Thúc đẩy đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời kỳ hội nhập quốc tế - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÙI TRỌNG TÍN THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Thành phố Hồ Chí Minh, 2010 1
MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
3. Mục tiêu nghiên cứu 8
4. Phạm vi nghiên cứu 8
5. Mẫu khảo sát 8
6. Câu hỏi nghiên cứu 9
7. Giả thuyết nghiên cứu 9
8. Phương pháp nghiên cứu 9
9. Kết cấu của Luận văn 10
CHƯƠNG 1. 11
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ NĂNG LỰC 11
CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 11
1.1. Công nghệ và đổi mới công nghệ 11
1.1.1. Khái niệm công nghệ 11
1.1.2. Khái niệm đổi mới công nghệ 14
1.1.3. Khái niệm quản lý đổi mới công nghệ 18
1.1.4. Hiệu quả đổi mới công nghệ 22
1.1.5. Đầu tư đổi mới công nghệ 24
1.2. Doanh nghiệp nhỏ và vừa và năng lực cạnh tranh …. 24
1.2.1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 24
1.2.2. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 26
1.2.3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa 28

2.4.5. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp qua đổi mới công nghệ 64
2.4.6. Đánh giá về thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp khi đổi mới công
nghệ 66
* Kết luận Chương 2 66
CHƯƠNG 3. 68
CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 68
NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 68
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 68
3.1. Giải pháp tổng thể thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ
và vừa 68
3.1.1. Kinh nghiệm nước ngoài về thúc đẩy đổi mới công nghệ 68
3.1.2. Định hướng thúc đẩy đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa 71
3.2. Giải pháp cụ thể thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và
vừa 74
3.2.1. Tăng cường các hoạt động hỗ trợ đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp
nhỏ và vừa trong việc đổi mới công nghệ 74
3.2.2. Xây dựng chương trình hỗ trợ doanh nghiệp xác lập, khai thác, phát
triển và bảo vệ tài sản trí tuệ 79
3.2.3. Xây dựng chương trình thông tin KH&CN hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và
vừa đổi mới công nghệ 85
3.2.4 Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng cường đầu tư nghiên
cứu và triển khai 90
3.2.5. Phát triển thị trường công nghệ và đẩy mạnh chuyển giao công nghệ 97
* Kết luận Chương 3 100
KẾT LUẬN 102
KHUYẾN NGHỊ 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
4
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Công nghệ và đổi mới công nghệ trở thành yếu tố quan trọng tác động
đến năng suất, sức cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế khi mà Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức
Thương mại Thế giới WTO. Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành
một số cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Tuy nhiên,
các chính sách đó trên thực tế đã có tác động như thế nào đến hoạt động đổi
mới công nghệ ở các DNNVV, hiện nay vẫn còn là một vấn đề cần phải
nghiên cứu.
Mặt khác, điều kiện để đổi mới công nghệ của các DNNVV hiện nay
còn rất hạn chế, thị trường công nghệ của Việt Nam nói chung còn đang trong
thời kỳ mới hình thành, các biện pháp hỗ trợ thúc đẩy đổi mới công nghệ vẫn
chưa đồng bộ như sàn giao dịch công nghệ và thiết bị; địa điểm trưng bày,
giới thiệu, tìm kiếm, giao dịch mua - bán, môi giới, tư vấn công nghệ và thiết
bị, phục vụ nhu cầu đổi mới và chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp.
Về mặt quản lý đổi mới công nghệ vẫn còn nhiều vướng mắc chưa được tháo
gỡ như quy trình triển khai đánh giá trình độ công nghệ, xây dựng cơ sở dữ
liệu quản lý công nghệ và nghiên cứu xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ
trong các lĩnh vực trọng điểm; hướng dẫn doanh nghiệp áp dụng các hệ thống
quản lý chất lượng tiên tiến như ISO, TQM, HACCP…; hỗ trợ các doanh
nghiệp xây dựng và quảng bá thương hiệu và các đối tượng sở hữu trí tuệ
khác (sáng chế, giải pháp hữu ích, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp…);
hỗ trợ chi phí đánh giá phù hợp tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn nước ngoài,

nghiệp là một đề tài được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, học viên cao học
nghiên cứu. Chúng ta có thể điểm các công trình sau đây:
- “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và
biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu - triển khai
trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam” là một đề tài do Trần Ngọc Ca, Viện
Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ chủ trì năm 2000 đã

