ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LẠI QUỐC ĐẠT
HÌNH THÀNH BỘ PHẬN R&D ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP CÔNG TY TNHH
SƠN LÂM – CĐP TỈNH TUYÊN QUANG) LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Hà Nội, 2015 1
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3.1. Mục tiêu nghiên cứu 8
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Phạm vi nghiên cứu 8
5. Mẫu khảo sát 8
6. Câu hỏi nghiên cứu 8
7. Giả thuyết nghiên cứu 8
8. Phƣơng pháp nghiên cứu 9
9. Kết cấu của luận văn 9
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ 10
MỐI QUAN HỆ GIỮA NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI 10
VỚI NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 10
1.1. Cơ sở lý luận về nghiên cứu và triển khai 10
1.1.1. Khái niệm nghiên cứu khoa học 10
1.1.2. Khái niệm triển khai 13
1.1.3. Khái niệm nghiên cứu và triển khai 14
1.2. Cơ sở lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa 16
2.3.1. Kết quả nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 50
2.3.2. Kết quả nghiên cứu đặc điểm địa chất mỏ 51
2.3.3. Kết quả nghiên cứu chất lƣợng và đặc điểm công nghệ của kaolin 55
2.3.4. Kết quả nghiên cứu chất lƣợng và đặc điểm công nghệ của felspat 58
2.4. Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Sơn Lâm qua hoạt động thăm dò quặng
61
2.4.1. Năng lực cạnh tranh qua việc đánh giá chỉ tiêu trữ lƣợng 61
2.4.2. Năng lực cạnh tranh qua việc tính trữ lƣợng 61
* Tiểu kết chƣơng 2 63
CHƢƠNG 3. 65
HÌNH THÀNH BỘ PHẬN R&D 65
TẠI CÔNG TY TNHH SƠN LÂM – CĐP TỈNH TUYÊN QUANG 65
3.1. Sự cần thiết hình thành bộ phận R&D trong khai thác, chế biến 65
3.1.1. Nhu cầu thực tiễn 65
3.1.2. Nhiệm vụ 65
3.2. Cấu trúc và nhiệm vụ của bộ phận R&D tại Công ty Sơn Lâm 66
3.2.1. Cơ sở thực tiễn để hình thành bộ phận R&D 66
3.2.2. Chức năng và nhiệm vụ của bộ phận R&D trong hoạt động thăm dò 69
3.3. Nghiên cứu điều kiện khai thác mỏ 69
3.3.1. Nghiên cứu địa chất thuỷ văn 69
3.3.2. Nghiên cứu bảo đảm vệ sinh công nghiệp và phòng chống cháy nổ 74
3.4. Nghiên cứu giải pháp công nghệ chế biến quặng 75
3.4.1. Mục tiêu đầu tƣ công nghệ khai thác và chế biến quặng 75
3.4.2. Nghiên cứu lựa chọn quy mô, công suất và chủng loại sản phẩm 75
3.4.3. Nghiên cứu lựa chọn công nghệ khai thác và chế biến 76
3.4.4. Nghiên cứu lựa chọn công nghệ cung cấp nƣớc 85
3.5. Đánh giá hoạt động R&D trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh 86
3.5.1. Đánh giá tác động dƣơng tính 86
3.5.2. Đánh giá tác động âm tính 96
* Tiểu kết chƣơng 3 99
nghiệp, hoạt động R&D đã đƣợc triển khai dƣới hình thức đề tài, dự án,
chƣơng trình KH&CN với quy mô từ cấp Nhà nƣớc đến cấp cơ sở và các hình
thức khác. Các doanh nghiệp lớn có năng lực tài chính, đã dùng kinh phí tự có
từ các nguồn thu của doanh nghiệp để tổ chức bộ phận R&D, các doanh
nghiệp nhỏ và vừa với tiềm lực tài chính có hạn thực hiện các nhiệm vụ R&D
với sự hỗ trợ một phần tài chính từ ngân sách và từ các nguồn khác.
