều hành NSNN.
 KTNN trợ giúp Quốc hội trong việc dự toán NSNN hàng năm. Ta có thể thấy
rằng tài liệu về dự toán NSNN không chỉ chứa đựng những vấn đề chính trị, kinh té
chủ yếu của một quốc gia mà còn là những tài liệu mang tính nghiệp vụ cao,đòi hỏi
phải được kiểm tra,xem xét kĩ lưỡng trước khi quyết định.Trong điều kiện đó các đại
biểu Quốc hội không có các điều kiện để xem xé một cách toàn diện các khía cạnh
mang tính nghiệp vụ cao. Điều đó đòi hỏi một cơ quan chuyên môn độc lập có chuyên
môn có kiến thức và nghiệp vụ giúp Quốc hội đánh giá toàn diện của quá trình NSNN.
Cơ quan KTNN có thể chỉ ra những sai lệch của dự toán so với các nguyên tắc của tính
tuân thủ, tính hợp lý, khả thi và tiết kiệm. Đây là hình thức kiểm toán trước vủa
KTNN, đảm bảo các nguồn lực động viên và phân bổ vào những mục tiêu mà quốc gia
theo đuổi cũng như tính kinh tế, hiệu quả của những khoản chi NSNN, tránh tình trạng
gian lận.Kiểm toán trước được khẳng định trong tuyên bố Lima :”Kiểm toán trước một
cách hiệu quả là điều kiện không thể thiếu được đối với một nền kinh tế công cộng
lành mạnh ”.Kinh nghiêm cho thấy trên thế giới đều sử dụng cơ quan kiểm toán tối cao
trong việc kiểm toán dự toán NSNN, hàng năm trước khi trình Quốc hôi quyết định.


địa phương. Kiểm toán việc sử dụng ngân sách do nhà nước cấp đầu tư cho các công
trình quan trong Quốc gia do Quốc hội quyết định.Kiểm toán việc ứng dụng vốn và tài
sản nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước Đồng thời thông qua hoạt động kiểm
toán đề nghị với các cơ quan được kiểm toán sửa chữa các sai sót vi phạm để chấn
chỉnh công tác quản lý tài chính, kế toán của đơn vị, kiến nghị với cơ quan có thẩm
quyền sử lý vi phạm chế độ kế toán, tài chính của nhà nước, đề xuất sửa đổi cải tiến
các cơ chế chính sách quản lý tài chính kế toán cần thiết.
1. KTNN với việc lập và phân bổ dự toán NSNN
Trong lập và phân bổ dự toán NSNN, cơ quan KTNN tham gia trước hết với tư
cách là cơ quan kiểm tra tài chính độc lập thực hiện việc đánh giá tính kinh tế khoa
học khả thi của dự án ngân sách hàng năm trước khi trình quốc hội phê chuẩn.
Đây là hình thức kiểm tra trước và đây là một vấn đề tương đối mới mẻ hiện nay
trong đó quy trình tham gia vào lập dự toán NSNN có thể bao gồm một số bước sau
đây:
a. KTNN tham gia với các bộ ngành và địa phương trong lập dự toán của
ngành và địa phương:
Khi các bộ ngành và địa phương lập dự toán NDNN hàng năm cơ quan KTNN
tham gia cùng dơn vị này lập dự toán bao gồm:
KTNN sẽ tư vấn cho bộ ngành địa phương về dự báo khả năng thu. Qua kinh
nghiệm của kiểm toán ở bộ, ngành, địa phương KTNN nắm bắt được các nguồn thu có
thể khai thác, các nguồn thu đã và sẽ phát sinh qua đó tính toán và dự toán cân đối
ngân sách cho năm, kế hoạch trung và dài hạn. KTNN tư vấn cho bộ ngành địa
phương trong việc xác định các thứ tự ưu tiên các nội dung chi tiêu các chương trình
mang tính chiến lược. Việc xác định chiến lược ưu tiên trong việc bố trí các khoản chi
là hết sức cần thiết đảm bảo cho việc thực hiện chiến lược phát triển của ngành trong
điều kiện nguồn thu ngân sách hạn hẹp và không thể tăng thêm trong dài hạn, trong khi
đó nhu cầu chi lại lớn và luôn có xu hướng phải tăng thêm.