6
nghiên cứu môi trường chính sách cho đổi mới công nghệ tại các cơ sở sản
xuất về mặt tài chính và nhân lực KH&CN, đề tài đưa ra khuyến nghị tiếp tục
hoàn thiện các chính sách tài chính, làm cho môi trường chính sách tài chính
trở nên thân doanh nghiệp hơn, tạo đối thoại thiết thực và thường xuyên giữa
các cơ quan hoạch định chính sách và doanh nghiệp. Cải cách mạnh mẽ các
hệ thống văn bản và môi trường chính sách liên quan đến nhân lực lao động
và cho đổi mới công nghệ.
- “Nghiên cứu một số giải pháp chính sách nâng cao năng lực cạnh
tranh của các DNNVV đáp ứng yêu cầu hội nhập - trường hợp các DNNVV
tiểu thủ công nghiệp gốm sứ” do Tăng Thế Cường chủ trì năm 2003, đề tài
này đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố tác động tới đổi mới công nghệ để
nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV ngành gốm sứ trong hội nhập, đề
xuất một số giải pháp về chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh của các
DNNVV ngành gốm sứ.
- “Biện pháp hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các DNVVN ở Việt Nam”
thuộc dự án “Nâng cao năng lực quản lý khoa học & công nghệ của Việt
Nam” do Vũ Xuân Thành chủ trì năm 2004 đã nghiên cứu thực tiễn về đổi
mới công nghệ sản xuất đối với khu vực DNNVV ở Việt Nam; thực trạng
chính sách và tổ chức thúc đẩy đổi mới công nghệ. Đề tài đã đề xuất một số
chính sách và tổ chức hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các DNNVV ở Việt Nam.
Mục tiêu của đề tài để trả lời câu hỏi: Nhà nước có thể làm gì để hỗ trợ các
DNNVV đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh

công nghệ và năng lực cạnh tranh của các DNNVV.
Mặt khác, chưa có đề tài nào nghiên cứu về đổi mới công nghệ trong
các DNNVV trên địa bàn tỉnh Kon Tum – một tỉnh miền núi vùng cao, biên
giới, nằm ở phía bắc Tây Nguyên, có những đặc điểm riêng biệt về điều kiện
địa lý, kinh tế - xã hội. Sự khác biệt của đề tài Thúc đẩy đổi mới công nghệ
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong
thời kỳ hội nhập quốc tế mà Luận văn này tiến hành là lấy các DNNVV trên
địa bàn tỉnh Kon Tum làm đối tượng khảo sát, trên cơ sở đó đề xuất các giải
pháp cho vấn đề nghiên cứu.

8
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp để thúc đẩy đổi mới công nghệ nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNVV trong thời kỳ hội nhập quốc
tế.
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã nêu trên, Luận văn có các nhiệm
vụ sau đây:
- Đề ra hệ thống lý thuyết về đổi mới công nghệ, năng lực cạnh tranh
của các DNNVV;
- Khảo sát thực trạng đổi mới công nghệ của các DNNVV, phân tích
tìm ra các nguyên nhân thúc đẩy hoặc kìm hãm việc đổi mới công nghệ của
các DNNVV;
- Đề xuất các giải pháp để thúc đẩy đổi mới công nghệ nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của các DNNVV.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng về công nghệ và đổi mới công nghệ của
DNNVV;
- Nghiên cứu năng lực cạnh tranh có liên quan đến công nghệ của các
DNNVV;
- Nghiên cứu các chính sách thúc đẩy đổi mới công nghệ nhằm nâng

