Nghiên cứu đánh giá sinh khả dụng của indomethacin theo đường uống - Pdf 30

»
m
_
A A#
BỘ Y TÊ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
k>Õ3 0 3
NGUYỄN HOÀNG LONG
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ SINH KHẢ DỤNG
CỦ A INDOMETHACIN THEO ĐƯỜNG UốNG
(KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ ĐẠI HỌC 1999 - 2004)
Người hướng dẫn : TS. Nguyễn Đăng Hòa
DS. Nguyễn Thị Thu Hằng
Nơi thực hiện : Bộ môn Bào chế
Trường ĐH Dược Hà Nội
Thời gian thực hiện : 3-5/2004
m
HÀ NỘI, 5-2004
m
ĨU3
JÍỜ3 VcAjh (ỹ n
Ç Ji'ù in j q u á t r ì n ít t h u ’e h iê n U h o á lu â n tế t tig Jtiê fL, lờ i đ ã n h ậ n ¿ttiü'e
su ' q iú f L (tí) (¡m ị h á II í‘ủ d eủe. t h ầ ụ c ỏ (Jtá fí bô m o n luto c hè, bí% tnêtt t liíú ’e
ÍẠ.
Q ịh ă tt íí ịp It à If t ồ i æ ù i bù ụ tú lò tttị lù èt o'ti ijâ u it íc ỉâ i:
Q&. Iiiịtìỉiì th u ụ đ ã hèt lồng, huât tụ ílẫ n ,
lilt íe h lè , tra e t îê f i g iú f t ĩt õ t ỏ i trt u iq (Ị n á t r in h tlitte h iê n / líậ n íU Ìti IIÍII/
e ùn ạ ¿ tm . u t u t íA ự . - G í ạ a ự ê ề t & ¡k f @ ¡k i£ ^ ĩằ n ạ
ÇTêt æÙL (‘ít ủ n t h à t ih ạ ử i L ồ i eủ m ổ n tớ i tifie , f ililí/ eỗ- íỊÌt ío trtỉtK Ị h ê
m ê*t h ito eh è ũ ỉí hỗ m ò n (ln'tïe l í ị đ ã tạ o m ú i đ iề u k iê n t h u ậ n Lờ i eỉtở t ò i

1.2.4. Chống chỉ định 13
1.2.5. Chỉ định và liều dùng 13
1.2.6. Một số chế phẩm 14
1.2.7. Phương pháp định lượng 14
PHẦN 2: THỰC NGHIỆM VÀ KÊT QUẢ
15
2.1. Nguyên vật liệu và phương pháp thực nghiệm

15
2.1.1. Nguyên vật liệu 15
2.1.2. Phương pháp thực nghiệm 16
2.2. Kết quả thực nghiệm và nhận xét 20
2.2.1. Kết quả xây dựng phương pháp định lượng indomethacin trong
huyết tương 20
2.2.2. Kết quả đánh giá sơ bộ về SKD của indomethacin theo đường uống
thử trên chó 28
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ Xư ẤT 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
ĐẶT VÂN ĐỂ
Trong những năm gần đây, số công trình nghiên cứu, số chế phẩm, sản
lượng sản xuất cũng như lưu thông, sử dụng thuốc indomethacin theo đường
uống ngày càng phổ biến không chỉ ở nước ta mà còn trên cả thế giới.
Indomethacin là một hoạt chất chống viêm phi steroid (NSAID) được sử
dụng rộng rãi với tác dụng chống viêm, hạ nhiệt, giảm đau mạnh. Thuốc được
dùng theo đường uống là đường phổ biến và thông dụng nhất, tuy nhiên tác
dụng của thuốc lại bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố vì phải thông qua hệ tiêu hoá
mới vào hệ tuần hoàn để đi đến các cơ quan cần tác dụng. Muốn đánh giá hiệu
quả điều trị của thuốc không chỉ dựa trên thành phần thuốc, hàm lượng thuốc
mà phải đánh giá SKD của thuốc. Chính các yếu tố ảnh hưởng này có thể làm
giảm SKD đồng thời làm tăng tác dụng không mong muốn nếu bào chế thuốc