Trong một nghiên cứu do Trung tâm thông tin dự báo kinh tế - xã hội
quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ) thực hiện đã đánh giá về nhu cầu thực tiễn
của hoạt động KH&CN nói chung và hoạt động R&D nói riêng là:“Trong
giai đoạn 2011-2020, hoạt động R&D trên thế giới sẽ phát triển mạnh, do các
nền kinh tế đều nhận thức được vai trò quan trọng của KH&CN đối với sản
xuất. Chi cho R&D sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong chi ngân sách quốc gia và đặc
biệt là các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia …” Cũng theo nhận định của
Trung tâm thông tin dự báo kinh tế - xã hội quốc gia "Những thành tựu KH-
CN được áp dụng có hiệu quả sẽ trang bị lại về kỹ thuật cho các lĩnh vực chủ
yếu của nền kinh tế, từng bước thay thế các tư liệu sản xuất truyền thống
bằng tư liệu sản xuất hiện đại, đóng góp 50-60% vào tăng trưởng kinh tế,
trong đó 3/5 là do tăng năng suất lao động".
Báo cáo của tổ chức UNCTAD (Diễn đàn Thƣơng mại và Phát triển
Liên hiệp quốc) cho thấy, trong năm 2002, thế giới đã chi 677 tỉ đô la đầu tƣ
cho R&D, trong đó các tập đoàn xuyên quốc gia đã chi khoảng một nửa.
Riêng trong hoạt động R&D của lĩnh vực thƣơng mại, chi phí của các tập
đoàn này còn lớn hơn, chiếm 2/3 tổng số chi của toàn thế giới. Trong năm
2003, mức chi cho R&D của mỗi tập đoàn lớn nhƣ Ford, Plizer,
DamslerChryler, Siemens, Toyota và General Motor đều vƣợt quá 5 tỉ đô la
Mỹ. Cũng từ báo cáo của cơ quan này, hiện nay các doanh nghiệp lớn của thế
5
giới đang chuyển nhiều hoạt động R&D của họ ra nƣớc ngoài và một điểm
6
các quốc gia và việc đầu tƣ chi phí cho hoạt động R&D của các doanh nghiệp
trong quốc gia đó, kết quả cho thấy nhóm quốc gia có GDP thấp thì các doanh
nghiệp có xu hƣớng chi phí ít hoặc không chi phí cho hoạt động R&D, từ đó
dẫn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thấp.
Tại Việt Nam cũng đã có các nghiên cứu liên quan đến hoạt động R&D
và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, có thể nêu:
- Đề tài: Nghiên cứu sự hình thành phát triển tổ chức và hoạt động
R&D trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam của Nguyễn Minh Hạnh
(2007) đã phân tích lịch sử quá trình hình thành, phát triển của tổ chức và
hoạt động R&D trong doanh nghiệp nhỏ và vừa, tác giả đã rút ra các yếu tố
bên trong cũng nhƣ bên ngoài cản trở việc thúc đẩy tổ chức và hoạt động
R&D của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bằng cách đó, tác giả đã đề xuất một
số giải pháp chính sách khắc phục: nâng cao nhận thức của lãnh đạo các
doanh nghiệp nhỏ và vừa về vai trò của hoạt động R&D trong đổi mới công
nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và
vừa; Hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện các hoạt động và tổ chức
hoạt động R&D thông qua cơ chế miễn giảm thuế, chƣơng trình xác lập
quyền sở hữu trí tuệ, bảo lãnh tín dụng…
- Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN của Nguyễn Thanh
Bình (2010)“Những khó khăn trong việc chuyển đổi các đơn vị R&D của
ngành Năng lượng Nguyên tử Việt Nam theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách
nhiệm và giải pháp khắc phục”, đã vận dụng Khoa học về Chính sách và
quản lý, đồng thời thông qua nghiên cứu, khảo sát thực tiễn, góp phần nhận
diện thêm đầy đủ những khó khăn, đặc biệt là những khó khăn cụ thể, đặc thù
trong việc chuyển đổi của Ngành năng lƣợng nguyên tử hiện nay và khuyến
nghị các giải pháp bổ sung, hỗ trợ để các đơn vị R&D nói trên từng bƣớc
chuyển đổi thành công theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, góp phần hiện
thực hoá ý tƣởng tốt đẹp của Nghị định 115.