đối giữa thời hạn vay, trả nợ và tổng thể vay nợ chính phủ để đảm bảo an toàn cho nền
kinh tế, an ninh tài chính quốc gia.
KTNN sẽ đưa ý kiến mang tính phản biện về dự toán NSNN do Bộ Tài chính
lập từ huy đọng nguồn thu đến bố chí cơ cấu chi. Việc tham gia này cũng là hình thức
để KTNN có đầy đủ thông tịn về quá trình lập NSNN để có cơ sở tham gia với chính
phủ và Quốc hội sau này.
c. KTNN tham gia thẩm định đánh giá dự toán CHính phủ trình quốc hội dể
cung cấp thông tin cho việc thảo luận NSNN tại Quốc hội
Sau khi dự toán NSNN hoàn chỉnh trước khi trình Quốc hội được gửi tới cơ
quan KTNN. Bằng kinh nghiệm kiểm toá cũng như thông tin thu dược trong quá trình
tham gia với các bộ, ngành địa phương, tham gia với Bộ Tài Chính khi lập dự toán
Ngân sách Nhà Nước. KTNN thực hiện thẩm định đánh giá tổng thể về dự toán NSNN
trình Quốc hội. Yêu cầu KTNN bày tỏ ý kiến một các độc lập về dự toán NSNN mà
chính phủ trình Quốc hội và khẳng định một số vấn đề:
 Khẳng định dự toán đã được lập theo đúng trình tự của quy định ngân sách. Các
khoản thu chi đã đảm bảo được tính khả thi và phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế,
đảm bảo huy động sức dân một cách hợp lý. Chi Ngân sách đảm bảo được phân bổ
theo tiêu chuẩn, định mức, đảm bảo tiết kiệm và theo trình tự ưu tiên mà Chính phủ và
Quốc hội đã đề ra.
 Đối với các khoản chi cho chương trình, dự án Quốc gia, KTNN có ý kiến về sự
cần thiết tiến hành xây dựng một công trình dự án cụ thể trong khả năng của nền kinh
tế quốc gia và chiến lược phát triển trong tương lai. Phương án mà các cơ quan của
Chính phủ trình Quốc hội có đảm bảo được các ưu tiên trước mắt cũng như đáp ứng
được sự phát triển trong tương lai. Phương án mà các cơ quan của Chính phủ trình
quốc hộ có đảm bảo được các ưu tiên trước mắt cũng như đáp ứng được sự phát triển
và tiến bộ trong tương lai. Chi phí để thực hiện chương trình dự án đã phân bổ có phù
hợp, đảm bảo tính kinh tế tiết kiệm hay không. Đòi hỏi các cơ quan KTNN có số liệu

cấp mình các tài liệu sau đây :
 Quyết toán thu NSNN trên địa bàn, chi Ngân sách địa phương
 Quyết toán các chương trình mục tiêu quốc gia.
 Thuyết minh quyết toán NS địa phương.
 Báo cáo của Kiển toán Nhà nước về kết quả kiểm toán về quyết toán Ngân sách
địa phương .
Ngoài ra, trong qúa trình giám sát việc chấp hành ngân sách, HĐND còn có thể
dựa vào các căn cứ sau đây:
 Kết quả làm việc của HĐND với UBNN, các cơ quan đơn vị có liên quan về
NSNN.
 Kết quả giám sát theo chuyên đề mà các đoàn giám sát của HĐND đã thực hiện
trong quá trình thực hiện NSNN.
 Kết quả thanh tra kiểm tra của cơ quan Trung ương và địa phương đã thực hiện
có liên quan đến quyết toán Ngân sách địa phương của năm xem xét .
 Các kiếu nại, kiến nghị, tố cáo của các tổ trức, công dân, ý kiến đóng góp của
cử tri về hoạt động của UBND các cơ quan đơn vị có liên quan đến NSNN.
