Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương vào dạy học thơ đường trong trường trung học cơ sở - Pdf 30


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THANH VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN ĐỒNG BỘ
TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG VÀO DẠY HỌC
THƠ ĐƯỜNG TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 01 11Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Văn Đức HÀ NỘI – 2014i
LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp Luận văn Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn
chương vào dạy học thơ Đường trong trường THCS được hoàn thành, tác giả
xin trân trọng cảm ơn:

Đại học giáo dục

ĐHQG

Đại học quốc gia

GD&ĐT

Giáo dục và Đào tạo

GS

Giáo sư

GV

Giáo viên

HS

Học sinh
KHXH và NV

Khoa học xã hội và Nhân văn
LL

Lý luận
SGK Sách giáo khoa
SGV Sách giáo viên
THCS Trung học cơ sở

1.1.2. Các hướng tiếp cận chủ yếu

10
1.1.3. Mối quan hệ giữa các hướng tiếp cận

15
1.2. Cơ sở thực tiễn

16
1.2.1. Thực trạng việc dạy học thơ Đường ở trường trung học cơ sở

16
1.2.2. Khảo sát thực tế

19
1.2.3. Kết luận về thực trạng

29
Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC TÁC PHẨM THƠ ĐƯỜNG
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG TIẾP
CẬN ĐỒNG BỘ
32
2.1. Những yêu cầu khi dạy học tác phẩm thơ Đường theo hướng
tiếp cận đồng bộ 32


57

iv
3.2. Quá trình thực nghiệm

88
3.2.1. Mục đích thực nghiệm

88
3.2.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm

89
3.2.3. Nội dung và tiến trình thực nghiệm

89
3.2.4. Kết quả thực nghiệm

91
KẾT LUẬN

93
TÀI LIỆU THAM KHẢO

94
PHỤ LỤC

96
việc sử dụng ngôn từ vừa chính xác, vừa trau chuốt, vừa giản dị lại vừa
uyên thâm. Với tính chất hàm súc, ước lệ, cổ kính, trang nghiêm, chặt chẽ
về niêm luật, thể loại, thơ Đường đã vượt qua mọi thử thách về không gian -
thời gian đến nay hàng ngàn năm đã trôi qua mà việc tiếp nhận vẫn diễn ra
không ngừng.
Thơ Đường có ảnh hưởng rất sâu đậm đối với nền học của các nước trên
thế giới cũng như khu vực. Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ qua lại lâu
đời, mật thiết về nhiều mặt như lịch sử, văn hóa…Lẽ dĩ nhiên, thơ Đường -
một kiệt tác của nền văn hóa nhân loại cũng có tác động sâu sắc đến văn học
Việt Nam từ xưa đến nay. Không chỉ vay mượn, người Việt Nam còn tiếp
nhận Đường thi dưới nhiều hình thức khác nhau. Quá trình này được diễn ra
thường xuyên liên tục. Chúng ta biết rằng, không thể có một nền văn hóa
nào dù lớn và có ảnh hưởng sâu rộng đến đâu lại có thể liên tục phát triển
triển một địa bàn khép kín, tách rời sự tiếp xúc với các nền văn hóa khác.
Văn học là một thành tố cơ bản của văn hóa nên bản thân văn học cũng
mang những đặc điểm cơ bản của văn hóa, trong đó có đặc điểm về sự giao
lưu, ảnh hưởng như đã nói. Như vậy quá trình giao lưu hội nhập văn học
nước mình với văn học các dân tộc khác nói chung và văn học Trung Quốc
nói riêng là một quá trình tất yếu. Trong đó, thơ Đường đã có sức ảnh
hưởng rất lớn tới nền văn học Việt Nam. 2
1.2. Lí do sư phạm
Thơ Đường được đưa vào giảng dạy trong trường THCS (SGK Ngữ
văn 7 tập 1) gồm 4 tác phẩm: Vọng Lư sơn bộc bố (Lý Bạch), Tĩnh dạ tứ
(Lý Bạch), Hồi hương ngẫu thư (Hạ Tri Chương), Mao ốc vị thu phong sở
phá ca (Đỗ Phủ). Bốn tác phẩm trên được phân bố trong Phân phối chương
trình là 4 tiết (chiếm 33% tổng số tiết dạy các tác phẩm thơ trong chương
trình Ngữ văn 7 học kì I), trong đó 2 tác phẩm được dạy chính là: Tĩnh dạ tứ

