1
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
1.Trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020 được thông qua
tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (tháng 1-2011) đã khẳng định: “Phát triển
giáo dục là quốc sách hàng đầu … Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình,
phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, bậc học. Tích cực chuẩn bị để từ sau
năm 2015 thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới …” [7, 131- 132].
Có thể nhận thấy bên cạnh việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa
(SGK) không thể không chú trọng đổi mới phương pháp dạy học (DH). Chỉ
có đổi mới cơ bản phương pháp dạy và học chúng ta mới có thể tạo được sự
đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng động,
sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế
giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong
Nghị quyết TW 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết TW 2 khóa VIII (12-1996):
“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục- đào tạo, khắc phục lối truyền thụ
một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp
dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy
học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất
là sinh viên đại học. Phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo
thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên”, được thể chế
hóa trong Luật giáo dục (2005): “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho
người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí
vươn lên”, được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ giáo dục và đào tạo, đặc
biệt chỉ thị số 14 (4-1999).
2
3. Nhà văn Kim Lân và các tác phẩm của ông có vị trí quan trọng trong
lịch sử văn học và trong nhà trường. Bằng chứng là trải qua nhiều lần thay SGK,
đổi mới chương trình những tác phẩm của ông vẫn được giữ lại. Cùng với đó là
việc sử dụng tác phẩm văn học của Kim Lân làm đề thi vào các trường Đại học,
Cao đẳng hàng năm đã để lại những bài văn hay đạt điểm tối đa 10/10.
Xoay quanh việc giảng dạy những tác phẩm của Kim Lân cho phù hợp
nhất với yêu cầu hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Đơn cử như với
tác phẩm “Vợ nhặt” mới chỉ dừng lại ở việc DH theo một vài thiết kế quen
thuộc: hoàn cảnh ra đời, tình huống, bức tranh nạn đói … hay khi ra đề thi
cũng chỉ thấy: phân tích nhân vật Tràng, phân tích tâm trạng bà cụ Tứ, phân
tích giá trị nhân đạo của tác phẩm …
4. Hiện nay, dạy những tác phẩm nói về nỗi đau của quá khứ đang là
vấn đề thời sự bởi bằng bất cứ con đường nào cũng không thể đạt hiệu quả
nếu ta cực đoan hóa một cách tiếp cận. Vì vậy, kết hợp các hướng tiếp cận
trong DH truyện ngắn “Vợ nhặt” là một vấn đề bức xúc trong DH văn hiện
nay ở nhà trường phổ thông. Giải quyết được vấn đề này tức là chúng ta đã
thổi vào nhà trường một không khí DH văn mới.
5. Tóm lại, để góp phần làm rõ hơn việc DH một tác phẩm văn chương
đi đúng bản chất công việc DH cũng như khám phá vẻ đẹp tác phẩm trong
việc hình thành nhân cách người công dân mới trong thời kì đổi mới, chúng
tôi quyết định chọn đề tài:
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN ĐỒNG BỘ VÀO
DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN “VỢ NHẶT” CỦA KIM LÂN Ở TRƯỜNG THPT.
II. Lịch sử vấn đề
Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Kim Lân từ trước đến nay đã có
nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá khác nhau. Mặc dù là cây bút truyện
ngắn tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực ở chặng cuối nói riêng và của văn học
Việt Nam hiện đại nói chung nhưng Kim Lân không phải đã được quan tâm
ngay từ đầu.
chim, gà chọi, chó săn, săn chuột, nhưng ý thức phê phán không rõ rệt”
[46]. Do đó, phải từ khi xã hội có sự thay đổi đáng kể, ta mới gặp được
những bài nghiên cứu, giới thiệu hoặc nhận xét về Kim Lân trong các sách,
song những bài viết đó cũng mới chỉ dừng ở mức độ mang tính chất tổng
hợp nhằm hệ thống các tác giả văn học Việt Nam.