 Dư luận được nêu trên báo trí, các phương tiện thông tinh đại chúng dư luận
trong xã hội thu thập được.
 Báo cáo của UBND về việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của Kiểm toán
Nhà nước đối với các báo cáo quyết toán NSNN năm trước.
b. Trình tự xem xét phê duyệt quyết toán NS Địa phương.
Việc xem xét, phân tích, thẩm tra, phê chuẩn quyết toán NS Địa phương được
thực hiện theo các trính tự sau đây:
Bước 1 : Các ban của HĐND thẩm tra các báo cáo của UBNN.
Bước 2 : Thường trực HĐND cho ý kiếnđối với các báo cáo của UBND về
quyết toán NSNN.
Bước 3 : Gửi các báo cáo của UBND, báo cáo thẩm tra của ban Kinh tế – Ngân

theo nghị quyết của HĐND đã phê duyệt khi thông qua dự toán, nếu có chênh lệch thì
chỉ do nguyên nhân điều chỉnh dự toán theo quyết định của hội đồng nhân dân khi cần
thiết ( Khoản 5, Diều 25 Luật NSNN sửa đổi ). Trong thực tế, nhiều địa phương, Chủ
tịch UBND thường điều chỉnh dự toán sau khi làm việc với thương trực HĐND, không
báo cáo và không có quyết toán của HĐND.
 Kiểm tra phân tích số liệu quyết toán, mối quan hệ giữa các số liệu trong hệ
thống mẫu biểu quyết toán để từ đó xem xét tính phù hợp của toàn bộ số liệu trong
quyết toán. Số liệu về thu, chi ngân sách phải phù hợp với số liệu trong cân đối ngân
sách. Số liệu tổng hợp phải phù hợp với các biểu số liệu chi tiết trong báo cáo chi tiết.
 Kiểm tra để xác định báo cáo trong quyết toán ngân sách địa phương có được
lập trên cơ sở số liệu của báo cáo quyết toán của các đầu mối ngân sách hay không.
Trong thực tế có trường hợp báo cáo quyết toán không được lập và nộp kịp thời nên cơ
quan tài chính phải lập báo cáo quyết toán theo số cấp phát, không phải là số liệu
quyết toán thực tế.
c.3. Sử dụng kết quả kiểm toán và các báo cáo thẩm tra quyết toán NSNN để
đánh giá cụ thể công tác lập dự toán, chấp hành ngân sách và quyết toán ngân sách
trong chu trình ngân sách địa phương
 Phân tích số thu đã động viên vào NSNN bằng cách so sánh tốc độ tằng thu so
với năm trước, với mức tăng bình quân trong 3-5 năm và tốc độ tăng trưởng GDP.
 So sánh dự toán thu với số thu ngân sách thực tế năm trước và tốc độ tăng GDP
của địa phương để đánh giá tính sát hợp và tích cực của dự toán thu. Trong thực tế,
nhiều địa phương xây dựng dự toán thu ngân sách thấp hơn số thu ngân sách thực tế
năm trước, mặc dù không có biến động lớn về kinh tế xã hội trên địa bàn và kinh tế
tăng trưởng ở mức cao. Không ít trường hợp khi lập dự toán chưa tính đến số tồn đọng
thuế và các khoản nghĩa vụ của các đơn vị đối với ngân sách nhà nước có thể thu trong
năm kế hoạch. Hoặc một số khoản thu, đặc biệt về thu và lệ phí không được đưa vào
dự toán thu NSNN. Chú ý kiểm tra, chất vấn thu kết dư ngân sách năm trước (Kết dư

a. Căn cứ xem xét kiểm tra phê chuẩn báo cáo quyết toán NSNN.
Theo luật NSNN và quy chế lập, thẩm tra, trình Quốc hội quyết định dự toán
NSNN, phương án phân bổ ngân sách Trung ương và phê chuẩn quyết toán NSNN
được ban hành theo nghị quyết số 387/2003/NQ-UBTVQH 11, Chính phủ phải trình
Quốc hội và các tài liệu sau đây:
a.1. Báo cáo quyết toán NSNN :
 Quyết toán thu, chi NSNN.