2.1. Lịch sử nghiên cứu về thơ Đường ở Việt Nam
Thơ Đường đã đi vào Việt Nam từ rất lâu, gây được ảnh hưởng sâu
rộng và được nhiều người yêu thích. Trước thế kỉ XX, khi nền Hán học còn
phát triển thì người Việt Nam (những người biết chữ Hán) đọc thơ Đường
nguyên tác và tự hiểu được mà không cần bản dịch. Đến những năm đầu
thế kỉ XX, nền Hán học của nước ta suy tàn, chữ Hán dần dần được thay
thế bằng chữ Quốc ngữ. Khi ấy ta cũng bắt đầu thấy xuất hiện trên báo chí
những bản dịch thơ Đường sang Quốc ngữ của những dịch giả nổi tiếng
như Tản Đà, Ngô Tất Tố Những bản dịch này đã đưa thơ Đường đến với
nhiều tầng lớp độc giả Việt Nam.
Từ thập niên 40 trở đi, các tuyển tập thơ Đường ngày càng phong phú,
số tuyển tập tái bản nhiều lần. Trong đó có thể kể đến một số tuyển tập:
- Phiên dịch và khảo cứu thơ Đường (1940) của Ngô Tất Tố, sau này
được tái bản thành Đường thi (Ngô Tất Tố). Trong tuyển tập này có 52 bài
thơ Đường được dịch.
- Đường thi (1950) của Trần Trọng Kim tuyển dịch, đến năm 1995
được tái bản lại. Tuyển tập này có 336 bài thơ Đường được dịch. Mỗi bài
thơ đều có nguyên văn chữ Hán, phiên âm Hán – Việt, chú thích ngắn gọn
và bản dịch thơ.
- Tuyển tập Thơ Đường (2 tập) năm 1950 do Nam Trân tuyển thơ,
Hoa Bằng, Tảo Trang, Hoàng Tạo dịch nghĩa và chú thích. Trong tuyển tập

4
này Nam Trân đã tuyển chọn nhiều bài dịch hay của các dịch giả nổi tiếng
như: Tản Đà, Trúc Khê, Ngô Tất Tố, Khương Hữu Dụng. Tuyển tập này
tuyển chọn dịch 356 bài thơ Đường, mỗi bài đều có phần phiên âm Hán –
Việt, dịch nghĩa, chú thích và dịch thơ.
- Tuyển tập Đường thi trích dịch (1958) của Đỗ Bằng Đoàn và Bùi
Khánh Đàn, đến năm 2007 được tái bản. Khối lượng các bài thơ được dịch
lên đến 503 bài với các phần: Nguyên văn chữ Hán, chú giải, dịch nghĩa,

vào chương trình nhà trường phổ thông trung học. Cuốn Việt Nam văn học sử
yếu, xuất bản lần đầu tại Hà Nội, năm 1943 của ông là cuốn sách giáo khoa
Văn học được dùng ở bậc Phổ thông Trung học dưới thời Pháp thuộc trước
Cách mạng tháng Tám. Trong cuốn sách này, Dương Quảng Hàm đã giới
thiệu năm nhà thơ Trung Quốc có ảnh hưởng lớn nhất đến văn chương Việt
Nam là: Khuất Nguyên, Đào Tiềm, Lý Bạch, Hàn Dũ, Tô Đông Pha. Như
vậy, trong ba đỉnh cao của thơ Đường là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị thì
Dương Quảng Hàm chỉ tuyển chọn Lý Bạch vào chương trình giảng dạy.
Trong cuốn sách này, Dương Quảng Hàm đã được giới thiệu về: thân thế,
tình hình tư tưởng, văn từ của Lý Bạch và giới thiệu bài thơ Tương tiến tửu
(Sắp kèo rượu) với mục đích làm rõ hơn nhận xét về tính tình tư tưởng của
nhà thơ Lý Bạch.
Đến 1956 – 1979, SGK môn Văn không giới thiệu thơ Đường trong
chương trình Phổ thông. Dựa vào tư liệu tham khảo Chuyên đề tiếp nhận thơ
Đường tại Việt Nam của tác giả Phạm Ánh Sao thì thơ Đường chính thức
được đưa vào chương trình Phổ thông ở Việt Nam từ năm 1989 – 1990.
Cho đến nay, ở VN đã có không ít công trình nghiên cứu về vấn đề
giảng dạy Đường thi ở trường phổ thông. Có thể kể đến những công trình
tiêu biểu như:

6
- Trong cuốn Thơ Đường ở trường phổ thông do Hồ Sĩ Hiệp tuyển và
biên soạn (Nxb Tổng hợp Khánh Hòa, Khánh Hòa, 1991) có những bài giới
thiệu và phân tích một số bài thơ Đường nổi tiếng và các nhà thơ tiêu biểu.
- Dạy học các tác phẩm thơ Đường ở trường THCS và THPT: Theo
chương trình ngữ văn mới của Lê Xuân Soan [10], trong đó có phần “Vị
trí, vai trò của phần thơ Đường trong chương trình SGK Ngữ văn trung
học, Thơ Đường trong nhà trường của Trần Ngọc Hưởng, Bình giảng thơ
Đường và việc dạy học thơ Đường ở trường PT của Nguyễn Thị Bích Hải ,
trong đó có phần “Vị trí của thơ Đường và việc dạy học thơ Đường ở

đồng bộ;
- Thiết kế giáo án và đưa vào thực nghiệm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những tác phẩm thơ Đường trong SGK Ngữ văn 7, Tập Một; NXB Giáo
dục; Hà Nội, 2007
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Các nội dung tiếp cận đồng bộ trong dạy học thơ Đường ở trường THCS.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi dựa trên những
phương pháp chủ yếu sau:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết như phân tích văn bản,
tổng hợp tài liệu, tư liệu về tác giả, tác phẩm.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tế như điều tra khảo sát hiện
trạng, phát phiếu điều tra, thống kê số liệu, thực nghiệm sư phạm từ đó rút ra
kết luận.
(Nguồn số liệu sử dụng trong Luận văn này được lấy từ việc khảo sát cụ
thể tại trường THCS Phương Mai, Hà Nội. Ngoài ra, được phép của đồng

8
nghiệp, chúng tôi có sử dụng một số tư liệu, hình ảnh trong quá trình dạy học
bộ môn ở các trường trong khu vực ).
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính
của luận văn được trình bày trong 3 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
- Chương 2: Tổ chức dạy học tác phẩm thơ Đường ở trường trung học cơ
sở theo hướng tiếp cận đồng bộ.
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.


nghiên cứu và giảng dạy văn học là luôn luôn nắm vững một quan điểm tiếp
cận đồng bộ, một sự vận dụng hài hòa các phương pháp lịch sử phát sinh,
cấu trúc văn bản và lịch sử chức năng khi tiếp cận tác phẩm văn chương.
Một phương pháp tiếp cận khoa học như vậy được xây dựng từ nhận thức
đúng đắn về nguồn gốc của văn học, về bản chất cấu trúc và sinh mệnh của

