BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN HỒ THỊ DIỆU ÁNH TỰ TẠO VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình khoa học độc lập của
mình. Những số liệu và nội dung được đưa ra trong luận án là trung
thực. Nội dung của luận án chưa từng được công bố ở cả trong và
ngoài nước.
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH, HỘP, SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỰ TẠO
VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 6
1.1. Tổng quan nghiên cứu 6
1.1.1. Các nghiên cứu về tự tạo việc làm 6
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm 11
1.2. Cơ sở lý luận tự tạo việc làm của lao động nông thôn 17
1.2.1. Việc làm, tạo việc làm, giải quyết việc làm và tự tạo việc làm 17
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm của lao động nông thôn 26
1.2.3. Khái niệm và đặc điểm lao động nông thôn 33
1.2.4. Hoạt động phi nông nghiệp 36
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 39
2.1.1. Vị trí địa lý, địa hình, tài nguyên thiên nhiên tỉnh Nghệ An 39
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế xã hội 41
2.1.3. Tình hình phát triển dân số 43
2.2. Các giả thuyết khoa học và khung phân tích 44
2.2.1. Các giả thuyết khoa học 44
4.3.3. Nhóm giải pháp phát huy sức mạnh cộng đồng thúc đẩy tự tạo việc làm của
lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An 125
KẾT LUẬN 134
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO 137
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CN Công nghiệp
CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
ĐTĐT Đối tượng điều tra
ĐVT Đơn vị tính
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
HTX Hợp tác xã
ILO Tổ chức lao động quốc tế
LĐ – TB&XH Lao động - Thương binh và Xã hội
MTQG Môi trường quốc gia
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NTM Nông thôn mới
PCCC Phòng cháy chữa cháy
SXKD Sản xuất kinh doanh
TDCM Trình độ chuyên môn
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
XKLĐ Xuất khẩu lao động
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH, HỘP, SƠ ĐỒBẢNG:
Bảng 3.13. Tổng hợp các chỉ tiêu về chợ nông thôn 102
Bảng 3.14. Các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khu vực nông thôn Nghệ An 105
Bảng 3.15. Các nguồn lực tài chính địa phương 105
Bảng 3.16: Kết quả kiểm định phương sai ANOVA 107
Bảng 3.17: Kết quả phân tích Hồi quy Binary logictics 110
BIỂU ĐỒ:
Biểu đồ 3.1. Phân bố phần trăm các nghề của lao động nông thôn 64
Biểu đồ 3.2. Phân bố % của đối tượng tự tạo việc làm phi nông nghiệp 69
Biểu đồ 3.3: Tiếp cận thông tin nông thôn Nghệ An 92
HÌNH:
Hình 2.1. Bản đồ địa lý tỉnh Nghệ An 40
HỘP:
Hộp 3.1: Trình độ chuyên môn ảnh hưởng tự tạo việc làm 75
Hộp 3.2. Yếu tố được đào tạo nghề tác động tự tạo việc làm 77
Hộp 3.3. Vốn tài chính bản thân tác động đến tự tạo việc làm 78
Hộp 3.4. Vai trò gia đình đối với tự tạo việc làm 82
Hộp 3.5. Yếu tố hộ gia đình tác động tự tạo việc làm của lao động nông thôn 86
Hộp 3.6. Hỗ trợ địa phương tác động đến tự tạo việc làm 97
Hộp 3.7: Khó khăn trong tiếp cận vốn 104
Hộp 4.1. Chia sẻ thông tin tác động đến tự tạo việc làm 125
SƠ ĐỒ:
Sơ đồ 2.1. Khung lý thuyết nghiên cứu 47
1
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu luận án
giác độ mục tiêu phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội.
2
2. Lý do chọn đề tài
Nguồn nhân lực nông thôn là một bộ phận của nguồn nhân lực nói chung,
được phân bố ở nông thôn và làm việc trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên địa
bàn nông thôn, bao gồm: sản xuất nông, lâm, thủy sản, công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thương mại, dịch vụ và các hoạt động phi nông nghiệp khác diễn ra ở nông
thôn. Vì vậy phát triển nguồn nhân lực nông thôn có thể hiểu là làm tăng giá trị con
người trên các mặt đạo đức học tập, lao động, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn và thể lực
làm cho con người có khả năng làm việc cao nhất, đóng góp có hiệu quả nhất vào
phát triển kinh tế, xã hội nông thôn. Lao động nông thôn là những người thuộc lực
lượng lao động và tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn
như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ trong nông thôn. Việc làm nông thôn hiện nay có một số đặc
điểm cơ bản và ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tạo việc làm và tự tạo việc làm
ở nông thôn hiện nay.
“Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất số lượng
và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu
sản xuất và sức lao động đem lại thu nhập cho người lao động” [39, tr.20]. Hiện
nay, có nhiều quan điểm cho rằng, tạo việc làm cho lao động đặc biệt đối với lao
động nông thôn là yêu cầu mang tính “tất yếu” của các cấp chính quyền địa phương.
