Đánh giá hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố phủ lý tỉnh hà nam - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
==========o0o==========

VŨ ĐẮC VIỆT

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số : 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐỖ THỊ TÁM
HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

phòng đăng ký đất thành phố Phủ Lý đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn nhân dân thành phố Phủ Lý, đặc biệt là
những hộ gia đình, cá nhân tham gia trả lời phỏng vấn đã giúp đỡ tôi trong
thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới những người thân trong gia đình và
đồng nghiệp đã khích lệ, tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá
trình thực hiện đề tài này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn Vũ Đắc Việt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi


1.3 Thực trạng hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
ở Việt Nam 19

1.3.1 Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của VPĐK 19

1.3.2 Tình hình thành lập Văn phòng đăng ký đất đai ở Việt Nam 29

1.3.3 Đánh giá chung về văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ở Việt Nam 30

1.4 Thực trạng hoạt động của VPĐK QSD đất của tỉnh Hà Nam 37

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

1.4.1 Về mô hình tổ chức 37

1.4.2 Về chức năng nhiệm vụ 39

1.4.3 Về phân cấp đăng ký biến động 40

1.4.4 Về cơ chế tài chính 41

1.4.5 Về đăng ký biến động 43

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 44

2.1 Nội dung nghiên cứu 44


3.1.4 Đánh giá chung về tình hình phát triển kinh tế gây áp lực đối với
đất đai 56

3.2 Thực trạng công tác quản lý đất đai trên địa bàn thành phố 57

3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất 57

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

3.2.2 Công tác quản lý đất đai 58

3.3 Đánh giá hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
thành phố Phủ Lý 62

3.3.1 Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất thành phố Phủ Lý 62

3.3.2 Kết quả hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
thành phố Phủ Lý 71

3.3.3 Đánh giá chất lượng hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử
dụng đất thành phố Phủ Lý 80

3.3.4 So sánh hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
thành phố Phủ Lý giữa mô hình đa cấp với mô hình một cấp 91

3.4 Đề xuất và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất 94


PTTH Phổ thông trung học
SDĐ Sử dụng đất
VPĐK Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
THCS Trung học cơ sở
UBND Uỷ ban nhân dân
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
ĐKTK Đăng ký thống kê
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
BTC Bộ Tài chính
BNV Bộ Nội vụ
BTP Bộ Tư pháp
NĐ-CP Nghị định của Chính phủ
TTLT Thông tư liên tịch
QĐ-UBND Quyết định của Ủy ban nhân dân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC BẢNG STT Tên bảng TrangHọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ

STT

Tên sơ đồ
Trang

1.1 Vị trí của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trong hệ thống
tổ chức các cấp 28

1.2 Mô hình tổ chức Văn phòng đăng ký QSD đất Hà Nam 38

3.1 Quy trình thực hiện Đăng ký, cấp giấy chứng nhận QSDĐ 68

3.2 Quy trình phối hợp thực hiện đăng ký, cấp giấy chứng nhận
QSDĐ 70

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1



đất đai ở địa phương có văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là cơ quan dịch
vụ công thực hiện chức năng quản lý hồ sơ địa chính gốc, chỉnh lý thống nhất
hồ sơ địa chính, phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ.
Việc đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình cá nhân do Văn phòng
Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện đảm nhiệm đã được thực hiện công
khai, minh bạch, giảm thời gian và chi phí cho công dân có nhu cầu giao dịch
về đất đai và tài sản gắn liền với đất. Trình độ của cán bộ làm việc tại cơ quan
đăng ký đất đai các cấp được từng bước nâng cao đã phát huy thành quả cải
cách hành chính trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, việc cung ứng các dịch vụ về
đăng ký, cấp giấy chứng nhận nhà đất vẫn là một trong những vấn đề hết sức
bức xúc của nhân dân, đặc biệt là tại các đô thị mới.
Thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam là một địa phương có quá trình đô thị
hoá diễn ra mạnh mẽ kể từ khi tái lập tỉnh Hà Nam năm 1997. Nhu cầu giao
dịch về đất đai, nhà ở, bất động sản ngày càng cao dẫn đến nhiều biến động về
quản lý sử dụng đất và bất động sản. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
thành phố được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 2 năm 2006 theo
Quyết định số 719/QĐ-UB ngày 30 tháng 12 năm 2005 của UBND thành phố
Phủ Lý (UBND thành phố Phủ Lý, 2005). Thực hiện Quyết định số 447/QĐ-
TTg ngày 17 tháng 4 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí
điểm kiện toàn hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành một cấp
trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường; UBND tỉnh Hà Nam đã ban hành
Quyết định số 965/QĐ-UBND ngày 26 tháng 7 năm 2012 về việc chuyển
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi
trường các huyện Kim Bảng, huyện Lý Nhân và thành phố Phủ Lý sang
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Hà Nam trực thuộc Sở Tài
nguyên và Môi trường (UBND tỉnh Hà Nam, 2012). Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất thành phố Phủ Lý được kiện toàn và hoạt động theo mô
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

- Chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất khi tham
gia thực hiện quyền sử dụng đất, quyền hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất .
- Cán bộ trực tiếp quản lý, điều hành công việc tại Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất thành phố Phủ Lý.
- Các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động của Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất
b) Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Thu thập thông tin về đăng ký quyền sử dụng đất và
các giao dịch về đất đai, giao dịch về bất động sản thực hiện tại Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Phủ Lý trên địa bàn thành phố Phủ Lý
gồm 6 xã và 6 phường.
+ Về thời gian: Số liệu, tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu được
thu thập từ khi thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (năm 2006)
đến thời điểm 31/12/2013.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở lý luận của đăng ký đất đai và bất động sản
1.1.1. Khái quát về đất đai, bất động sản và thị trường bất động sản
1.1.1.1. Khái niệm về đất đai
a) Về mặt thổ nhưỡng (soil)
Đất là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập, được hình thành do kết
quả tác động của nhiều yếu tố: khí hậu, địa hình, đá mẹ, sinh vật và thời
gian. Giá trị tài nguyên đất được đo bằng số lượng diện tích và độ phì.
Winkler (1968) xem đất như một vật thể sống vì trong nó có chứa nhiều sinh

đai; nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn
liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai;
các tài sản khác do pháp luật quy định” (Quốc Hội, 2005).
Các quy định về bất động sản trong pháp luật của Việt Nam là khái
niệm mở. Bất động sản bao gồm đất đai, vật kiến trúc và các bộ phận không
thể tách rời khỏi đất đai và vật kiến trúc. Bất động sản có những đặc tính sau
đây: có vị trí cố định, không di chuyển được, tính lâu bền, tính thích ứng, tính
dị biệt, tính chịu ảnh hưởng của chính sách, tính phụ thuộc vào năng lực quản
lý, tính ảnh hưởng lẫn nhau.
1.1.1.3. Thị trường bất động sản
a) Khái niệm thị trường bất động sản
Thị trường bất động sản (TTBĐS) là cơ chế, trong đó hàng hoá dịch vụ
bất động sản được trao đổi. TTBĐS được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm
các hoạt động có liên quan đến giao dịch BĐS như: mua bán, cho thuê, thừa
kế, thế chấp BĐS. TTBĐS theo nghĩa rộng không chỉ bao gồm các hoạt
động liên quan đến giao dịch BĐS mà bao gồm cả các lĩnh vực liên quan
đến việc tạo lập BĐS (Nguyễn Thanh Trà và Nguyễn Đình Bồng, 2005).
TTBĐS là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị
trường. Thị trường Bất động sản liên quan chặt chẽ với các thị trường khác
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

như: thị trường hàng hoá, thị trường chứng khoán, thị trường lao động, thị
trường khoa học công nghệ.
b) Đặc điểm và tính chất thị trường bất động sản
Thị trường bất động sản có các tính chất cơ bản sau: (i) TTBĐS chịu
chi phối bởi các quy luật kinh tế hàng hoá: quy luật giá trị, quy luật cung cầu;
(ii) TTBĐS hoạt động theo mô hình chung của thị trường hàng hoá với 3 yếu
tố xác định: sản phẩm, số lượng và giá cả; phạm vi hoạt động của TTBĐS do
pháp luật của mỗi nước quy định nên cũng không đồng nhất.