trường hợp Công ty TNHH Sơn Lâm – CĐP tỉnh Tuyên Quang) có nhiệm vụ
giải quyết “khoảng trống” nhƣ đã chỉ ra. 8
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn đề ra mục tiêu nghiên cứu: Chứng minh việc hình thành bộ
phận R&D có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và
vừa.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu, Luận văn phải thực hiện đƣợc các
nhiệm vụ sau:
- Phân tích cơ sở lý luận về mối tƣơng quan giữa R&D với năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Hiện trạng hoạt động R&D của Công ty TNHH Sơn Lâm – CĐP tỉnh
Tuyên Quang;
- Giải pháp hình thành bộ phận R&D để nâng cao năng lực cạnh tranh
của Công ty TNHH Sơn Lâm – CĐP tỉnh Tuyên Quang.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: 2010-2014
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Công ty TNHH Sơn Lâm – CĐP
tỉnh Tuyên Quang
5. Mẫu khảo sát
Công ty TNHH Sơn Lâm – CĐP tỉnh Tuyên Quang
6. Câu hỏi nghiên cứu
Cấu trúc và hoạt động của bộ phận R&D thuộc Công ty TNHH Sơn
Lâm – CĐP tỉnh Tuyên Quang nhƣ thế nào để có thể nâng cao năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp?
của Luận văn gồm 3 chƣơng:
- Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa nghiên cứu và triển khai
với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Chƣơng 2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Sơn Lâm hoạt
động thăm dò Kaolin-Feldpas
- Chƣơng 3. Hình thành bộ phận R&D tại Công ty Sơn Lâm hoạt động
thăm dò, khai thác, chế biến Kaolin-Feldpas 10
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
MỐI QUAN HỆ GIỮA NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI
VỚI NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Cơ sở lý luận về nghiên cứu và triển khai
1.1.1. Khái niệm nghiên cứu khoa học
Có nhiều cách quan niệm về nghiên cứu khoa học, trƣớc hết do nghiên
cứu khoa học là một bộ phận thuộc các hoạt động KH&CN, do đó khi định
nghĩa khái niệm nghiên cứu khoa học ngƣời ta thƣờng định nghĩa khái nhiệm
hoạt động KH&CN trƣớc.
Luật KH&CN 2013 định nghĩa:
- Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học,
nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công
nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng
tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ.
- Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản
chất, quy luật của sự vật, hiện tƣợng tự nhiên, xã hội và tƣ duy; sáng tạo giải
pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.
- Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất,
trƣng sản phẩm của mỗi giai đoạn đƣợc sử dụng. Việc thống nhất cách hiểu
những khái niệm này là rất quan trọng và cần thiết trong công tác quản lý
KH&CN. Dƣới đây xin đƣợc trình bày chi tiết về từng loại hình hoạt động
KH&CN nói trên.
a. Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu cơ bản (fundamental research hay basic research) là những
nghiên cứu nhằm tìm ra các thuộc tính, cấu trúc, động thái của các đối tƣợng
nghiên cứu, các sự vật và hiện tƣợng. Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản là
những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật, định luật, định lý, v.v…
trên cơ sở đó, hình thành nên các phát hiện, phát minh và các hệ thống lý
thuyết mới.
Nghiên cứu cơ bản đƣợc chia thành hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần
tuý và nghiên cứu cơ bản định hƣớng.
- Nghiên cứu cơ bản thuần túy 1
UNESCO (1980), Manual for Statistics on Scientific and Technological Activities, Paris, pp.15-19
12
Nghiên cứu cơ bản thuần túy (pure fundamental research hay pure
research) còn gọi là nghiên cứu cơ bản tự do hay nghiên cứu cơ bản không
định hƣớng, là những nghiên cứu tìm hiểu về bản chất sự vật và quy luật của
các hiện tƣợng tự nhiên và xã hội, nhằm nâng cao nhận thức, tri thức mà chƣa
có hoặc chƣa bàn đến bất kỳ một ý nghĩa ứng dụng nào. Loại hình nghiên cứu
này, nhìn chung mang đậm dấu ấn cá nhân của nhà nghiên cứu: họ tự suy
nghĩ, tự đề xuất đề tài nghiên cứu, quyết định chọn lựa đối tƣợng nghiên cứu
và tổ chức nghiên cứu với tính tự chủ rất cao.