Đó là lời nhận xét của GS Nguyễn Đăng Mạnh trong “Tổng tập văn
học Việt Nam”, tập 30A- NXBKHXH, 1981: “Văn Kim Lân tỏ ra độc đáo và
hấp dẫn hơn khi ông viết về những cái gọi là “thú đồng quê” hay “phong lưu
đồng ruộng”. Đó là những phong tục ăn chơi hay đúng hơn, những sinh hoạt
văn hóa dân quê như trồng cây cảnh, đánh vật, chơi chim bồ câu, nuôi chó
săn, gà chọi. Đuổi tà, Đôi chim thành, Con mã mái… , sở dĩ có sức hấp dẫn
không phải vì ở đấy, những tập quán ngộ nghĩnh, kỳ lạ, những thú chơi phiền
phức, cầu kỳ, được trình bày cặn kẽ, mà chính là nhờ nhà văn đã làm hiển
hiện lên được những con người của làng quê Việt Nam độc đáo kia, tuy nghèo
khổ, thiếu thốn mà vẫn yêu đời…” [34].
Hay Trần Hữu Tá trong “Từ điển văn học”- tập 1(A-M), Nxb KHXH,
1983 viết: “Ông được dư luận chú ý nhiều hơn khi đi vào đề tài độc đáo: ghi
nhận sinh hoạt văn hóa phong phú của thôn quê (đánh vật, chọi gà, thả
chim…). Các truyện “Đôi chim thành, Con mã mái, Chó săn…” tuy nghiêng
nhiều về phía phong tục, trình bày cặn kẽ những thú chơi lành mạnh kể trên,
nhưng vẫn biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trước
cách mạng, những người sống cực nhọc, khổ nghèo nhưng vẫn yêu đời, trong
sáng, thông minh, tài hoa…Cả hai giai đoạn sáng tác, tuy viết không nhiều
nhưng Kim Lân đều có những đóng góp tích cực trong thể tài truyện ngắn viết
về đề tài nông thôn. Ông viết về mảng hiện thực này bằng tình cảm, tâm hồn
của một con người vốn là con đẻ của đồng ruộng” [41, 366].
6
họ- Báo Thể thao & văn hóa, số 75/1997.
+ Thiên Sơn: Kim Lân và hình tượng người nông dân- Báo Điện ảnh
ngày nay, số 24/1997.
+ Bế Kiến Quốc: Nhà văn Kim Lân: Viết ít không phải là hay- Báo
Đại đoàn kết, số 108/1998.
+ Phan Hoàng: Kim Lân: Văn chương như một thứ tôn giáo- Phỏng
vấn Người Hà Nội- Nxb Trẻ, 2000.
+ Trần Quốc Khải: Đứa con người vợ lẽ- Báo Bắc Ninh, Tết Canh
Thìn, 2000.
+ Dy Ly: Nhà văn Kim Lân: Văn thế nào, người thế ấy- Báo Người
Hà Nội, Tết Nhâm Ngọ, 2002.
+ Trung Trung Đỉnh: Nghề văn: nhanh và chậm, dày và mỏng- Báo
Thể thao và văn hóa, số 1/2003.
+ Vương Thảo: Nhà văn Kim Lân và sự im lặng của nỗi buồn- Báo
An ninh, số 34/2004.
+ Nguyễn Quang Thiều: Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Trẻ, 2000.
Bên cạnh đó là những bài viết mang tính chất đánh giá, nhận xét về con
người và sự nghiệp sáng tác của Kim Lân. Có thể kể tới một số bài viết như:
+ Lữ Huy Nguyên: Kim Lân với những thú chơi ngày xuân Kinh
Bắc- Báo văn nghệ Tết Đinh Sửu- 1997.
+ Hoài Việt: Đôi điều về Kim Lân- Những gương mặt văn nghệ sỹ-
Nxb Hà Nội, 2003.
+ Nguyên An: Nhà văn của làng quê nước Việt- Tạp chí nhà văn số
5/2000.
+ Xuân Ba: Bây giờ cụ Kim Lân còn mỗi một mình- Báo Tiền phong,
số 106/2001.
8
+ Hoài Anh: Kim Lân, nhà tiểu thuyết phong tục, sở trường về miêu
tả “trạng thái nhân thế”- Tạp chí văn (Hội Văn nghệ TP.HCM), số 13/2003.
[24, 193].