Q:
Lượng dược chất hoà tan trong thời gian t.
s :
Diện tích bề mặt tiếp xúc của dược chất với môi trường hoà tan.
D:
Hệ số khuếch tán của dược chất trong môi trường hoà tan.
h :
Bề dày lớp khuếch tán.
Cs:
Độ tan của dược chất.
Ct:
Nồng độ dược chất trong môi trường hoà tan tại thời điểm t.
Từ phương trình Nemst- Brunner cho thấy có nhiều yếu tố thuộc về dược
chất ảnh hưởng đến tốc độ hoà tan của dược chất, cụ thể là:
■ Kích thước tiểu phân dược chất
Theo phương trình (1), với cùng một lượng dược chất, khi kích thước tiểu
phân dược chất giảm thì tổng diện tích tiếp xúc giữa tiểu phân dược chất và
môi trường tăng lên, do đó tốc độ hoà tan dược chất càng nhanh. Ví dụ,
cloramphenicol khi KTTP giảm từ 800 Ịim xuống 200 Ịim thì tốc độ hấp thu
tăng [4].
Tuy nhiên với một số trường hợp khi giảm KTTP thì độc tính và tác dụng
phụ cũng tăng như nitroíuratoin khi dùng nang có KTTP 10 Ịim thì sẽ làm
tăng kích ứng dạ dày và buồn nôn [4]. Với một số dược chất dễ bị phân huỷ
bởi dịch vị dạ dày, nghiền quá mịn dược chất sẽ dễ tan trong dịch vị và bị
phân hủy nhiều hơn như penicillin.
Ngoài ra KTTP còn ảnh hưởng nhiều đến các thông số khác trong quá trình
bào chế như độ trơn chảy khối bột, lực liên kết khi dập viên cho nên phải
xem xét KTTP một cách toàn diện và cụ thể khi đưa vào dạng thuốc.
■ Độ tan của dược chất
Độ tan của dược chất có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ hoà tan và giải

khả năng giải phóng dược chất.
- Nhóm tá dược độn tan trong nước giải phóng dược chất theo cơ chế mài
mòn, có xu hướng kéo dài thời gian rã của thuốc.
-Nhóm bột mịn vô cơ không tan trong nước, giải phóng theo cơ chế
khuếch tán làm chậm quá trình giải phóng.
- Nhóm tinh bột và cellulose vi tinh thể giải phóng theo cơ chế trương nở
và vi mao quản. Đây là nhóm tá dược thân nước có khả năng cải thiện tính sơ
nước của dược chất ít tan.
_ 4 _
-Nhóm tá dược có khả năng hút như calci carbonat, magnesi carbonat
làm viên rã trong dịch vị, nhưng có tính kiềm và khả năng hấp thu mạnh, dễ
gây tương tác với dược chất.
■ Tá dược dính
Phần lớn tá dược dính bản chất là các chất keo thân nước, dễ hoà tan trong
nước tạo thành dung dịch có độ nhớt cao, nên có xu hướng kéo dài thời gian rã
và làm chậm quá trình hoà tan của dược chất. Nhưng với dược chất sơ nước,
các tá dược dính như PVP, HPMC sẽ tạo một màng thân nước bao quanh
tiểu phân dược chất làm cho dược chất thân nước hơn, do đó dễ hoà tan hơn.
■ Tá dược rã
Tá dược rã thúc đẩy quá trình vỡ của viên sau khi uống. Tá dược rã làm
thuốc nhanh rã, làm tăng diện tích tiếp xúc giữa tiểu phân dược chất và môi
trường hoà tan, do đó làm tăng tốc độ hoà tan dược chất, tăng SKD thuốc.
■ Tá dược trơn
Nhóm tá dược trơn sơ nước, tạo thành màng bao quanh tiểu phân, làm
giảm sự thấm nước, làm giảm tốc độ rã và tốc độ hoà tan dược chất của thuốc.
Trái lại, tá dược trơn thân nước làm tăng tốc độ rã và tốc độ hoà tan dược chất.
■ Tá dược bao
- Bao bảo vệ: Thông thường làm kéo dài thời gian rã của thuốc, nhưng
không ảnh hưởng nhiều đến khả năng rã của thuốc.
- Bao tan ở ruột: Có tác dụng làm thuốc kháng dịch vị trong một thời gian