- Phát triển thị trường công nghệ nhằm thúc đẩy nhanh và có hiệu quả
quá trình chuyển giao công nghệ.
8. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước trong lĩnh vực đổi
mới công nghệ của các DNNVV.
- Khảo sát trực tiếp tại doanh nghiệp.
- Nghiên cứu và tìm hiểu dựa trên các thông tin, tài liệu chính thức
cũng như các báo cáo tương tự đã thực hiện tại địa bàn, trong đó có:
+ Thông tin chung về tình hình kinh tế xã hội của Tỉnh Kon Tum
trong 5 năm gần đây;
+ Các chiến lược, phương hướng và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
của tỉnh;

10
+ Các văn bản pháp luật liên quan đến hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới
công nghệ;
+ Thông tin chung về hoạt động của các DNNVV tại tỉnh Kon Tum.
9. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của Luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở lý luận về đổi mới công nghệ và năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Chương 2. Thực trạng đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ
và vừa;
- Chương 3. Các giải pháp thúc đẩy đổi mới công nghệ nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
11

Công nghệ được thể hiện ở công nghệ về sản phẩm và công nghệ về
quy trình sản xuất. Công nghệ về sản phẩm được hiểu là những tri thức hay
sáng kiến/sáng tạo được thể hiện trong một sản phẩm. Còn, công nghệ về quy
trình sản xuất là những bí quyết gắn với quy trình sản xuất ra sản phẩm nói
chung.
Trong nền kinh tế thị trường, với cương vị là sản phẩm trí tuệ, công
nghệ là một hàng hoá đặc biệt, có các đặc thù cơ bản như: đó là hàng hoá vô
hình; mang đặc điểm của một số hàng hoá công; có tác động lan tỏa; rất khó
xác định được giá cả thực của sản phẩm công nghệ theo cơ chế thị trường.
Tiếp theo, có bốn khía cạnh cần phải nêu rõ trong định nghĩa về công
nghệ, đó là:
- Công nghệ là máy biến đổi
- Công nghệ là một công cụ
- Công nghệ là kiến thức
- Công nghệ hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó.
Xuất phát từ các khía cạnh trên, chúng ta thừa nhận định nghĩa về công
nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
(Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP) đưa ra:
“đó là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dựng để chế biến vật
liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và
các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”.
Trong định nghĩa nêu trên, công nghệ đó bao gồm:
- Công nghệ là một quy trình sản xuất nhằm biến đổi các sản phẩm ở
đầu ra sẽ có giá trị cao hơn giá trị sản phẩm của đầu vào. Nó bao gồm cả
những thiết bị kỹ thuật trong quy trình (Technoware).
- Công nghệ là một sản phẩm, nó có mối quan hệ chặt chẽ với con
người (Humanware), và cơ cấu tổ chức (Orgaware).
- Công nghệ không đơn thuần chỉ là các vật thể mà đặc trưng là kiến
thức. Việc sử dụng công nghệ đòi hỏi con người cần phải được đào tạo về kỹ


con người về công nghệ như: kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm, kỷ luật, tính

14
sáng tạo…mà các kỹ năng chỉ có thể có được qua đào tạo và kinh nghiệm
thực tiễn. Dạng hàm chứa này của công nghệ được gọi là Phần con người của
công nghệ - Humanware (H).
- Công nghệ hàm chứa trong các kiến thức có tổ chức được tư liệu hóa
như: các lý thuyết, các khái niệm, các phương pháp, các thông số, công thức,
các bản vẽ kỹ thuật, bí quyết v v Dạng thức này của công nghệ được gọi là
Phần thông tin - Inforware (I).
- Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế, tạo nên bộ khung tổ
chức của công nghệ, như cơ cấu tổ chức, phạm vi chức năng, trách nhiệm,
mối quan hệ, sự phối hợp, mối liên kết…Đây là Phần tổ chức của công nghệ
- Organware (O).
1.1.2. Khái niệm đổi mới công nghệ
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn,
trong đó mỗi giai đoạn thường gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của một
hoặc nhiều loại hình công nghệ đặc trưng quyết định sự phát triển của xã hội
ở giai đoạn đó. Như vậy, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử đều có sự ra đời
của công nghệ mới thay thế cho công nghệ cũ.
Vậy đổi mới công nghệ là gì? Đó chính là cấp cao nhất của thay đổi
công nghệ và là quá trình quan trọng nhất của sự phát triển đối với tất cả các
hệ thống công nghệ.
Ở Việt Nam hiện nay trong các văn bản chính thức, ngay cả Luật
KH&CN và Luật Chuyển giao công nghệ cũng không đề cập khái niệm này,
mặc dù trong Luật có cụm từ “đổi mới công nghệ” liên quan đến Chương
trình đổi mới công nghệ quốc gia; Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia.
Theo Keith Pavitt (2003)
1
quá trình đổi mới là quá trình khám phá ra