+ Trong cuốn “Phân tích – bình giảng tác phẩm văn học 12”- Nxb
Giáo dục, 2000, tác giả Nguyễn Quang Trung đã tìm thấy: “Thông điệp của
Kim Lân là một thông điệp mang ý nghĩa nhân văn…Vợ nhặt là bài ca về
tình người ở những người nghèo khổ đã “biết sống” như con người ngay giữa
thời túng đói quay quắt” [33, 77].
+ Còn PGS. TS Nguyễn Viết Chữ trong cuốn “Phương pháp dạy học
tác phẩm văn chương trong nhà trường”- Nxb Giáo dục, 2009 đã quan tâm
nhiều hơn tới định hướng phân tích tác phẩm. Tác giả khẳng định: “Dạy học
loại truyện này không thể không phân tích sự vận hành của tình huống truyện,
quá trình hình thành, diễn biến tâm trạng nhân vật. Những điểm nút của tình
huống truyện luôn có phẩm chất thẩm mỹ nghệ thuật cao nhất. Câu hỏi hình
dung tưởng tượng sẽ phát huy tác dụng xen kẽ với câu hỏi phân tích lí giải.
Đan xen con đường theo bước tác giả và theo nhân vật.
Nếu quan niệm Vợ nhặt là truyện ngắn tự sự ta chỉ bám sát ba nhân
vật: bà cụ Tứ, Tràng, người đàn bà theo hướng phân tích nhân vật. Nhưng
nếu quan niệm đây là truyện ngắn trữ tình hiện thực thì lại tập trung vào
tình huống trữ tình hiện thực để từ đó mở rộng ra tâm trạng các nhân vật”
[6, 178].
Ngoài ra còn nhiều bài viết nữa như:
+ Nguyễn Thanh Vân: Phẩm giá con người trong truyện ngắn “Vợ
nhặt”- Tiếng nói tri âm, Nxb Trẻ, 1994.
+ Trần Ngọc Hiến: Một chi tiết hay trong truyện ngắn “Vợ nhặt”
của Kim Lân- Báo Giáo dục thời đại, số 22/1999.
10
+ Tạ Đức Hiền: Vợ nhặt- 99 bài văn- Nxb Giáo dục, 1997.
+ Lê Văn Vỵ: Tiếng cười trong tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn
Kim Lân- Tạp chí ngôn ngữ và đời sống, số 8 (130), 2006.
+ Phạm Ngọc Thưởng: Nghệ thuật xây dựng đối thoại trong truyện
ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân- Tuyển tập 10 năm Tạp chí Văn học & tuổi
3.2. Các công trình về phương pháp giảng dạy đều đã tập trung khám
phá nội dung, ngôn ngữ, nghệ thuật giúp cho GV có những hướng khai thác
sâu hơn, mới mẻ hơn, giúp HS hiểu đúng đắn hơn về giá trị của tác phẩm, đề
ra những thiết kế giáo án hợp lí hơn. Việc kết hợp ba hướng tiếp cận trong
DH tác phẩm văn học nói chung- hay vận dụng quan điểm đồng bộ đã được
GS Phan Trọng Luận đề cập đến nhưng cụ thể đối với tác phẩm “Vợ nhặt”
thì chưa thực sự có. Đây là đề tài đầu tiên đưa ra việc kết hợp nhiều hướng
tiếp cận: văn hóa, thi pháp, phong cách, thể loại khi giảng dạy tác phẩm “Vợ
nhặt” của Kim Lân trong trường phổ thông. Ở đây, chúng tôi sử dụng khái
niệm đồng bộ không đơn thuần chỉ gói gọn trong ba hướng tiếp cận của giáo
trình mà ở phạm vi rộng hơn.
III. Mục đích nghiên cứu
Tìm cho được một cách DH thích hợp nhất đối với truyện ngắn “Vợ
nhặt” của Kim Lân qua tiếp cận đồng bộ.
IV. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
1. Những công trình nghiên cứu về Kim Lân và những tài liệu liên
quan đến tác phẩm “Vợ nhặt”.
2. Tìm hiểu thực trạng của việc DH tác phẩm “Vợ nhặt” ở trường phổ
thông qua phiếu điều tra GV, HS; qua giáo án của GV; qua các bài kiểm tra
của HS.