 Bội chi NSNN và các nguồn bù đắp, tỷ lệ bội chi so với tổng sản phẩm trong
nước .
 Tổng hợp quyết toán các chương trình mục tiêu quốc gia.
 Thuyết minh quyết toán NSNN.
a.2. Báo cáo của KTNN về kết quả kiểm toán quyết toán NSNN.
Báo cáo quyết toán NSNN và báo cáo kết quả kiểm toán quyết toán NSNN được
gửi đến Uỷ ban kinh tế và Ngân sách, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc
hội chậm nhất là 14 tháng sau năm ngân sách kết thúc.
b. Trình tự xem xét thẩm tra, phê chuẩn quyết toán NSNN
Bước 1: Các cơ quan Quốc hội thẩm tra báo cáo : UBKT và NS của Quốc hội
chủ trì phối hợp với hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội thẩm tra các
báo cáo của Chính phủ vè quyết toán NSNN, đánh giá tính chính xác đầy đủ, tính hợp
pháp của quyết toán NSNN.
Bước 2: UBTV Quốc hội cho ý kiến về quyết toán NSNN (đánh giá nhận xét
quyết toán, số liệu quyết toán NSNN) trước ngày 20 thang 3 năm sau nữa.
Bước 3: Quốc hội thảo luận các báo cáo nói trên và ra nghị quyết phê chuẩn
(hoặc không phê chuẩn) báo cáo quyết toán NSNN.
c. Nội dung và phương pháp phân tích, thẩm tra, phê chuẩn báo cáo quyết toán
NSNN.
Nội dung, phương pháp phân tích, thẩm tra, phê chuẩn quyết toán NSNN cũng

độc lập, khách quan trong hoạt động kiểm tra, kiểm soát việc thu chi NSNN. Chúng ta
chưa có một ăn bản pháp luật nào có tầm cỡ để làm căn cứ thi hành nhiệm vụ có hiệu
lực cao.
+ Với chức năng và nhiệm vụ đã được giao thêm vào đó là hướng bổ sung là rất
nặng nề song quyền quyết định, tổ chức bộ máy và biên chế của kiểm toán nhà nước là
chưa phù hợp. Hiện nay KTNN mới chỉ thực hiện một phần chức năng, nhiệm vụ của
mình, nhưng kết quả đạt được còn hạn chế, số lượng công việc được kiểm toán còn rất
ít, chất lương kiểm toán còn hạn chế chưa có tính thuyết phục cao đối với các cơ quan
tổ chức được kiểm toán : Năm 1998 KTNN đã hoàn thành kế hoạch và thông báo
chính thức kết quẩ kiểm toán của đơn vị ghi trong kế hoạch kiểm toán, bảo đảm đúng
tiến độ, quy trình và chất lượng kiểm toán. Tuy nhiên trên thực tế mới chỉ kiểm toán
báo cáo quyết toán thu, chi NSNN trên địa bàn 19/61 Tỉnh, thành. Hay về báo cáo thu
chi và quyết toán năm 1999-2000, KTNN mới chỉ hoàn thành 50% kế hoạch, kiểm
toán được 3/61 Tỉnh, thành.
b.Về cơ cấu tổ chức.
Kiểm toán nhà nước được chia thành hệ thống Kiểm toán Trung ương và hệ
thống kiểm toán khu vực (phía Bắc, miền Trung, phía Nam và Tây nam bộ). Việc này
đã gây lên hiện tượng chồng chéo và không rõ ràng về thẩm quyền, chức năng, nhiệm
vụ giữa kiểm toán Trung ương và kiểm toán khu vực, giữa vụ kiểm toán NSNN với
các đơn vị khác trongcơ quan kiểm toán nhà nước.
c.Quy mô, trình độ của đội ngũ kiểm toán viên vẫn còn nhiều bất cập.