- Nghiên cứu cơ bản định hướng
nghệ, vật liệu, sản phẩm, về xã hội, tổ chức và quản lý, v.v… Sáng chế - loại
thành tựu trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, là một sản phẩm
đặc biệt của nghiên cứu ứng dụng.
Một điều cần lƣu ý là, mặc dù mang tên gọi nhƣ vậy, nhƣng kết quả của
nghiên cứu ứng dụng vẫn chƣa thể ứng dụng đƣợc ngay, mà để có thể đƣa
chúng vào sử dụng trong thực tế, còn phải trải qua một giai đoạn nghiên cứu
nữa, gọi là triển khai.
2
1.1.2. Khái niệm triển khai
Triển khai (development) là cách viết tắt của một thuật ngữ đầy đủ là
triển khai thực nghiệm kỹ thuật (technical experimental development), sau
này còn gọi là triển khai thực nghiệm công nghệ (technological experimental
development), là hoạt động vận dụng các quy luật (sản phẩm của nghiên cứu
cơ bản) và các nguyên lý, giải pháp (sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng) để
tạo ra các vật mẫu và công nghệ sản xuất vật mẫu với các tham số kỹ thuật
khả thi. Triển khai bao gồm ba giai đoạn:
a. Tạo ra vật mẫu (làm prototype) là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra đƣợc
sản phẩm mẫu hay còn gọi là vật mẫu chức năng (functional prototype), mà
chƣa quan tâm đến quy trình sản xuất ra vật mẫu và quy mô áp dụng vật mẫu
đó.
b. Tạo quy trình, công nghệ (làm pilot) là giai đoạn tìm kiếm, thử nghiệm và
tạo ra công nghệ để sản xuất sản phẩm theo mẫu mới (prototype) vừa thành 2
Vũ Cao Đàm (2010), Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục, Hà Nội, trang 40-
45
phát hành 2002 cũng định nghĩa hoạt
động KH&CN tƣơng tự nhƣ vậy.
Điểm đáng lƣu ý là hoạt động R&D không bao gồm CGCN, có nghĩa là
chỉ có thể CGCN khi đã hoàn thiện khâu R&D. Hoạt động liên quan đến việc
cấp bằng độc quyền sáng chế và cấp phép sử dụng sáng chế (activities 3
UNESCO (1980), Manual for Statistics on Scientific and Technological Activities, Paris, pp.15
4
OECD (2002), Frascati Manual
15
relating to patents and licences) đƣợc UNESCO xếp vào mục dịch vụ
KH&CN
5
– độc lập với R&D.
Một nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy CGCN thuộc mục phát
triển công nghệ. Phát triển công nghệ (Technology Development), là hoạt
động sau nghiên cứu và chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất, bao
gồm:
- Phát triển công nghệ theo chiều rộng (Extensive Development of
Technology), còn gọi là nhân rộng công nghệ (Diffusion of Technology). Khái
niệm này còn đƣợc mở rộng thành Diffusion of Innovation.
- Phát triển công nghệ theo chiều sâu (Intensive Development of
Technology), còn gọi là “Nâng cấp công nghệ” (Upgrading of Technology).
Khái niệm này còn đƣợc mở rộng thành Upgrading of Innovation.
6
EDT
Mở
rộng
công
ITD
Nâng
cấp
công
FR
Nghiên
AR
Nghiên
Protot.
Chế
Pilot
Làm
N
o
0
Sản 5
Xin tham khảo thêm mục 1.3.ix tại UNESCO (1980), Paris, Tài liệu đã dẫn, trang 30
6
Xin tham khảo thêm: Vũ Cao Đàm (2010), sách đã dẫn, trang 40
16
cứu cơ
chịu sự tác động tƣơng hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động
mà Nhà nƣớc đặt ra cho hệ thống kinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu
dùng của xã hội.
Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch,
đƣợc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh
doanh.
