ĐỀ TÀI " NHÌN NHẬN LẠI VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN MỚI " - Pdf 15

NHÌN NHẬN LẠI VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN MỚI TS. Trần Du Lịch

1. Hai mươi năm đổi mới tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước:
Quá trình đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước(DNNN) ở Việt
Nam được tiến hành từ đầu thập niên 1990 và qua nhiều giai đoạn, gắn liền với
quá trình đổi mới thể chế kinh tế, trong đó nổi bật là chủ trương xây dựng các
tổng công ty (90 và 91) năm 1994; ban hành Luật DNNN năm 1995; tiến hành
cỗ phần hóa một bộ phận lực lượng DNNN từ năm 1996 ( thí điểm từ năm
1993); thí điểm tổ chức tập đoàn kinh tế nhà nước năm 2005 vv
Quá trình trên có thể chia làm 4 giai đoạn : (1) giai đoạn 1991-1993:
nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn này là chấn chỉnh và tổ chức lại sản xuất kinh
doanh của khu vực kinh tế quốc doanh; khắc phục hiện tượng thành lập xí
nghiệp quốc doanh tràn lan ở các ngành và các địa phương trong giai đoạn 1986-
1990.(Hai văn bản pháp lý quan trọng để điều chỉnh nhiệm vụ tổ chức và sắp xếp
lại doanh nghiệp nhà nước là: Quyết định số 315/HĐBT và Nghị định
388/HĐBT);(2) giai đoạn 1994-1997:Nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn này là tổ
chức lực lượng doanh nghiệp nhà nước thành các Tổng công ty nhà nước giữ vai
trò chủ lực của lực lượng DNNN; đồng thời sắp xếp lại, đa dạng hóa sở hữu các
DNNN có quy mô nhỏ; xóa bỏ dần chế độ chủ quản cấp trên của doanh nghiệp
nhà nước.(Khung pháp lý điều chỉnh là Quyết định số 90/TTg, số 91/TTg về tổ
chức các Tổng công ty nhà nước; Chỉ thị số 500/TTg của Thủ tướng Chính phủ
về sắp xếp tổng thể các DNNN; Nghị định số 28/CP về cổ phần hóa
DNNN).Đánh dấu của giai đoạn này là sự ra đời của các Tổng công ty nhà nước
hoạt động theo mô hình mới và phân biệt rõ hai loại hình doanh nghiệp nhà
nước: doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp nhà nước
hoạt động công ích; (3)giai đoạn 1998-2001:Tiếp tục củng cố và sắp xếp lại
DNNN theo tinh thần Nghị quyết TW 3( khóa VIII), nổi bật của thời kỳ này là