Ta đã biết cơ quan KTNN chưa đủ khả năng thực hiện tốt các chức năng nhiệm
vụ được giao trong năm qua và trong thời gian tới, vì đội ngũ kiểm toán còn thiếu về
số lượng hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ: một số kiểm toán viên còn biểu hiện yếu
kém về phẩm chất đạo đức, quyền hạn của kiểm toán viên được quy định trong pháp
luật chưa phù hợp với yêu cầu thực tế đạt ra Bên cạnh đó chúng ta còn chưa có chính
sách đãi ngộ thoả đáng với kiểm toán viên, Chưa đầu tư đúng mức cho công tác đào

Tại Thuỵ Điển,Anh,TháiLan KTNN trực thuộc cơ quan lập pháp(Quốc hội).
Tại Trung Quốc,Nhật Bản,Indonesia KTNN trực thuộc cơ quan hành pháp
(Chính phủ).
Tại Han Quốc KTNN trực thuộc người đứng đầu nhà nước.
Nhìn chung cơ quan KTNN của hầu hết các nước trên thế giới được đạt ở vị trí
độc lập với cơ quan hành pháp.Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình KTNN
chỉ tuân thủ pháp luật và được pháp luật bảo vệ để tránh khỏi các chi phối của bên
ngoài.
Tại Việt Nam, KTNN mới chỉ được lập vừa tròn 10 năm vì vậy vẫn còn non trẻ.
Mặt khác KTNN được thành lập và hoạt động dựa trên Nghị định 70/CP chưa có tính
pháp lý cao.
Qua mô hình của các nước đi trước trên thế giới ta có thể khẳng định rằng
KTNN là cơ quan trực thuộc Quốc hội là rất phù hợp với chủ trường của Đảng và nhà
nước vì:
 Với hành lang pháp lý chật hẹo như hiện nay sẽ tác động không thuận đến việc
thực hiện chức năng kiểm tra,xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu
kế toán, báo cáo quyết toán của cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế
nhà nước có sử dụng kinh phí do nhà nước cấp.
 Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu rõ : ”Nâng cao quyền hạn và trách
nhiệm của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp trong việc quyết định và thực hiện
ngân sách, thực hiện công khai minh bạch trong thực hiện chi tiêu ngân sách”, ”Thiết
lập cơ chế giám sát tài chính tiền tệ nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia”, ”Nâng
cao hiệu lực pháp lý và chất lượng KTNN như một công cụ mạnh của nhà nước”.
 Luật NSNN năm 2002 nêu rõ cơ quan KTNN có trách nhiệm báo cáo kết quả
kiểm toán với Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ cà các cơ quan khác
theo quy định của pháp luẩt. Trong trường hợp quyết toán ngân sách nhà nước chưa
được Quộc hội, Hội đồng nhân dân phê chuẩn thì chính phủ, Uỷ ban nhân dân trong

Cơ chế bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo cơ quan KTNN, đặc biệt là tổng kiểm toán có
tác động quan trọng đến những quyết định do họ đưa ra, bởi vì tổng kiểm toán là người
phải chịu trách nhiệm về những quyết định của mình. Do đó tính độc lập chỉ thực hiện
khi có quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm được quy định chụ thể bằng luật pháp. ở hầu
hết các nước dể tránh nguy cơ cơ quan lập pháp (nếu cơ quan KTNN trực thuộc Quốc
hội) hoặc hành pháp (nếu KTNN trực thuộc Chính phủ )có quyền sa thải người lãnh
đạo cơ quan KTNN bằng cách quy định cụ thể quy chế bổ nhiệm, miễn nhiệm người
lãnh đạo cơ quan KTNN trong luật kiểm toán. Việc phân bổ và nhiệm kỳ của chức vụ
tổng kiểm toán ảnh hưởng rất lớn đến địa vị pháp lý của cơ quan KTNN, trên thế giới
việc tổng kiểm toán chỉ bị bãi nhiễm khi sức khoẻ không đảm bảo hay không đảm
đương được trách nhiệm, khi vi phạm pháp luật. Nhiệm kỳ của tổng kiểm toán không
nhất thiết bằng nhiệm kì của Quốc hội. Tổng kiểm toán không thể đồng thời giữ các
chức vụ trong bộ máy hành pháp Đồng thời cũng cần phải quy định cụ thể trong luật
về cơ chế tuyển dụng và xa thải KTV để tránh trường hợp xử lý kỷ luật KTV mang
tính các nhân, tạo điều kiện cho KTV phát huy tính độc lập, tự tin trong khi thi hành
công vụ.