10
tác phẩm văn chương và đó cũng là sự vận động nhuần nhuyễn những quan
điểm khách quan và khoa học về việc tìm hiểu một tác phẩm văn chương cụ
thể.” [17, tr.250].
Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn Đọc và tiếp nhận
văn chương cũng khẳng định: “Hoạt động tiếp cận tác phẩm văn chương là
thao tác đầu tiên của cơ chế tiếp nhận. Hoạt động này cần tiến hành một cách
đồng bộ, không thể quá nặng, quá nhẹ với bất cứ một khunh hướng nào.
Khung hướng Tiếp cận lịch sử phát sinh quan tâm đến tính chất xã hội của
tác phẩm, đến nguồn gốc nhận thức của văn học với đời sống. Hướng tiếp
cận bản thể tác phẩm đào sâu vào cơ cấu hình thức được sáng tạo của tác
phẩm. Đây là cách tiếp cận mang tính thẩm mỹ văn học. Khuynh hướng Tiếp
cận chức năng – tác động tuy không bao hàm nhiều thao tác trí tuệ phức tạp
nhưng lại phải vận dụng sự sáng suốt của trái tim để sự cộng thông giữa
những vấn đề của con người trong quá trình diễn ra tốt đẹp ” [8, tr.34].
Như vậy, tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương là một phương pháp
“khoa học quan trọng” để tìm hiểu, cảm thụ tác phẩm văn chương. Vận dụng
quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương vào việc dạy – học Văn
trong nhà trường Phổ thông là một phương hướng đúng đắn và cần thiết.
1.1.2. Các hướng tiếp cận chủ yếu
1.1.2.1. Tiếp cận từ góc độ lịch sử phát sinh
Mỗi nhà văn đều được sinh ra trong một hoàn cảnh lịch sử và đều chịu
sự tác động trở lại hoàn cảnh lịch sử. Do vậy, việc nghiên cứu Văn học phải
dựa vào lịch sử là một tất yếu. Mặt khác, mỗi nhà văn là một bản thể văn hoá,

thì chẳng còn ai nhận ra mình nữa: “Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai”
Và ông đã trở thành khách lạ ngay chính trên quê hương của mình. Thật
là lạc lõng, bơ vơ; thật là buồn tủi, ngậm ngùi. Nhưng cũng chính sự buồn tủi,
ngậm ngùi này lại làm nên tứ thơ thấm đượm nỗi niềm quê hương xứ sở.

12
Như vậy, tiếp cận theo khuynh hướng lịch sử phát sinh là một phương
pháp tiếp cận hết sức quan trọng để tìm hiểu tác phẩm, là cơ sở để lí giải,
đánh giá tác phẩm, giữa tác phẩm với hoàn cảnh mà nó ra đời. Nhưng nếu
quá coi trọng tính lịch sử của tác phẩm sẽ dẫn đến sự phiến diện trong nghiên
cứu bởi nó dẫn đến chỗ thoát li văn bản, suy diễn chủ quan; bàn luận, lí giải
văn bản một cách áp đặt. Điều này, trong thực tế đã diễn ra với nền phê bình
Việt Nam sau năm 1945. Không ít người đã lấy những hiểu biết của mình về
hoàn cảnh lịch sử, về cuộc đời nhà thơ để giải thích và tìm hiểu tác phẩm.
Giá trị của các tác phẩm văn học nhiều khi chỉ được chú ý ở khía cạnh phản
ánh cuộc đời thực, từ đó dẫn đến sai lầm: đồng nhất tác phẩm với cuộc đời
thực. Hiện thực ngoài đời không đồng nhất với hiện thực trong tác phẩm bởi
hiện thực trong tác phẩm là hiện thực được nhà văn lựa chọn, phản ánh, đánh
giá theo quan niệm thẩm mỹ của riêng mình. Như vậy, khi tìm hiểu một tác
phẩm văn học chúng ta cần phải tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử, cuộc đời nhà văn
nhà thơ vì nó giúp chúng ta hiểu được một số khía cạnh nào đó về tác phẩm,
nhưng cũng không nên tuyệt đối hóa phương pháp tiếp cận này. Để khắc
phục những hạn chế của phương pháp tiếp cận theo khuynh hướng lịch sử
phát sinh, chúng ta cần kết hợp với các phương pháp tiếp cận khác.
1.1.2.2. Tiếp cận văn bản
Nếu như Tiếp cận lịch sử phát sinh là sự giao tiếp với xã hội về nghệ
thuật ngoài tác phẩm thì Tiếp cận văn bản là giao tiếp với xã hội nghệ thuật
trong tác phẩm. Từ việc tìm hiểu văn bản mà khám phá tư tưởng nghệ thuật,
chiều sâu tác phẩm, tiềm năng sáng tạo của người nghệ sĩ. Hướng tiếp cận

về việc nhà thơ Lý Bạch ngồi hay nằm ngắm trăng. Tình trạng suy diễn chủ
quan đối với tác phẩm văn học không phải hiện tượng hiếm gặp đối với học
sinh, nhưng giáo viên dạy văn cần phải có đầy đủ kiến thức, phương pháp, kĩ
năng để thực hiện nhiệm vụ của một người thầy: là người định hướng, hướng
dẫn học sinh đi đúng hướng. Với rào cản về ngôn ngữ, về tư duy nghệ thuật,