quyền sử dụng đất và được phép chuyển quyền sử dụng đất; khi chuyển
nhượng thế chấp BĐS thì đồng thời chuyển nhượng và thế chấp quyền sở hữu
nhà ở và quyền sử dụng đất; nhà nước thực hiện chế độ định giá và báo giá
BĐS; nhà nước thực hiện chế độ Đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và sở hữu nhà ở; tổ chức phục vụ môi giới BĐS gồm: Cơ quan tư
vấn, cơ quan bình giá tài sản nhà đất, cơ quan kinh doanh nhà đất (Nguyễn
Thanh Trà và Nguyễn Đình Bồng, 2006).
- Biện pháp để người mua và người bán BĐS đến với nhau;
- Biện pháp cung cấp thông tin khách quan liên quan đến BĐS cho
người mua (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu, hưởng lợi tài sản trên đất liên
quan đến BĐS của người bán; nghĩa vụ về tài chính và những tồn tại đối với
người bán; mối liên quan giữa BĐS của người bán với các BĐS liền kề cũng
như sự liên quan đến quy hoạch sử dụng đất của Nhà nước ;
- Thoả thuận giá mua bán;
- Hình thức hợp đồng giữa người bán và người mua có thể thực hiện và
được cộng đồng chấp nhận;
- Biện pháp đảm bảo chuyển quyền sở hữu BĐS cho người mua tại cơ
quan đăng ký BĐS;
- Biện pháp đảm bảo cho người mua BĐS có thể vay tiền bằng thế
chấp mà BĐS là vật bảo đảm cũng như đảm bảo quyền lợi của người cho vay;
- Biện pháp đảm bảo các nguồn thu của nhà nước từ hoạt động của
TTBĐS.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

1.1.2. Cơ sở lý luận về đăng ký đất đai, bất động sản
1.1.2.1. Hồ sơ đất đai, bất động sản
Hồ sơ đất đai và bất động sản (ở Việt Nam gọi là hồ sơ địa chính) là tài
liệu chứa đựng thông tin liên quan tới thuộc tính, chủ quyền và chủ thể có chủ
quyền đối với đất đai, bất động sản. Hồ sơ đất đai, bất động sản được lập để

Các hệ thống đăng ký giao dịch nâng cao có đòi hỏi cao hơn về nội
dung mô tả thửa đất, không chỉ bằng lời mà còn đòi hỏi có sơ đồ hoặc bản đồ
với hệ thống mã số nhận dạng thửa đất không trùng lặp.
Với hệ thống địa chính đa mục tiêu ở Châu Âu, việc đăng ký quyền và
đăng ký để thu thuế không phải là mục tiêu duy nhất, quy mô thửa đất có thể
từ hàng chục m
2