Theo đó, tạo việc làm được hiểu là quá trình chính quyền địa phương chủ động tạo
ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các
điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động. Cách tiếp
cận này rõ ràng đã chịu ảnh hưởng nhiều bởi cơ chế bao cấp và đã tạo ra một sức ỳ
lớn cho lao động nông thôn. Cụ thể, lao động nông thôn vẫn bị động trong tiếp cận
các công việc mà “hiển nhiên” họ phải có và nhiều lúc thiếu hẳn “động lực” cho
thực hiện để nâng cao hiệu quả công việc.
không còn là nông dân vì không còn đất canh tác (do đất đai đã dành cho các dự án
phát triển khu công nghiệp, chế xuất), thậm chí không còn việc làm, phải đi làm
thuê, thu nhập rất thấp và không ổn định. Trong thời gian tới, dân số và lao động
Nghệ An tiếp tục tăng ổn định, hằng năm có hơn 30 nghìn người được bổ sung vào
lực lượng lao động. Dự báo mỗi năm số lao động cần giải quyết việc làm lên tới 3,4
4
vạn người và một bộ phận lao động nông nghiệp bị thu hồi đất, lao động thất nghiệp
ở khu vực thành thị có nhu cầu về việc làm đã tạo sức ép lớn cho công tác giải quyết
việc làm, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn diễn ra khá căng thẳng. Khả
năng đầu tư phát triển tạo việc làm tại chỗ mất cân đối so với tốc độ gia tăng lực
lượng lao động hàng năm. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo vùng và ngành diễn ra
chậm, hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho người lao động để tạo việc làm mới hoặc tự tạo
việc làm còn hạn chế, nhất là hệ thống thông tin thị trường lao động.
Trong thực tế, do không tạo được việc làm ổn định tại địa phương nên tình
trạng lao động rời xa quê hương tìm kiếm công việc ở nhiều địa phương khác nhau
diễn ra tương đối phổ biến. Vấn đề tự tạo việc làm không nên coi là giải pháp tạm
thời khi thiếu việc làm, góp phần giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp, mà nên khuyến khích
đặc biệt lao động nông thôn để họ chủ động tạo được việc làm, tăng thu nhập góp
phần xóa đói giảm nghèo.
Từ những vấn đề đặt ra, nghiên cứu sinh cho rằng cần thiết phải lựa chọn đề
tài “Tự tạo việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An” để làm
luận án nghiên cứu của mình.
3. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm của lao động nông thôn
Nghệ An.
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố tác động tự tạo việc làm
của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
động nông thôn
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Giải pháp thúc đẩy tự tạo việc làm của lao động nông thôn
trên địa bàn tỉnh Nghệ An6
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
CỦA TỰ TẠO VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN1.1. Tổng quan nghiên cứu
1.1.1. Các nghiên cứu về tự tạo việc làm
Ở Việt Nam, thuật ngữ “tự tạo việc làm” thường xuất hiện khi đề cập tới
khuyến khích khởi sự các doanh nghiệp tư nhân hay đơn giản chỉ là một hoạt động
sản xuất kinh doanh buôn bán nhỏ nhằm kiếm sống - doanh nghiệp vi mô, hoặc
tạo lập các hoạt động kinh tế của hộ gia đình, trang trại gia đình. Các đối tượng
được khuyến khích hoặc hỗ trợ “tự tạo việc làm” trong các chính sách của nhà
nước hiện nay phần nhiều là thanh niên, phụ nữ, người nghèo, người mất việc làm,
người tàn tật.
Luận án của Ngô Quỳnh An (2012) đã đưa ra nhận định “về mặt lý luận, tự
tạo việc làm là quá trình người lao động tự tổ chức kết hợp sức lao động của bản
thân và những người khác với tư liệu sản xuất mà họ sở hữu hay tự bỏ chi phí đầu
tư nhằm đem lại thu nhập hợp pháp”. Trong thực tế, tự tạo việc làm của người lao
động là quá trình họ tự tạo ra, chịu trách nhiệm tổ chức và thực hiện các hoạt động
lao động đem lại nguồn thu nhập hợp pháp, mà với những hoạt động này người lao
động tự đầu tư chi phí và hưởng toàn bộ lợi nhuận thu được ứng với chi phí họ đầu
riêng mình. Lý thuyết này mang tính chất mô tả các quyết định tĩnh, không giải
thích rõ ràng về quá trình tự tạo việc làm [62].
Nghiên cứu về mô hình thặng dư lao động - David Ricardo đã đưa ra giả định “
việc lợi tức nông nghiệp giảm dần theo thời gian sẽ tạo ra “thặng dư lao động” và
người ta có thể rút thặng dư lao động ra khỏi nông nghiệp, chuyển sang công nghiệp
mà không làm thay đổi tổng sản lượng nông nghiệp cũng như tăng tiền lương ở hai
khu vực”. Với kết luận này cho thấy thặng dư lao động là yếu tố thúc đẩy sự chuyển
dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp [3,tr.35].