14
về khoảng cách thời đại… đã khiến những tác phẩm thơ Đường trở nên khó
hiểu đối với học sinh và càng khó hơn trong việc cảm được cái ý tình sâu xa
trong thơ Đường. Khi học những tác phẩm thơ Đường học sinh thường suy
diễn theo ý nghĩ chủ quan của mình. Chính vì vậy, phương pháp tiếp cận văn
bản đã thể hiện được ưu thế của mình khi được vận dụng vào tìm hiểu những
tác phẩm thơ Đường nói riêng và các tác phẩm viết bằng chữ Hán nói chung.
Phương pháp tiếp cận này đã đảm bảo được tính khoa học chính xác của việc
phân tích giá trị của tác phẩm văn chương.
1.1.2.3. Tiếp cận từ lịch sử chức năng
Tác phẩm văn học là một quá trình, tác phẩm được phôi thai từ sự
chiếm lĩnh nghệ thuật về hiện thực của nhà văn và kết quả là người đọc có được
một tác phẩm nghệ thuật. Nhưng sự sống của nó chỉ thực sự bắt đầu khi trải qua
quá trình chiếm lĩnh thẩm mỹ về tác phẩm của người đọc. Văn bản chỉ trở thành
tác phẩm khi có người đọc xuất hiện. Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy đã có một
nhận xét rất chính xác rằng: “ Khoa học văn chương trong hai thế kỷ gần đây có
ba phát hiện quan trọng: Thế kỷ XIX phát hiện ra tác giả, nửa đầu thế kỷ XX:
tác phẩm, nửa cuối thế kỷ XX là độc giả. Mối quan hệ ba ngôi này đã tạo ra một
nhất thể, một chỉnh thể văn học mà tùy theo từng thời điểm và từng phương
pháp tiếp cận người ta tôn một ngôi nào đó là trung tâm nhưng vẫn không đặt ra
ngoài mối quan hệ với hai ngôi kia”. Nếu như trước đây, khi phân tích tác phẩm
văn chương trong nhà trường, người ta chỉ chú ý đến hai hướng tiếp cận chính
là: Lịch sử phát sinh và Tiếp cận văn bản. Trong những thập kỉ gần đây, lí luận
văn học đã nhấn mạnh thêm hướng lịch sử chức năng. Tác phẩm được nhìn

hướng tiếp cận phát sinh quan tâm đến tính chất xã hội của tác phẩm, đến
nguồn gốc nhận thức của văn học với đời sống. Hướng tiếp cận bản thể tác
phẩm đào sâu vào cơ cấu hình thức được sáng tạo của tác phẩm. Đây là
hướng tiếp cận mang tính thẩm mĩ văn học. Khuynh hướng tiếp cận chức
năng – tác động tuy không bao hàm nhiều thao tác trí tuệ phức tạp nhưng lại