3. Từ đó phân tích và vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ để đi đến
một phương án tối ưu cho việc DH tác phẩm “Vợ nhặt”.
V. Giả thuyết khoa học
12
Nếu DH tác phẩm “Vợ nhặt” theo quan điểm tiếp cận đồng bộ sẽ tránh
được tình trạng DH giáo điều, dạy “chay”, khô cứng, công thức, lối mòn, tận
dụng được lợi thế của từng hướng tiếp cận, đưa giờ học thực sự đúng bản chất
của tác phẩm văn chương, góp phần vào việc đổi mới phương pháp DH
truyện ngắn nói chung và truyện ngắn của Kim Lân nói riêng.
VI. Phương pháp nghiên cứu
1. Chương I (24 trang): Vị trí truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
trong lịch sử văn học, trong nhà trường và hướng tiếp cận.
2. Chương II (41 trang): Thực trạng dạy học và nghiên cứu “Vợ nhặt”
của Kim Lân trong nhà trường THPT.
3. Chương III (49 trang): Các biện pháp dạy học truyện ngắn “Vợ
nhặt” của Kim Lân theo hướng tiếp cận đồng bộ.
Phần kết luận (2 trang).
14
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: VỊ TRÍ TRUYỆN NGẮN “VỢ NHẶT” CỦA KIM LÂN
TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC, TRONG NHÀ TRƯỜNG
VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN
1. Vị trí truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân trong lịch sử văn học,
trong nhà trường
1.1. Vị trí truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân trong lịch sử văn học
Nhà văn Kim Lân (1920- 2007), tên thật là Nguyễn Văn Tài, người
làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn (nay là huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc
Ninh). Do hoàn cảnh gia đình nghèo khó ông chỉ được học hết bậc Tiểu học
rồi vừa đi làm thợ kiếm sống (sơn guốc, khắc tranh bình phong) vừa viết văn.
Kim Lân bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941. Tác phẩm của ông được đăng
trên các báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật. Năm 1944, Kim Lân
tham gia Hội Văn hóa cứu quốc và từ đó cho đến khi qua đời, ông liên tục
hoạt động văn nghệ phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến (viết văn, làm
báo, diễn kịch, đóng phim).
Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Kim Lân viết không
nhiều nhưng được coi là “thuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của
văn học Việt Nam hiện đại”. Thế giới nghệ thuật của ông là khung cảnh làng
quê và hình tượng người nông dân. Đó là mảng hiện thực mà ông gắn bó và
hiểu biết sâu sắc. Ông rất sành về cảnh quê, người quê và thế giới của hương
đồng gió nội này cộng với một tấm lòng thiết tha hiếm có đã tạo nên những
có phần xuất sắc hơn Làng” [43, 527].
Thiên truyện có một quá trình sáng tác khá dài. Nó vốn được rút ra
từ tiểu thuyết Xóm ngụ cư (cuốn tiểu thuyết viết dang dở ở thời kì trước
cách mạng). Hòa bình lập lại, do đơn đặt hàng của báo Văn nghệ, Kim
16
Lân mới viết lại. Riêng điều đó thôi đã thấy “Vợ nhặt” mang dấu ấn của
cả một quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kĩ
lưỡng về nghệ thuật.
1.2. Vị trí truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân trong nhà trư
ờng
Trong chương trình Ngữ văn phổ thông “Vợ nhặt” là một trong những
tác phẩm có vị trí đặc biệt quan trọng bởi nó kết tinh nhiều giá trị: giá trị tố
cáo, giá trị nhân văn, giá trị nhân bản và trên hết là giá trị nhân đạo sâu sắc.