Nhưng hệ thống công nghệ mà chúng ta đang sử dụng có tính phức tạp
và đa dạng cao, có khi chỉ để cho ra đời một loại sản phẩm đã có thể dùng rất
nhiều loại công nghệ khác nhau, do đó nếu xếp tất cả mọi loại thay đổi nhỏ về
công nghệ đều là đổi mới công nghệ, thì việc quản lý đổi mới công nghệ là
điều không dễ dàng. Bởi vậy, khi nói đến đổi mới công nghệ, chúng ta nên tập
trung vào những thay đổi cơ bản trong hệ thống công nghệ.
Đổi mới công nghệ là hoạt động nghiên cứu nhằm đổi mới, cải tiến
công nghệ đã có (trong nước, ngoài nước), góp phần cải thiện chất lượng sản
phẩm, hạ giá thành, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
Đổi mới công nghệ có thể bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như:
hoạt động nghiên cứu và triển khai để cải tiến sản phẩm có chất lượng, mẫu

2
OECD: Proposed Guidelines for Collecting and Interpreting Technological Innovation Data - Oslo Manual;
Paris, 1997.
16
mã tốt hơn, có sức hấp dẫn hơn và khả năng cạnh tranh lớn hơn; hoạt động
nghiên cứu và triển khai để cải tiến/đổi mới quy trình công nghệ sao cho đạt
chi phí thấp hơn, năng suất, hiệu quả cao hơn; nghiên cứu để hoàn thiện công
nghệ sản phẩm hoặc công nghệ quy trình sản xuất nhập ngoại cho phù hợp
với điều kiện trong nước. Hoạt động đổi mới công nghệ không chỉ dừng lại ở
khâu nghiên cứu và triển khai mà còn bao gồm cả khâu phổ biến, chuyển giao
những kết quả nghiên cứu đổi mới đó vào thực tiễn sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Xét về năng lực tạo ra công nghệ thì đổi mới công nghệ được đánh giá
là có trình độ cao hơn so với hấp thụ công nghệ, nhưng lại thấp hơn so với

tư tài chính mua máy móc, trang thiết bị mới, số máy móc, phương tiện này
có thể chỉ đơn thuần là tài sản hữu hình mà không kèm theo công nghệ (một
dạng của tài sản vô hình – tài sản trí tuệ). Trường hợp này không phải là đổi
mới công nghệ.
Trường hợp khác, nếu máy móc, phương tiện mới mà doanh nghiệp
mua về ở dạng phức tạp, để sử dụng chúng cần phải có giải pháp, quy trình,
bí quyết công nghệ đi kèm, các giải pháp, quy trình, bí quyết công nghệ này
có thể doanh nghiệp mua (chuyển quyền sử dụng đồng thời với quyền sở hữu)
hoặc chỉ license (chỉ chuyển quyền sử dụng). Trường hợp này là đổi mới công
nghệ.
Công nghệ là sản phẩm do con người tạo ra, bởi vậy nó cũng tuân theo
quy luật chu trình sống của sản phẩm nói chung: sinh ra, phát triển và tiêu
vong. Như vậy, đổi mới công nghệ là tất yếu và phù hợp với quy luật phát
triển. Tính tất yếu của đổi mới công nghệ còn do lợi ích của các doanh
nghiệp quy định. Về lợi ích thương mại, nhờ đổi mới công nghệ mà doanh
nghiệp tạo ra được các sản phẩm mới có chất lượng, nâng cao năng lực cạnh
tranh trên thị trường, khẳng định vị thế của doanh nghiệp đối với xã hội. Đổi
mới công nghệ thực chất là một quá trình thay thế, các công nghệ mới tiên
tiến hơn do mang tính ưu việt sẽ thay thế công nghệ cũ lạc hậu hơn.
Tính tất yếu của đổi mới công nghệ còn do xu thế hợp tác quốc tế về
kinh tế quy định. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, khi thị trường mở