Hầu hết các thuốc được hấp thu ở ruột non. Nếu thuốc bị lưu lại lâu ở dạ
dày sẽ làm giảm tốc độ và mức độ hấp thu thuốc. Thời gian lưu của thuốc phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như lượng thức ăn, thể chất thức ăn, vị trí dạ dày, trạng
thái vận động Thức ăn trì hoãn quá trình tháo rỗng của dạ dày, làm chậm
-6-
hấp thu đối với dược chất hấp thu chủ yếu ở ruột non. Thức ăn còn có thể gây
tương tác với dược chất, gây tăng dịch tiêu hoá, làm tăng phân huỷ thuốc.
Thức ăn làm tăng độ nhớt của dịch tiêu hoá, làm chậm quá trình hoà tan và
hấp thu dược chất [2], [5]. Các cá thể khác nhau có tốc độ tháo rỗng dạ dày
khác nhau, đây là nguyên nhân làm cho SKD của cùng một thuốc giữa các cá
thể rất khác nhau, thậm chí trên cùng một cá thể cũng rất khác nhau ờ các thời
điểm.
(b)Các yếu tố thuộc về ruột non
Ruột non có hệ mao mạch dầy đặc. Lưu lượng máu rất lớn, rất thuận tiện
cho việc trao đổi chất qua màng sinh học.
Thành phần của dịch ruột cũng ảnh hưởng nhiều đến độ tan, tốc độ hoà tan
và mức độ hấp thu của dược chất. Dịch mật làm giảm sức căng bề mặt của
dịch vị và dịch tá tràng, tăng khả năng thấm của dược chất sơ nước và tăng
khả năng hoà tan của một số dược chất ít tan.
Do trải trên một chiều dài lớn, qua nhiều vùng khác nhau nên sự hấp thu
thuốc từng vùng phụ thuộc vào pH và hệ men.
-Tá tràng: pH khá acid (4- 6), thời gian lưu ngắn 5- 15 phút, các acid yếu
tiếp tục được hấp thu ở đây.
- Hỗng tràng: pH vẫn còn acid nhẹ (6- 7), thời gian lưu 2- 3,5 giờ.
- Hồi tràng: pH kiềm (7- 8), thời gian lưu 3- 6 giờ. Đây là vùng hấp thu
phần lớn các thuốc còn lại, đặc biệt là các base yếu.
(c) Tuổi
Đối tượng đáng chú ý nhất là trẻ em và người già, nhất là trẻ sơ sinh. Ở trẻ
sơ sinh tính thấm của màng hấp thu cao hơn trẻ em nói chung, nên thuốc rất
dễ hấp thu, dễ gây quá liều. Các cơ quan chuyển hoá và thải trừ chưa hoàn