của thị trường, chứ không phải tồn tại vì nó.
2.1.Về lý luận cũng như thực tiễn cho thấy, không phải lúc nào thị trường
cũng đúng trong việc phân bố nguồn lực của nền kinh tế; sự thất bại của thị
trường sẽ mang đến những hệ quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế, tạo nên
những cuộc khủng hoảng kinh tế; đặc biệt là ở những quốc gia đang trong giai
đoạn CNH.
Thực tế ở Việt Nam trong những năm gần đây với các cơn “sốt” nhà đất,
chứng khoán, lương thực, thực phẩm… là minh chứng rõ nét về sự thất bại của
thị trường trong việc phân bố nguồn vốn đầu tư, làm méo mó thị trường, lãng phí
nguồn lực xã hội. Về thuộc tính của kinh tế thị trường, cho đến nay vẫn bộc lộ 3
khuyết tật lớn:(1) Luôn luôn có nguy cơ mất cân đối cung - cầu tạo ra các cuộc
khủng hoảng thừa hoặc khủng hoảng thiếu;(2) Vì mục tiêu lợi nhuận và cạnh
tranh, doanh nghiệp ít quan tâm đến lợi ích toàn cục, lợi ích cộng đồng như gây
ô nhiễm, phá hoại môi trường, trốn tránh luật pháp, gian lận thương mại v.v… là
những điển hình;(3) Kinh tế thị trường về bản chất là mô hình làm giàu cho
thiểu số; tự nó không thể làm giàu cho mọi người.Những khuyết tật trên, các
quốc gia, tuỳ theo điều kiện lịch sử và đặc điểm của mình và tùy theo mục tiêu
của nhà nước đó đề ra những công cụ quản lý khác nhau.
Ngày nay, khi nói đến phát triển bền vững, tức là Nhà nước có chức năng
khắc phục 3 khuyết tật của thị truờng nói trên.Nhà nước không bao cấp rủi ro
cho doanh nghiệp, nhưng cũng không tạo ra những rủi ro cho doanh nghiệp bằng
3
các quyết định hành chính của mình. Hiện nay, hệ thống pháp luật của nước ta
trong quản lý kinh tế thị trường, tuy chưa hoàn thiện, nhưng cũng đã phủ kín hầu
hết các lĩnh vực. Nhưng thực tế hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về kinh tế
chưa cao là do sự can thiệp của Nhà nước, ở nhiều cấp chính quyền khác nhau,
không phù hợp với sự vận động của thị trường. Nhưng mặt khác Nhà nước lại
thiếu công cụ và cơ chế giám sát, chế tài để bảo đảm các chủ thể tham gia các
quan hệ thị trường tuân thủ “luật chơi” đã đề ra.
Do đó, cùng với công cụ kế hoạch và các chính sách điều tiết vĩ mô, việc
4

3.Những giải pháp trước mắt:
Vấn đề tái cấu trúc lực lượng DNNN theo quan điểm trên cần có một kế
hoạch tổng thể thực hiện trong nhiều năm. Song song với việc xây dựng đề án
trên, trước mắt đề nghị quan tâm một số giải pháp sau đây:
+ Thứ nhất: sửa đổi ngay những quy định không phù hợp đang cản trở quá
trình CPH DNNN trong suốt 3 năm qua liên quan đến vấn đề xác định giá trị
doanh nghiệp; việc chọn đối tác chiến lược; bán cỗ phần ưu đãi cho người lao
động nhằm đẩy nhanh tiến độ CPH, kể cả CPH toàn Tcty.
+ Thứ hai: dừng việc thành lập các Tập đoàn kinh tế nhà nước mang tính
hành chính không phù hợp với quy luật phát triển doanh nghiệp.Đánh giá, xem
xét lại những tập đoàn đã thành lập trong các năm qua,nếu cần thiết nên sắp xếp
lại.
+ Thứ ba: Chính phủ không bảo lĩnh tín dụng hoặc cho vay chỉ định đối
với DNNN.Buộc tất cả DNNN phải huy động vốn qua cơ chế thị trường.Chính
phủ chỉ hỗ trợ tín dụng cho những DNNN hoạt động cung cấp hàng hóa công
cộng, mà không thu hút được các thành phần kinh tế khác đầu tư hoặc thực hiện
nhiệm vụ chính trị do Chính phủ giao ( loại doanh nghiệp này chịu sự giám sát
bằng cơ chế riêng).
+ Thứ tư: Buộc tất cả các tập đoàn và Tcty nhà nước phải công bố thông
tin như quy định đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán.
+ Thứ năm: thành lập một cơ quan ngang bộ để thực hiện chức năng đại
diện chủ sở hữu ( nhà nước) quản lý toàn bộ vốn kinh doanh của nhà nước; trên
cơ sở đó xóa hoàn toàn cơ chế "chủ quản" hiện nay. Cơ quan này chịu sự giám
sát trực tiếp của Quốc hội.
+ Thứ sáu: khẩn trương xây dựng Luật quản lý vốn kinh doanh của Nhà
nước hay một tên gọi nào đó, nhưng nội hàm là " hoạt động kinh doanh của nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status