18
rộng ra khỏi biên giới quốc gia, thì yếu tố sống còn của mỗi nền kinh tế phụ
thuộc vào năng lực cạnh tranh của nó, trong đó việc đổi mới công nghệ quyết
định phần không nhỏ cho năng lực cạnh tranh này.
Đổi mới công nghệ chỉ thực sự thành công và có ý nghĩa xã hội, trước
hết khi nó được thương mại hóa và sau đó được thị trường và xã hội chấp
nhận. Hay nói cách khác, tính thương mại của việc đổi mới công nghệ phải
gắn liền với sự ổn định xã hội, để đạt được mục tiêu này quả là bài toán khó

công nghệ, các biện pháp liên quan đến quan hệ giữa con người với các yếu tố
kỹ thuật, mối quan hệ giữa con người với quá trình kinh doanh dịch vụ. Trong
quá trình quản lý công nghệ thì các vấn đề liên quan đến công nghệ của doanh
nghiệp bao gồm những nội dung chủ yếu:
- Doanh nghiệp tạo ra công nghệ mới căn cứ theo đầu vào là các nguồn
lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tin lực), đó là các hoạt động từ việc mua hoặc
nhập các nguồn lực, hoạt động nghiên cứu (có thể dựa trên các ý tưởng mới),
đưa ra các mẫu thử nghiệm, chuyển sang hoạt động sản xuất, phân phối.
- Trong quá trình sử dụng hoặc kinh doanh công nghệ, doanh nghiệp
tiếp tục xem xét các tiêu chí liên quan đến quản lý công nghệ như năng suất,
chất lượng…, và các hoạt động cải tiến công nghệ, ví dụ như thay đổi nhỏ
(công nghệ bắt đầu có những cải tiến nhất định) hoặc đổi mới lớn (công nghệ
được sáng chế ra gần như hoàn toàn mới).
Quản lý đổi mới công nghệ được chia theo các cây mục tiêu:
1. Quản lý theo trình độ công nghệ: Công nghệ truyền thống thường là
thủ công, có tính độc đáo, độ tinh xảo cao những năng suất không cao, chất
lượng không đồng đều, giá thành cao. Công nghệ tiên tiến là thành quả của
khoa học hiện đại, có năng suất cao, chất lượng tốt và đồng đều, giá thành sản
phẩm hạ.
2. Quản lý theo mục tiêu phát triển của công nghệ: Công nghệ phát
triển bảo đảm cung cấp các nhu cầu thiết yếu cho xã hội như ăn, mặc, ở, đi
lại Công nghệ thúc đẩy tạo nên sự tăng trưởng nền kinh tế quốc gia. Công
nghệ dẫn dắt có khả năng cạnh tranh trên thị trường.
3. Quản lý theo mục tiêu bảo vệ môi trường: Công nghệ ô nhiễm gây
những tác hại nhất định đến môi trường. Công nghệ sạch có quá trình sản xuất

20
tuân theo điều kiện giảm ảnh hưởng ô nhiễm đến môi trường, sử dụng các
nguồn nguyên liệu thô và năng lượng với chi phí hợp lý và kinh tế (công nghệ
thân môi trường).