Truyện ngắn “Vợ nhặt” được xây dựng trên cái nền của nạn đói khủng khiếp
năm Ất Dậu (1945), trong có mấy tháng trời đã cướp đi của Việt Nam một
phần mười dân số. Có làng chết gần hết; có nhà chết chẳng còn ai; nhiều
người chết lả trên đường đi, chết gục bên gốc cây, chết lăn nơi ngòi rãnh, hè
nhà, quán chợ,…Nhiều gia đình, nhiều người phải ăn cháo cám, rau má, củ
chuối,…cầm hơi mà vẫn không thoát chết. Sự kiện bi thảm này đã từng được
miêu tả trong các bài thơ nổi tiếng Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc (Văn
Cao), Xuân đến và Đói! Đói! (Tố Hữu), trong các tác phẩm Địa ngục
(Nguyên Hồng), Mười năm (Tô Hoài), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi),…Trong
số những tác phẩm viết về nạn đói năm Ất Dậu, truyện ngắn “Vợ nhặt” có
một giá trị đặc biệt. Hiện thực về nạn đói thê thảm ấy hắt bóng đen lên từng
trang viết, ám ảnh tâm trí người đọc từ đầu đến cuối tác phẩm. Đồng thời từng
trang viết của tác phẩm cứ lấp lánh sáng lên niềm khao khát mãnh liệt của
người dân lao động nước ta về hạnh phúc gia đình, niềm tin bất diệt của họ
đối với sự sống và tương lai, là tình thương yêu cưu mang đùm bọc lẫn nhau
của những con người nghèo khổ ngay cả khi mấp mé bên bờ vực của cái chết.
Tác phẩm có giá trị hiện thực sâu sắc, có giá trị nhân đạo cao cả, xứng đáng
hướng đi đúng đắn cho ngòi bút của mình: viết cho người nghèo, viết để giúp
18
cho những người nghèo chống lại áp bức bất công. Kim Lân rất coi trọng con
người, yêu quý con người. Theo ông, cốt lõi của con người là tốt, là bản tính
thiện. Nếu một lúc nào đó, con người có xấu thì đó là do hoàn cảnh, môi
trường tạo nên. Ông viết văn để giúp người đọc nhận thấy không phải là con
người ta giỏi thế nào mà là người ta tốt được đến đâu, bởi “chỉ có cách cư xử
tốt đẹp, có văn hóa giữa người với người mới bền vững, vĩnh cửu”. Kim Lân
còn khẳng định rõ: “Khi viết, tôi không thích viết về những người anh hùng
mà thích viết về những người lao động nghèo khổ. Bởi cơ sở của người cầm
bút là tình yêu thương nghèo”. Và “khi sáng tác, cái thôi thúc tôi nhiều nhất
là đòi cho những người thiệt thòi không phải thiệt thòi nữa, đòi cho con người
cái quyền thiêng liêng của con người và bênh vực cho con người”. Thêm nữa,
khi cầm bút sáng tạo nghệ thuật, người nghệ sỹ phải tin tưởng vào con người
và đem lại cho con người những điều tốt đẹp. Kim Lân còn ví: nhà văn khi
viết như phải đứng trước “pháp trường trắng” (chữ dùng của Nguyễn Tuân),
viết tác phẩm không phải vì lợi nhuận cũng không phải vì danh tiếng mà
trước hết là vì một mục đích cao đẹp: đóng góp một tiếng nói bênh vực những
người nghèo khổ giữa cái xã hội bất công. Ấy cũng là sứ mệnh thiêng liêng,
cao cả của mọi ngòi bút chân chính. Chính quan niệm nghệ thuật đầy ý nghĩa
nhân văn này đã chi phối mọi yếu tố của sáng tác văn chương Kim Lân mà
trước hết là cách lựa chọn đề tài, xây dựng kiểu nhân vật riêng biệt, in rõ cá
tính sáng tạo của văn xuôi Kim Lân.