cho đến hàng ngàn ha được xác định trên bản đồ địa chính,
hệ thống bản đồ đia chính được lập theo một hệ toạ độ thống nhất trong
phạm vi toàn quốc.
1.1.2.4. Đăng ký pháp lý đất đai, bất động sản
a) Đăng ký văn tự giao dịch
- Giao dịch đất đai là phương thức mà các quyền, lợi ích và nghĩa vụ
liên quan đến đất đai được chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác, bao gồm
thế chấp, nghĩa vụ, cho thuê, quyết định phê chuẩn, tuyên bố ban tặng, văn
kiện phong tặng, tuyên bố từ bỏ quyền lợi, giấy sang nhượng và bất cứ sự bảo
đảm quyền nào khác. Trên thực tế các giao dịch pháp lý về bất động sản rất đa
dạng trong khuôn khổ các phương thức chuyển giao quyền. Đó có thể là một
giao dịch thuê nhà đơn giản, thuê nhượng dài hạn, phát canh thu tô dài hạn,
thuê danh nghĩa kèm thu lãi, cho quyền địa dịch, thế chấp và các quyền khác,
đặc biệt là hình thức giao dịch phổ thông nhất là mua bán bất động sản.
- Văn tự giao dịch là một văn bản viết mô tả một vụ giao dịch độc lập,
nó thường là các văn bản hợp đồng mua bán, chuyển nhượng hoặc các thoả
thuận khác về thực hiện các quyền hoặc hưởng thụ những lợi ích trên đất hoặc
liên quan tới đất. Các văn tự này là bằng chứng về việc một giao dịch nào đó
đã được thực hiện, nhưng các văn tự này không phải là bằng chứng về tính
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11


Page 12

1.1.3.2. Giai đoạn từ từ khi có Luật Đất đai 1988 đến 1993
- Luật Đất đai 1988 quy định “Khi được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền giao đất, cho phép chuyển quyền sử dụng, thay đổi mục đích sử dụng
hoặc đang sử dụng đất hợp pháp mà chưa đăng ký phải xin đăng ký đất đai
tại cơ quan Nhà nước - Uỷ ban nhân dân quận, thành phố thuộc tỉnh, thị xã,
phường và UBND xã thuộc huyện lập, giữ sổ địa chính, vào sổ địa chính cho
người SDĐ và tự mình đăng ký đất chưa sử dụng vào sổ địa chính” (Quốc
Hội, 1988).
- Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành Quyết định số 201 - ĐKTK
ngày 14/7/1989 về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Thông tư số 302 -
ĐKTK ngày 28/10/1989 hướng dẫn thực hiện Quyết định 201- ĐKTK đã tạo ra
một sự chuyển biến lớn về chất cho hệ thống đăng ký đất đai của Việt Nam”
(Tổng cục Quản lý ruộng đất, 1989).
Thời kỳ này do đất đai ít biến động, Nhà nước nghiêm cấm việc mua, bán,
lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức và với phương thức quản
lý đất đai theo cơ chế bao cấp nên hoạt động đăng ký đất đai ít phức tạp.
1.1.3.3. Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến năm 2003
a) Luật Đất đai năm 1993 quy định
- Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà
nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào các mục đích; Nhà
nước còn cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất.
- “Đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng
sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
- “Người đang sử dụng đất tại xã, phường, phường nào thì phải đăng ký
tại xã, phường, phường đó - Uỷ ban nhân dân xã, phường, phường lập và
quản lý sổ địa chính, đăng ký vào sổ địa chính đất chưa sử dụng và sự biến
động về việc sử dụng đất” (Quốc Hội, 1993).
Giai đoạn này đánh dấu sự chuyển đổi của nền kinh tế sau 7 năm thực

quyền sử dụng đất.
b) Cơ quan đăng ký đất đai:
“Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương có Văn phòng đăng ký quyền
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