17
Hiện ở Việt Nam, có 3 loại hình doanh nghiệp khá rõ, nắm giữ hầu nhƣ
toàn bộ tài sản quốc gia
7
, đó là:
(i) Doanh nghiệp nhà nƣớc: khối doanh nghiệp nhà nƣớc hiện nắm giữ
khoảng 75% tài sản cố định quốc gia, 20% vốn đầu tƣ xã hội, gần 50% vốn
đầu tƣ của Nhà nƣớc, 60% tín dụng ngân hàng trong nƣớc, chiếm hơn 70%
vốn vay nƣớc ngoài và đƣợc hƣởng nhiều ƣu đãi tài chính khác từ phía Nhà
nƣớc. Với nhiều lợi thế nhƣ vậy song trong nhiều năm qua khu vực này vẫn
hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, chỉ đóng góp khoảng 50% thu ngân sách,
trong đó thuế thu nhập chỉ có 9%. Đây là khu vực hiện duy trì cơ chế quản lý
kém hiệu quả nhất, có nhiều tiêu cực, lãng phí. Chủ trƣơng sắp xếp lại nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động của khối doanh nghiệp nhà nƣớc đƣợc tiến hành
quá chậm, đến hết năm 2006 cả nƣớc mới cổ phần hoá đƣợc khoảng 3.000
doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp với số vốn chỉ chiếm khoảng 12%
tổng số vốn trong doanh nghiệp nhà nƣớc (nếu trừ đi số vốn nhà nƣớc còn giữ
lại gần 50% thì thực chất tỷ lệ trên chỉ khoảng 9%).
(ii) Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài: hiện có hơn 5.300 dự án
có hiệu lực đang hoạt động tại Việt Nam. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu
tƣ nƣớc ngoài này chiếm 15,7% tổng vốn đầu tƣ xã hội, 44% giá trị sản xuất
công nghiệp, tạo ra 54,6% kim ngạch xuất khẩu và thu hút gần 70 vạn lao
đồng và/ hoặc có số lao động thƣờng xuyên dƣới 200 ngƣời đƣợc coi là doanh
nghiệp nhỏ và vừa. Việc áp dụng một hay cả hai tiêu chí này tùy thuộc vào
điều kiện cụ thể của từng ngành, từng lĩnh vực hay địa phƣơng.
Đến năm 2001, tiêu chí “mức sử dụng lao động” đã đƣợc thay đổi lại
cho phù hợp với các quy định quốc tế, tiêu chí giới hạn tối đa về vốn cũng
thay đổi cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Theo điều 3 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính
phủ định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ
sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện
hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng
năm không quá 300 người”.
Trong thực tế hiện nay, một số cơ quan Nhà nƣớc, một số tổ chức
chính trị - xã hội để hỗ trợ doanh nghiệp đã chủ động đƣa ra các tiêu chí quy
định doanh nghiệp nhỏ và vừa để phục vụ cho công tác của mình nhƣ:
- Ngân hàng công thƣơng Việt Nam quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa
là: doanh nghiệp có dƣới 500 lao động, vốn cố định nhỏ hơn 10 tỷ VNĐ, vốn
lƣu động dƣới 08 tỷ VNĐ, doanh thu tháng không quá 20 tỷ đồng VNĐ.
19
- Liên Bộ lao động Thƣơng binh & xã hội và Tài chính quy định doanh
nghiệp nhỏ và vừa: Lao động thƣờng xuyên dƣới 100 ngƣời, doanh thu một
năm nhỏ hơn 10 tỷ VNĐ, vốn pháp định không quá 01 tỷ VNĐ.
- Dự án VIE/US/95/2004 hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
lại có quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa là: Lao động dƣới 200 ngƣời, vốn
đăng ký 0,4 triệu USD (khoảng 06 tỷ VNĐ).