2.1.1.2. Thế giới nhân vật
Mỗi nhà văn có một “vùng đối tượng thẩm mỹ riêng”, tự nó đã ghi dấu
ấn của chủ thể sáng tác. Đối với Kim Lân, vùng đề tài mà ông ưa thích nhất
và cũng chỉ có thể viết hay về những đề tài ấy là mảng đề tài về nông thôn, về
cuộc sống của những người lao động nghèo khổ, mảng sống mà từ lâu ông
hiểu biết khá kỹ lưỡng và gắn bó với nó bằng tất cả tình cảm, tâm hồn của
một người vốn là con đẻ của đồng ruộng. Tương ứng với vùng đề tài ấy là
thả chim (Ông Trưởng Thuận), chơi gà chọi (Ông Cả Chuẩn), người khác lại
mê mải với chơi chó săn (Ông Cả Nội)…Tất cả đều sành sỏi, đam mê với thú
chơi. Ở họ nhiều khi còn ánh lên chất kiêu bạc đồng quê rất đáng yêu và đáng
quý. Có thể nói, qua những trang viết về những thú phong lưu đồng ruộng,
Kim Lân giúp người đọc nhận biết: “Sau lũy tre xanh từ bao đời nay, người
nông dân sống lam lũ, cần cù nhưng tháng ba ngày tám và những buổi sang
xuân vẫn tổ chức những trò vui, qua đó thể hiện sự thông minh, tài hoa, tâm
hồn tươi sáng, lành mạnh, yêu đời và những phong tục “đất lề quê thói” của
con người Phù Lưu- chợ Giàu coi trọng lễ hội và nhân tình” [37, 26-27]. Ở
những nhân vật nghệ sỹ đồng quê của Kim Lân ánh lên chất hào hoa Kinh
Bắc đáng yêu và đáng quý. Có phải nhờ thế mà Kim lân được coi là “đại diện
văn học sáng giá của những lớp người tài hoa, bặt thiệp phong lưu” [37, 26-
27]. Truyện ngắn Kim Lân đã khẳng định sức sống lâu bền của những giá trị
văn hóa tinh thần của dân tộc, khẳng định tình yêu làng, yêu nước của con
người Việt Nam.
* Kiểu nhân vật “thấp cổ bé họng”, “đầu thừa đuôi thẹo”- những
người nghèo khổ mà tốt đẹp, khốn khổ mà cao quý. Đây vẫn là những người
lao động nghèo, thậm chí rất nghèo. Mỗi người một cảnh ngộ, một số phận.
Người thì trôi dạt khốn cùng bởi chiến tranh, giặc giã, bởi đói khát cùng
đường: ông Tư Mủng (Bố con ông gác máy bay trên núi Cối Kê), ông Mộc
Gù, dì Bản (Người chú dượng)…Người thì bị chà đạp, áp bức, bóc lột, khinh
rẻ: anh Thế, chị Hòa (Nên vợ nên chồng), anh em Viên (Tìm em), chị
Nhâm… Nghèo khổ thật, khốn cùng thật, nhưng kỳ lạ thay ở những con
người này vẫn lấp lánh một vẻ đẹp tâm hồn: lòng vị tha, đức hy sinh, niềm
khát khao sống, thiết tha hạnh phúc…Xây dựng kiểu nhân vật này, Kim Lân
không quan tâm nhiều đến việc họ giỏi thế nào mà tập trung làm nổi bật
những phẩm chất đạo đức cao đẹp của họ.
21
Xuất phát từ quan điểm sáng tác: viết cho người nghèo, cho nên như
một lẽ tự nhiên, Kim Lân đã trở thành nhà văn của những người nghèo khổ.
nghèo ở Ngô Tất Tố, cái đói ở văn Nam Cao khiến người ta thương cảm,
muốn rơi nước mắt thì cái đói, cái chết trong văn Kim Lân khiến người ta
khiếp sợ, rụng rời.
Đọc những trang viết của ông lấp lánh lên một sức sống, ấm áp một
niềm tin mãnh liệt vào nghị lực, vào phẩm giá, vào khát vọng cao đẹp của con
người. Dù sống trong cảnh ngộ khốn cùng, những con người “đầu thừa đuôi
thẹo” vẫn không bị tiêu diệt, không gục ngã, họ vẫn trụ được, hơn nữa lại
vượt lên chiến thắng với một sức sống mãnh liệt, phi thường. Càng trong hoàn
cảnh sống mờ tối, lay lắt, niềm khát khao được sống hạnh phúc và tình
thương yêu giữa những con người nghèo khổ càng tỏa sáng, bất diệt. Khát
vọng sống, khát vọng hạnh phúc còn làm cho con người ta trở nên lương
thiện, đầy ước mong và những ý nghĩ tốt lành. Điều đáng quý và cũng đáng
trọng là bởi niềm khát khao ấy cứ âm thầm vươn lên từ đói khát, tối tăm rồi
tất yếu những người nông dân nghèo sẽ tìm đến với cách mạng, gắn bó với
cách mạng, tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình trong cuộc sống mới của đất
nước, của dân tộc sau cách mạng tháng Tám.