Từ năm 1951, Edward đã làm thực nghiệm về thử độ tan của các chế
phẩm có chứa aspirin và nhận thấy rằng tác dụng giảm đau của viên nén
aspirin phụ thuộc vào tốc độ hoà tan aspirin trong đường tiêu hoá. Từ đó hàng
loạt các thiết bị dùng để đánh giá tốc độ hoà tan của dược chất ra đời đặt cơ sở
cho việc phát triển môn sinh học dược bào chế. về mặt ý nghĩa SKD in vitro
chưa phải là SKD thực sự, tuy về mặt lý thuyết phép thử độ hoà tan có bắt
chước một số điều kiện sinh học, nhưng vẫn còn khác xa thực tế. Do đó chưa
đánh giá đầy đủ hiệu quả lâm sàng của chế phẩm. Có những trường hợp dược
chất hoà tan nhanh nhưng chưa chắc đã hấp thu tốt. Tuy nhiên SKD in vitro là
công cụ quan trọng trong quá trình thiết kế công thức thuốc và kiểm soát đảm
bảo sự đồng nhất của các lô mẻ sản xuất trong cùng một cơ sở và giữa các cơ
sở sản xuất với nhau. Bên cạnh đó SKD in vitro còn là công cụ dùng sàng lọc,
định hướng cho đánh giá SKD in vivo để giảm chi phí nghiên cứu. SKD in
vitro chỉ được dùng thay thế SKD in vivo trong các trường hợp đã chứng minh
được sự tương quan chặt chẽ giữa SKD in vitro và SKD in vivo.
1.1.3.2. Đánh gỉá SKD ỉn vivo
(a) Thuốc đối chỉếu
Để đánh giá SKD, tốt nhất chế phẩm đối chiếu là dung dịch tiêm tĩnh
mạch, khi đó sẽ xác định được SKD tuyệt đối. Trường hợp không thể theo
đường tiêm tĩnh mạch do độc tính hay do không thể pha được dạng thuốc tiêm
tĩnh mạch thì dùng dung dịch dược chất làm thuốc đối chiếu. Trường hợp
không thể pha được dung dịch do dược chất ít tan hoặc không bền thì có thể
pha hỗn dịch mịn của dược chất dùng để uống hoặc tiêm bắp để đối chiếu.
Cũng có thể dùng nang cứng chế từ bột mịn của dược chất có thêm tá dược rã
để làm thuốc đối chiếu. Để đánh giá tương đương sinh học giữa các chế phẩm
tương đương bào chế, thì dùng thuốc gốc của nhà phát minh làm thuốc chuẩn
để đối chiếu [9], [14].
(b)Đối tượng thử thuốc
■ Động vật:
-9-

Thời gian giữa các lần thử thuốc phải đủ để thuốc dùng lần trước thải trừ
hết khỏi cơ thể, thường là gấp 10 lần thời gian bán thải của thuốc.
■ Dịch sinh học dùng xác định SKD:
- Dịch sinh học có thể là máu, được dùng trong trường hợp dược chất có
đáp ứng sinh học phụ thuộc vào nồng độ dược chất trong máu. Số mẫu máu
phải đủ xác định cả pha hấp thu và pha thải trừ của dược chất, đồng thời xác
định cả giá trị nồng độ dược chất cao nhất trong máu. Thường lấy khoảng
10-15 mẫu. Khoảng thời gian lấy mẫu cần kéo dài từ 3- 4 lần thời gian bán
thải với thuốc uống. Với thuốc tiêm tĩnh mạch, lấy mẫu sau khi tiêm 5 phút,
khoảng 10-15 phút lấy mẫu một lần cho đến khi hoàn thiện đồ thị [15]. Mẫu
phải được bảo quản ở nhiệt độ < -20° c cho tói khi phân tích.
- Dịch sinh học có thể là nước tiểu để xác định tổng lượng dược chất hoặc
chất chuyển hoá được bài tiết qua nước tiểu sau khi uống thuốc.
- Dịch sinh học có thể là nước bọt khi dược chất bài tiết qua nước bọt và
phương pháp phân tích đủ nhạy, nồng độ dược chất trong máu và trong nước
bọt đồng biến với nhau.
■ Phương pháp định lượng
Các phương pháp phân tích được dùng phổ biến trong nghiên cứu SKD là
phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), sắc ký khí (GC), sắc ký lớp
mỏng hiệu năng cao (HPTLC), phương pháp miễn dịch phóng xạ (RIA).
Các mẫu thử và mẫu chuẩn của cùng một cá thể nên phân tích cùng một
ngày. Đường chuẩn cần xây dựng cho mỗi ngày định lượng và dãy nồng độ
của đường chuẩn nên nằm trong khoảng nồng độ dự đoán thấp nhất và cao
nhất sẽ gặp trong các mẫu phân tích.
■ Phương pháp đánh giá kết quả
Để đánh giá kết quả người ta sử dụng các thông số sau [4], [5]:
- Diện tích dưới đường cong là thông số biểu thị mức độ hấp thu dược chất
từ chế phẩm, và được xác định theo công thức:
DTDĐC = }cdt=-Q —
J K V ,