16
phải vận dụng sự sáng suốt của trái tim để cộng thông giữa những vấn đề
của con người trong suốt quá trình tiếp nhận” [8, tr.45]. Tiếp cận đồng bộ
tác phẩm là cách tiếp cận khoa học, tối ưu, xuất phát từ bản chất văn học và
quy luật tiếp nhận. Khi giáo viên biết vận dụng hợp lý, linh hoạt các phương
pháp tiếp cận để hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm sẽ tạo hiệu quả cao
trong dạy học Ngữ văn ở trường Phổ thông. Từ những ưu điểm đó, chúng tôi
đề xuất phương pháp dạy học thơ Đường theo quan điểm tiếp cận đồng bộ để
tìm hiểu tác phẩm một cách sâu sắc, toàn diện.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng việc dạy học thơ Đường ở trường THCS
Do nhiều lý do khách quan, chủ quan, trong những năm vừa qua, việc dạy
học Ngữ văn nói chung và thơ Đường nói riêng còn nhiều bất cập. Trước hết, tôi
xin đề cập đến vấn đề rào cản về ngôn ngữ và vốn văn hóa của học sinh.
Những tác phẩm thơ Đường được viết bằng chữ Hán – chữ tượng hình.
Chữ Hán đã du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc và dần dần được sử
dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực như: chính trị, văn hóa, giáo dục Sau
khi nước ta giành được độc lập với chiến thắng Ngô Quyền (938), với tinh
thần độc lập tự chủ, dần dần chữ Nôm đã ra đời. Đến thế kỉ XII chữ Nôm đã
được hình thành và phát triển có hệ thống. Nó đã trở thành chữ viết dân tộc
nhưng không thể thay thế hoàn toàn chữ Hán. Chữ Hán được dùng ở Việt
Nam trong vòng một ngàn năm cho đến mãi tận đầu thế kỷ thứ XX. Năm
1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi
toàn dân học chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ được coi là chữ quốc gia và được

– Văn – Ngữ văn, Với bộ môn Ngữ văn, trong bài nghiên cứu Từ giảng văn
qua phân tích tác phẩm đến dạy học đọc hiểu văn bản văn học đăng trên tạp
chí Văn nghệ Quân đội điện tử số ra ngày 22 tháng 10 năm 2013, GS.TS
Trần Đình Sử đã chỉ ra những hạn chế về mặt phương pháp luận của thao tác
phân tích trong dạy học văn theo lối cũ, đồng thời khẳng định tính ưu việt của

18
phương pháp dạy học theo hướng đọc hiểu văn bản. Việc dạy học văn theo
hướng đọc – hiểu đã và đang được thực hiện ở trường THCS. Đây là một
hướng đi đúng và phát huy hiệu quả của việc dạy học Văn và đặc biệt là
giảng dạy thơ Đường. Trước khi hướng dẫn học sinh khám phá vẻ đẹp của
một tác phẩm thì điều đầu tiên cần phải thực hiện là đọc văn bản và đi đến
hiểu đúng về văn bản đó. Đối với thơ Đường việc làm đó lại càng phải được
chú ý và được thực hiện một cách nghiêm túc. Giáo viên cần hướng dẫn học
sinh tìm hiểu nghĩa của từng yếu tố Hán Việt từ đó hiểu nghĩa của các câu
thơ và bài thơ. Hầu hết giáo viên đều ý thức được điều này nhưng không thực
hiện được một cách triệt để. Để áp dụng phương pháp đọc – hiểu vào dạy học
một tác phẩm thơ Đường phải mất khá nhiều thời gian. Trong khi đó, mỗi bài
thơ chỉ được phân phối dạy trong 1 tiết (45 phút). Để đủ thời gian dạy học
trong 45 phút, nhiều giáo viên đã bỏ qua phần phiên âm chữ Hán và phần giải
nghĩa từ mà chỉ chú ý đến dịch thơ. Từ đó dẫn đến tình trạng thoát li văn bản
chữ Hán, bình giảng phần dịch thơ.
Việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung, dạy học Ngữ văn nói
riêng đã tạo ra hiệu quả khá cao. Tuy nhiên, không phải bài nào, tiết nào
người dạy học cũng thành công với phương tiện đó và đặc biệt là với tiết dạy
tác phẩm thơ trữ tình. Nhưng hiện nay, nhiều giáo viên đã quá lạm dụng
CNTT vào dạy các tác phẩm văn chương, trong đó có thơ Đường. Chính vì
vậy mà hiệu quả dạy học không cao. Trong giờ học, HS bị phân tán bởi các
phương tiện nghe – nhìn nên giảm khả năng liên tưởng, tưởng tượng dẫn đến
tình trạng học sinh thụ động, không phát triển được tư duy. HS tương tác với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status