2.2. Nâng cao vai trò của KTNN trong chu trình ngân sách :
Một vấn đề nan giải với nhiều quốc gia đó là vấn đề phân bổ nguồn lực tài chính
khan hiếm của mình vào các lĩnh vực để đảm bảo hiệu quả hoạt động của nền kinh tế,
nguồn lực tài chính được phân bổ như thế nào để nền kinh tế phát triển lành mạnh,
đảm bảo cân đối giữa các ngành các vùng và tập chung vào các ngành mũi nhọn mà
quốc gia có lợi thế. Để công tác quản lý NSNN được tốt hơn, hướng tới việc sử dụng
tiết kiệm, hiệu quả từ đó nâng cao hiệu quả của nền kinh tế cần hoàn thiện một số vấn
đề sau:
 Quyền và nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong công tác quản lý NSNN cần
được đề cập đến KTNN. Xác lập Quyền và trách nhiệm của cơ quan KTNN trong quá
trình lập và phân bổ NSNN. Việc tham gia của KTNN trước hết với tư cách là cơ quan

nước dùng làm nguồn tư liệu quản lý ngân sách. Ngoài các phát hiện của cơ quan kiểm
toán về lĩnh vực ngân sách có thể gửi báo cáo tới cơ quan thanh tra và các cơ quan bảo
vệ pháp luật khác để phục vụ điều tra theo chuyên đề sâu hơn thuộc chức năng của cơ
quan thanh tra và cơ quan bảo vệ pháp luật khác. Thông qua hệ thống thông tin của
KTNN có thể qóp phần hạn chế những sai phạm trong việc lãng phí chi tiêu công quỹ
để việc sử dụng ngân sách được tiết kiệm, hiệu quả hơn.
 Cuối cùng cần quy định KTNN được quyền độc lập trong việc xây dựng tổ
chức thực hiện kế hoạch hoạt động kiểm toán, bao gồm cả quyền đình chỉ, gia hạn hay
thay đổi kế hoạch kiểm toán. Trong trường hợp cần thiết KTNN có quyền yêu cầu các
tổ chức cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên ngành có liên quan đến cuộc liểm
toán đang thực hiện theo phương thức hợp đồng dịch vụ. KTNN có quyền yêu cầu các
cơ quan có thẩm quyền đình chỉ tạm thời hoạt động, phong toả tài khoản trong trường
hợp xét thấy cần thiết, chuyển hồ sơ qua các cơ quan pháp luật.
2.3. Hệ thống các văn bản qui định chuyên môn nghiệp vụ.
Trong nội bộ của mình KTNN cần phải quy đỉnhõ trách nhiệm trong việc xây
dựng kế hoạc và thực hiện hoạt động kiểm toán của mình. Hoạt động của kiểm toán
nhà nước và KTV nhà nước phải được quản lý thống nhất theo quy trình chuyên môn,
nghiệp vụ. Hầu hết các nước trên thế giới đều quy định rõ việc này trong luật Kiểm
toán. Như vậy việc hoàn thiện hệ thống các văn bản chuyên môn nghiệp vụ không
những là yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng kiểm toán, còn là cơ sở pháp lý
đảm bảo tính độc lập khách quan cho hoạt động kiểm toán, tạo niềm tin cho người sử
dụng kết quả kiểm toán.
2.4 Cơ cấu tổ chức phân công phân nhiệm.
Cơ cấu tổ chức và cơ chế phân cấp trách nhiệm của cơ quan kiểm toán có tác
động đến chất lượng kiểm toán. Nếu cơ cấu tổ chức có hợp lý, quy định rõ chức năng,
nhiệm vụ của đơn vị theo từng chuyên ngành sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan, đơn vị
chuyên môn hoá hoạt động của kiểm toán theo hướng chuyên sâu. Như vậy cơ cấu tổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status