2.1.2. Từ cốt truyện và thủ pháp tạo dựng truyện
2.1.2.1. Cốt truyện
“Cốt truyện là hệ thống sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư
tưởng và nghệ thuật nhất định tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong
hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch” [42].
23
Mỗi nhà văn hiện thực thường có khuynh hướng lựa chọn cho mình
một kiểu cốt truyện riêng. Ở Kim Lân, theo Lại Nguyên Ân có thể kể ra ba
kiểu truyện chính:
Kiểu thứ nhất, phổ biến hơn cả có thể gọi là những truyện ngắn tính
cách. Nhiệm vụ nghệ thuật mà nhà văn đề ra đó là vẽ ra một con người. Đây
là phương hướng sở trường của truyện ngắn Kim Lân. Do đó, không phải
ngẫu nhiên các truyện của ông đều được đặt theo tên nhân vật chính như:
Ông Cả Luốn gốc me, Người chú dượng, Bố con ông gác máy bay trên
lộ tư tưởng tác phẩm, Kim Lân thường hay sử dụng các thủ pháp nghệ thuật
như: thủ pháp đối lập, thủ pháp tạo tình huống, thủ pháp tạo sự bất ngờ. Đây
cũng là những thủ pháp nghệ thuật thường gặp trong các truyện dân gian.
* Thủ pháp đối lập
Là thủ pháp tạo ra sự xung đột, mâu thuẫn trong tác phẩm giữa các
nhân vật với nhau về địa vị xã hội, kinh tế, tạo ra những suy nghĩ, những tính
cách trái ngược nhau, qua đó toát lên ý nghĩa xã hội.
Trong các truyện ngắn của mình, đặc biệt là ở những truyện viết về
số phận lam lũ, cơ cực, đói khát của những người dân quê, Kim Lân
thường tạo ra sự đối lập ấy bằng cách đặt nhân vật trong sự tương phản về
địa vị xã hội (Đứa con người vợ lẽ), về tư tưởng (Con chó xấu xí, Ông cả
Luốn gốc me), hoàn cảnh môi trường và nhân vật (Vợ nhặt), kẻ áp bức-
người bị áp bức (Nên vợ nên chồng, Tìm em, Chị Nhâm), kẻ giàu- người
nghèo, người tốt- kẻ xấu.
Như trong Đứa con người vợ lẽ, Kim Lân đã tạo ra mâu thuẫn bằng sự
đối lập hai nhân vật ông Cả và Tư. Ông Cả thì to béo, Tư thì gầy còm; ông Cả
thì ăn bát phở một hào chê rẳng, còn Tư thì chỉ húp nước đã thấy ngon và
25
nghĩ đến cơm nguội chan còn ngon nữa…sự đối lập đã cho thấy nỗi khổ của
đứa con người vợ lẽ. Ngoài ra, còn một sự đối lập nữa là đối lập giữa tình anh
em và bạn bè. Ông Cả thì dù ăn phở thấy rẳng nhưng cũng chẳng hề mảy may
nghĩ đến em đang đói cồn cào, xem ở nhà đã ăn gì chưa; ông thản nhiên ngồi
ăn xong xách cặp đi. Còn Thân- bạn Tư, có ít hạt mít cũng mang sang cho
bạn. Và Tư dù rất đói, vừa bóc hạt mít đã nghĩ ngay đến chuyện phần mẹ. Sự
đối lập của các nhân vật ấy đã tự nó nói lên sự phi lí trong quan hệ tình cảm,
sự xuống cấp về đạo đức trong gia đình với những thiệt thòi, ghẻ lạnh mà
“đứa con người vợ lẽ” phải gánh chịu.
* Thủ pháp tạo tình huống
Là thủ pháp đặt nhân vật vào trong một hoàn cảnh éo le, trớ trêu, buộc
phải lựa chọn để bộc lộ phẩm chất, tính cách nhân vật và toát lên ý tưởng, chủ