lý khoa học và công nghệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

21
- Lĩnh vực các hoạt động hỗ trợ, bao gồm: mối quan hệ với khách hàng
và nhà cung cấp.
Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng kết quả
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đặc biệt là ứng dụng công nghệ
được tạo ra ở trong nước. Doanh nghiệp ứng dụng công nghệ được tạo ra ở
trong nước được hưởng các ưu đãi theo quy định của Chính phủ đã được quy
định cụ thể tại Luật Khoa học và công nghệ cùng với một số văn bản pháp
quy khác.
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu cạnh tranh gay gắt, công nghệ ngày
càng trở thành nhân tố chủ yếu, quyết định năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp và của quốc gia. Năng lực công nghệ còn là một trong những điều kiện
quyết định đối với sự sống còn của doanh nghiệp buộc doanh nghiệp không
ngừng nâng cao nó. Như vậy, để nâng cao năng lực công nghệ buộc doanh
nghiệp phải đầu tư, đổi mới, nhưng không thể thiếu được vai trò quản lý Nhà
nước trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đặc biệt là tạo khung khổ luật
pháp cho việc hình thành và vận hành thị trường này.
Thời gian qua nhiều bộ luật quan trọng liên quan đến phát triển KH&CN
đã được ban hành và thực thi như Luật KH&CN, Luật Chuyển giao Công
nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Công nghệ cao… Chính phủ cũng đã ban hành
nhiều Nghị định quan trọng nhằm khuyến khích việc đầu tư vào KH&CN, đổi
mới công nghệ trong các doanh nghiệp như Nghị định 119/1999/NĐ-CP về
một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư
vào KH&CN, Nghị định 122/2003/NĐ-CP về thành lập quỹ phát triển
KH&CN quốc gia; Nghị định 115/2005/NĐ-CP về tăng cường quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu KH&CN; Nghị định
80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN. Bộ KH&CN cũng đã ban hành
nhiều quyết định, thông tư quy định các mặt khác nhau liên quan đến việc

Đổi mới công nghệ tạo ra các cơ hội kinh doanh và đồng thời cũng tạo
ra cơ hội cho sự tăng trưởng kinh tế, nhưng đánh giá đầy đủ kết quả của đổi
mới công nghệ là một công việc hết sức khó khăn, do những lợi ích mà đổi
mới công nghệ mang lại rất đa dạng, trong số đó, có những lợi ích không thể

23
đánh giá một cách chính xác được, bên cạnh đó có những mặt tưởng chừng
như có hiệu ứng tiêu cực lúc này nhưng lại là yếu tố tích cực trong tương lai
nếu có sự quản lý tốt để khắc phục.
Khi đánh giá hiệu quả đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, ta phải
đánh giá qua so sánh giá trị gia tăng của doanh nghiệp trước và sau khi đổi
mới công nghệ. Các chi phí cho đổi mới công nghệ thể hiện ở các chi phí đầu
tư cho bốn thành phần của công nghệ, đó là:
1. Chi phí để đổi mới phần kỹ thuật;
2. Chi phí đào tạo nhân lực cho kỹ thuật mới;
3. Chi phí cho thông tin, tư vấn, bí quyết công nghệ;
4. Chi phí đổi mới sắp xếp lại bộ máy quản lý cho phù hợp với yêu cầu
của công nghệ mới.
Khi thực hiện đổi mới công nghệ thì chi phí thứ hai chiếm tỷ lệ không
nhỏ trong tổng chi phí nói chung. Đối với các doanh nghiệp lớn, có tiềm lực
kinh tế mạnh thì có thể liên kết với các cơ quan nghiên cứu – triển khai
(R&D) để tạo ra các công nghệ mới hoàn toàn chưa từng tồn tại trên thị
trường. Việc tạo ra các công nghệ mới này cũng đồng nghĩa với việc chi phí
để đào tạo nhân lực có khả năng làm chủ công nghệ. Nhưng đối với đa số
doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì việc liên kết với các cơ
quan R&D là điều khó khăn, bởi vậy họ chọn con đường chuyển giao công
nghệ bằng hình thức chỉ chuyển quyền sử dụng thông qua hợp đồng license,
trong các hợp đồng license có thể có quy định trách nhiệm của bên chuyển
giao phải đào tạo nhân lực để có thể làm chủ công nghệ, nhưng trong trường
hợp đó tổng giá trị của hợp đồng phải tăng lên rất nhiều. Do đó, đã có những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status