1.2.3. Dược động học
- Indomethacin hấp thu tốt ở ống tiêu hoá (90% liều uống vào được hấp
thu trong 4 giờ). Nồng độ đỉnh trong huyết tương phụ thuộc vào liều sử dụng
và đạt được khoảng 2 giờ sau khi uống. Khi có thức ăn thuốc bị giảm hấp thu
nhẹ nhưng SKD không đổi. Tuổi không ảnh hưởng tới hấp thu. Với liều điều
trị thông thường indomethacin gắn nhiều với protein huyết tương. Thuốc gắn
vào dịch ổ khớp (tỉ lệ nồng độ trong ổ dịch và trong huyết thanh là khoảng
20%), qua được nhau thai, hàng rào máu não, có trong sữa mẹ và nước bọt
[12].
-t1/2 khoảng 2,5 - 11,2 giờ, 60% liều uống thải qua nước tiểu dưới dạng
không chuyển hoá hay đã chuyển hoá, khoảng 33% còn lại thải qua phân.
1.2.4. Chống chỉ định
Người tiền sử mẫn cảm với indomethacin và các chất tương tự kể cả
aspirin, loét dạ dày tá tràng, suy gan nặng, xơ gan, suy thận nặng, suy tim, phụ
nữ mang thai, cho con bú.
1.2.5. Chỉ định và liều dùng
Viêm thấp khớp, viêm cứng khớp sống, viêm xương khớp từ trung bình
đến trầm trọng dùng liều 25 mg, 3 lần/ngày. Vai đau nhức cấp tính
75- 150 mg/ngày, chia làm 3- 4 lần. Viêm khớp phong cấp tính 50 mg,
3 lần/ngày [7].
1.2.6. Một số chế phẩm
Các dạng bào chế của indomethacin hiện đang được sử dụng gồm:
- Dạng thuốc uống như viên nén, viên nang hàm lượng 25 mg hoặc 50
mg như Indocin, Indolag [7], [8].
- Dạng hỗn dịch như Indolag 25 mg/ 5 ml.
- Dạng thuốc đạn, thuốc nhỏ mắt.
- Dạng thuốc bột pha tiêm hàm lượng 25 mg hoặc 50 mg.
1.2.7. Phương pháp định lượng
- Phương pháp đo quang: Dung dịch indomethacin trong methanol cho một
hấp thu cực đại ở bước sóng X = 320 nm, vì vậy có thể áp dụng phương pháp

- Tủ đá nhiệt độ < - 20° c.
2.1.1.3. Súc vật thí nghiệm
Súc vật thí nghiệm là chó đực khoẻ mạnh, cân nặng khoảng 10-11 kg,
được nuôi trong điều kiện ăn uống đầy đủ, không cho ăn thức ăn lạ. Trước khi
làm thí nghiệm cho chó nhịn ăn 12 giờ.
2.1.2. Phương pháp thực nghiệm
2.I.2.I. Nghiên cứu xây dựng phương pháp định lượng indomethacỉn
trong huyết tương
(a) Nghiên cứu chọn dung môi chiết ỉndomethacin từ huyết tương
Lấy chính xác 1 ml huyết tương trắng cho vào ống nghiệm có nắp kín,
thêm vào một lượng chính xác indomethacin đã hoà tan trước vào methanol,
chiết lại indomethacin bằng acetonitril hoặc ether, tách lấy lớp dung môi, bốc
hơi dung môi đến khô, cắn hoà tan vào methanol, lọc qua màng 0,45 ¿xm, đem
phân tích bằng HPLC. Chọn dung môi chiết tốt nhất indomethacin từ huyết
tương.
(b) Nghiên cứu điều kiện định lượng indomethacin trong huyết tương
bằng HPLC
- Chuẩn bị pha động: Pha động ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chạy sắc
ký, như khả năng tách píc indomethacin với píc tạp, thời gian lưu của píc
indomethacin
Bốn yếu tố quan trọng của pha động ảnh hưởng đến kết quả tách của mẫu
phân tích là:
- Bản chất dung môi để pha pha động.
- Thành phần pha động.
- Tốc độ pha động.
- pH pha động.
Qua tham khảo tài liệu, chúng tôi chọn thành phần pha động là hỗn hợp
acetonitril và dung dịch đệm acetat pH 4,6 (0,0IM). Đệm acetat pH 4,6
(0,0IM) được pha như sau:
Cân 1,36 g natri acetat trihydrat hoà tan vào vừa đủ 1 lít nước cất hai lần,