Theo Điều 3 Nghị Định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính
phủ định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ
sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia
thành ba cấp; siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn
Quy mô Khu vực
Doanh
nghiệp siêu
nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng
nguồn vốn
Số lao
động
Tổng
nguồn
vốn
Số lao động
I. Nông, lâm
nghiệp và thủy
sản
10 ngƣời trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
ngƣời đến
200 ngƣời
từ trên
20 tỷ
ngƣời đến
50 ngƣời
từ trên
10 tỷ
đồng
đến 50
tỷ đồng
từ trên 50
ngƣời đến
100 ngƣời
Nguồn: Điều 3, Nghị định 56/2009/NĐ-CP
21
1.2.3. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc tổ chức theo những mô hình rất khác
nhau ở mỗi ngành, lĩnh vực khác nhau, trong những điều kiện, hoàn cảnh
khác nhau. Nhƣng, khu vực kinh doanh nhỏ ở các điều kiện kinh tế đều có
chung những đặc trƣng sau:
Thứ nhất: Có tính linh hoạt
Với suất đầu tƣ khiêm tốn doanh nghiệp nhỏ và vừa rất dễ khởi sự, dễ
hoạt động, dễ tiêu thụ một khối lƣợng sản phẩm cũng nhỏ tƣơng ứng với khối
lƣợng vốn của nó, dễ chuyển hƣớng kinh doanh khi chủ sở hữu muốn, và dễ
trong nhiều mặt khác nữa. Nhƣng, lịch sử kinh doanh từng chứng kiến nhiều
doanh nhân nổi tiếng đã bắt đầu từ số vốn liếng không đáng kể lại không cho
chúng ta bài học về sự dễ dàng. Tính linh hoạt cao của kinh doanh nhỏ không
đơn thuần là sự dễ dàng trong mợi công việc kinh doanh. Nó chỉ cho thấy sắc
suất cao để đạt đƣợc những mục tiêu ở tầm thấp mà thôi.
Chính đặc tính linh hoạt đã cho phép doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt
máy móc cao do tính chuyên dụng của chúng thấp (các máy công cụ càng đơn
giản, càng có thể sử dụng vào nhiều công đoạn sản xuất các loại sản phẩm
khác nhau). Song, điều này cũng gây không ít khó khăn cho chính doanh
nghiệp cũng nhƣ các nhà hoạch định chính sách. Đó là, trình độ công nghệ
thấp cộng với trình độ tay nghề của ngƣời lao động thấp kéo theo năng suất
lao động thấp và mức phế phẩm cao, do đó chất lƣợng hàng hóa thấp và mức
sử dụng tài nguyên cao. Công nghệ thô sơ gây ô nhiễm môi trƣờng, nhất là
các ngành chế biến có sử dụng hóa chất và các ngành có lƣợng chất thải lớn.
Thứ tư: Năng lực cạnh tranh
Doanh nghiệp nhỏ và vừa thƣờng có phạm vi hoạt động trong địa
phƣơng. Thị trƣờng nhỏ và mang tính địa phƣơng ít gây áp lực cho doanh
nghiệp. Ngƣợc lại, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các vùng xa xôi vì vậy cũng ít
năng động hơn. Sức ỳ khá lớn là một trong những yếu tố làm phân hóa mạnh
khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Song, sự chi phối của yếu tố địa phƣơng
chỉ là nhỏ, các yếu tố nội lực của doanh nghiệp mới đóng vai trò quyết định.
Có thể thấy rõ là doanh nghiệp nhỏ và vừa có điểm yếu là trình độ công nghệ
ít hiện đại, nhân công trình độ tay nghề có hạn, sản phẩm chất lƣợng không
cao, trình độ quản lý có hạn, chủ sở hữu nhiều khi chƣa có trình độ và kinh
23
nghiệm trong kinh doanh. Vì vậy mà, mức độ chủ động của doanh nghiệp
trong kinh doanh là có hạn.
Thứ năm: Dễ bị tác động trước các biến động kinh tế
Đặc tính này là hệ quả của quy mô các yếu tố về vốn, công nghệ, trình
độ nhân công, năng lực quản lý của chủ doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhỏ và
vừa có mức rút lui khỏi thị trƣờng khá cao, nhƣng tỷ lệ gia nhập mới gia tăng
cũng rất lớn. Làn sóng này phụ thuộc rất nhiều vào diễn biến của nền kinh tế.
Ngay cả ở các nƣớc phát triển, số phận doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng khá
bấp bênh. Vấn đề này đặt ra trƣớc các nhà hoạch định chính sách nhiệm vụ