sử dụng đất là cơ quan dịch vụ công thực hiện chức năng quản lý hồ sơ địa
chính gốc, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính, phục vụ người sử dụng đất
thực hiện các quyền và nghĩa vụ’’ (Quốc Hội, 2003).
1.2. Mô hình tổ chức đăng ký đất đai, bất động sản ở một số nước
1.2.1. Ở Úc
Tại Úc việc đăng ký BĐS do các cơ quan chính phủ các Bang thực hiện
bằng việc đăng ký quyền qua hệ thống Toren. Các cơ quan này là các cơ quan
ĐKĐĐ, Văn phòng đăng ký quyền đất đai, cơ quan quản lý đất đai hoặc cơ quan
thông tin đất đai.
1.3.1.1. Văn phòng đăng ký quyền đất đai của Northern Territory
Văn phòng đăng ký quyền đất đai tại Northern Territory là một bộ phận
của Văn phòng đăng ký trung ương, nhiệm vụ của Văn phòng thực hiện đăng
ký quyền đất đai theo Hệ thống Torrens bao gồm cả các phương tiện tra cứu,
hệ thống thông tin đất đai và các nhiệm vụ đăng ký khác. Hiện nay, tất cả bất
động sản đã đăng ký tại Northern Territory đều thuộc hình thức đăng ký
quyền theo Torrens. Trong hệ thống Torrens, sổ đăng ký là tập hợp của các
bản ghi đăng ký và các bản ghi này lại là bản lưu của giấy chứng nhận quyền.
Các loại giao dịch phải đăng ký vào hệ thống là thế chấp, mua bán, cho thuê
cũng được ghi trên các giấy chứng nhận này. Từ ngày 01 tháng 12 năm 2000,
bản lưu giấy chứng nhận không còn được in ra dưới dạng bản giấy mà lưu ở
dạng điện tử trừ trường hợp chủ sở hữu yêu cầu in ra để phục vụ cho giao
dịch thế chấp (Tổng cục quản lý đất đai, 2012).
1.3.1.2. Cơ quan đăng ký đất đai của Bang Victoria
Hệ thống đăng ký đất đai ở Bang Victoria là hệ thống Torrens. Cơ quan

đăng ký tự động (Tổng cục quản lý đất đai, 2012).
1.2.2. Cộng hòa Pháp
Chế độ pháp lý chung về đăng ký bất động sản được hình thành sau
Cách mạng tư sản Pháp. Những nội dung chính của chế độ pháp lý này đã
được đưa vào Bộ luật Dân sự 1804. Bộ luật này quy định nguyên tắc về tính
không có hiệu lực của việc chuyển giao quyền sở hữu đối với người thứ ba
khi giao dịch chưa được công bố, hay nói cách khác là giao dịch nếu chưa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16

công bố thì chỉ là cơ sở để xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia
giao dịch mà thôi (Tổng cục quản lý đất đai, 2012).
Luật ngày 28 tháng 3 năm 1895 là đạo luật đầu tiên quy định một cách
có hệ thống việc đăng ký tất cả các quyền đối với bất động sản, kể cả những
quyền không thể thế chấp (quyền sử dụng bất động sản liền kề, quyền sử dụng
và quyền sử dụng làm chỗ ở) và một số quyền đối nhân liên quan đến bất
động sản (thuê dài hạn). Luật này cũng quy định cơ chế công bố công khai tất
cả các hợp đồng, giao dịch giữa những người còn sống về việc chuyển
nhượng quyền đối với bất động sản (Tổng cục quản lý đất đai, 2012).
Cho dù là công bố công khai tại Văn phòng đăng ký đất đai hay đăng ký
theo Địa bộ ở Vùng Alsace Moselle, đều phải tuân thủ bốn nguyên tắc chung:
- Hợp đồng, giao dịch phải do Công chứng viên lập: Đây là điều kiện
tiên quyết. Điều kiện này không những đảm bảo thực hiện tốt các thủ tục đăng
ký về sau mà còn đảm bảo sự kiểm tra của một viên chức công quyền đối với
tính xác thực và hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. Nhờ những đặc tính riêng
của văn bản công chứng (ngày tháng hiệu lực chắc chắn và giá trị chứng cứ),
điều kiện này còn đem lại sự an toàn pháp lý cần thiết để sở hữu chủ có thể
thực hiện quyền sở hữu của mình mà không bị bất kỳ sự tranh chấp nào.
- Tuân thủ dây chuyền chuyển nhượng: Đây chính là nguyên tắc đảm
bảo tính tiếp nối trong việc đăng ký: mọi hợp đồng, giao dịch đều không được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status