2.I.2.2. Nghiên cứu SKD của ìndomethacin theo đường uống
(a) Thuốc thử và thuốc đối chiếu
-Thuốc đối chiếu là dung dịch indomethacin được pha theo công thức:
Indomethacin 75 mg
Ethanol 96 % 2 ml
Propylen glycol 10 ml
Nước 3 ml
Phương pháp bào chế: Hoà tan 75 mg indomethacin trong hỗn hợp 2 ml
ethanol và 10 ml propylen glycol, đun nóng nhẹ, lắc siêu âm trên máy
Ưltrasonic LC 60 H cho tan hết, thêm 3 ml nước cất, lắc đều.
- Thuốc thử nghiệm là viên nang chứa pellet indomethacin được bào chế
theo công thức:
Indomethacin
60 g
Avicel PH 101
50 g
HPMC
1,6 g
PVP
3,2 g
Tween 80
2,0 g
Lactose vđ
200 g
Phương pháp bào chế: Ngâm HPMC trong 18 ml nước đến khi trương nở
hoàn toàn, sau đó hoà tan PVP vào dung dịch trên. Indomethacin hoà tan trong
72 ml ethanol tuyệt đối, sau hoà Tween 80 vào dung dịch indomethacin trong
ethanol. Trộn đều hai dung dịch trên. Avicel và lactose trộn thành bột kép, cho
vào máy trộn, thêm dung dịch trên vào, nhào trong 5 phút, ủ tự nhiên 30 phút,
đùn qua máy đùn với tốc độ 60 vòng/phút. Cho vào máy tạo cầu, quay với tốc

huyết tương trong tủ đá - 20° c cho tới khi phân tích mẫu.
2.2. Kết quả thực nghiệm và nhận xét
2.2.1. Kết quả xây dựng phương pháp định lượng ỉndomethacỉn trong
huyết tương
2.2.1.1. Chiết ỉndomethacin trong huyết tương
- Dung môi chiết indomethacin trong huyết tương.
Chúng tôi đã sử dụng acetonitril và ether để thử khả năng chiết
indomethacin trong huyết tương.
Sau khi tiến hành chiết indomethacin từ các mẫu huyết tương có nồng độ
indomethacin xác định bằng 2 dung môi acetonitril và ether. Kết quả khảo sát
cho thấy:
Khi sử dụng acetonitril làm dung môi chiết, acetonitril sẽ tạo tủa với
protein nên khó tách, đồng thời khả năng bay hơi của acetonitril thấp nên phải
sục khí N2, vì vậy tốn kém và mất thời gian.
Khi sử dụng ether làm dung môi chiết, ether không tạo tủa với protein, khả
năng chiết cao, bay hơi tốt, tiết kiệm. Vì vậy chúng tôi chọn ether làm dung
môi chiết indomethacin trong huyết tương.
Qua tham khảo tài liệu và thực nghiệm, chúng tôi chọn được quy trình
chiết indomethacin trong huyết tương qua các bước như mô tả bằng sơ đồ 1
(trang 21).
Quá trình chiết indomethacin các mẫu huyết tương khác nhau được thực
hiện đồng nhất như sau:
Hút chính xác 1 ml huyết tương chứa indomethacin cho vào ống nghiệm
có nắp kín, thêm 0,2 ml đệm acid acetat pH 5 (1 M), lắc trên máy lắc trong
thời gian 2 phút, cho 6 ml ether vào ống nghiệm, lắc trong 10 phút với tốc độ
25 hertz / phút. Để phân lớp, lấy 5 ml ether cho vào ống nghiệm khác. Để bốc
hơi tự nhiên đến thu được cắn, cắn thu được hoà tan với 1 ml methanol, lắc
trong 2 phút, lọc qua màng lọc millipore 0,45 ^im. Dịch lọc đem chạy sắc ký.
Sơ đồ 1: Quá trình chiết indomethacin mẫu huyết tương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status