Tự tạo việc làm tác động cho sự phát triển là vấn đề được xem xét ở nông
thôn Trung Quốc. Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Sandeep Mohapatra,
Scott Rozelle, Rachael Goodhue (2009) đã đánh giá vai trò của các quá trình tự tạo
8
việc làm ở nông thôn của Trung Quốc. Sự gia tăng của công việc tự thúc đẩy kinh
doanh và là một dấu hiệu của sự phát triển. Sử dụng dữ liệu về lịch sử thị trường lao
động trong 20 năm của một mẫu đại diện quốc gia của các cá nhân, cung cấp bằng
chứng mô tả rằng tự tạo việc làm ở nông thôn Trung Quốc, không giống như ở một
số nơi khác, là một dấu hiệu của sự phát triển. Sử dụng mô hình Markov trong phân
tích tự tạo việc làm ở nông thôn Trung Quốc [72].
Vấn đề tự tạo việc làm của người lao động tác động đến ổn định quốc gia,
được khẳng định trong công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Sana El Harbia,
Gilles Grolleaub. Công trình nghiên cứu này nhận thấy tự tạo việc làm ảnh hưởng
sự phát triển của cá nhân ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Thay vì xem xét những
ảnh hưởng hạnh phúc ở mức độ cá nhân, công trình nghiên cứu đánh giá tự tạo việc
làm hiệu ứng lây lan và ảnh hưởng hạnh phúc trong nước của cá nhân. Sử dụng
bảng điều khiển phân tích dữ liệu cho 15 nước OECD trong khoảng thời gian 18
năm, nghiên cứu điều tra thực nghiệm các quốc gia với mức độ cao hơn của công
việc tự làm hạnh phúc hơn [71].
Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khung sinh kế
Lý thuyết “Lực đẩy” đưa ra giả thuyết rằng, những người tự tạo việc làm
không phải có phẩm chất gì khác với những người làm công mà chỉ là phản ứng tạm
thời của họ với hoàn cảnh khó tìm kiếm việc làm trong thời kỳ suy giảm kinh tế.
Đối lập với lý thuyết “lực đẩy” là lý thuyết “lực hút”, với giả thuyết cho rằng những
người khởi sự doanh nghiệp là những người có phẩm chất và kiến thức kỹ năng đặc
biệt nào đó thúc đẩy họ lựa chọn và theo đuổi tự tạo việc làm [18, tr.33].
Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu chú ý tới một mô hình khác
về các yếu tố tác động tới quyết định sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Mô hình này
cho rằng hộ gia đình quyết định tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp là do hai
nhóm yếu tố khác nhau “kéo” và “đẩy” lao động vào hoạt động phi nông nghiệp.
Reardon (1997) đưa ra các nhân tố “đẩy” sau đây: (1) tăng trưởng dân số, (2) tăng
sự khan hiếm của đất có thể sản xuất, (3) giảm khả năng tiếp cận với đất phì nhiêu,
(4) giảm độ màu mỡ và năng suất của đất, (5) giảm các nguồn lực tự nhiên cơ bản,
(6) giảm doanh thu đối với nông nghiệp, (7) tăng nhu cầu tiền trong cuộc sống, (8)
các sự kiện và các cú sốc xảy ra, (9) thiếu khả năng tiếp cận đối với các thị trường
10
đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, (10) thiếu vắng các thị trường tài chính nông
thôn. Hơn nữa, ông cũng gợi ý các nhân tố “kéo” sau đây: (1) doanh thu cao hơn
của lao động phi nông nghiệp, (2) doanh thu cao hơn khi đầu tư vào lĩnh vực phi
nông nghiệp, (3) rủi ro thấp hơn của khu vực phi nông nghiệp so với khu vực nông
nghiệp, (4) tạo ra tiền mặt để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của gia đình và (5) nhiều
cơ hội đầu tư. Tóm lại, nhân tố “kéo” đưa ra những sự hấp dẫn của khu vực phi
nông nghiệp đối với người nông dân. Nhân tố đẩy liên quan đến áp lực hoặc các hạn
chế của khu vực nông nghiệp buộc nông dân tìm kiếm thu nhập khác nếu họ muốn
cải thiện các điều kiện sống của mình [14].
Quan hệ “kéo” và “đẩy” đưa ra một khung khổ tương đối toàn diện cho việc
xác định sự tham gia của hộ nông dân vào các hoạt động phi nông nghiệp. Tuy
nhiên công cụ này chỉ phân tích cung lao động của hộ. Về mặt thực tiễn, hai hộ gia
Nghiên cứu của Đoàn Minh Duệ (2009) về vấn đề đói nghèo ở một số huyện
Miền Tây Nghệ An- Thực trạng và giải pháp đến năm 2010, đã phân tích thực trạng
đói nghèo của các huyện Miền Tây Nghệ An, góp thêm cách tiếp cận để xem xét
đánh giá thực trạng đói nghèo cũng như cung cấp luận cứ khoa học giúp các ngành
các cấp ở Nghệ an đưa ra các giải pháp xóa đói giảm nghèo, trong đó có vấn đề tạo
việc làm [10].
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm
- Các yếu tố cá nhân
Nghiên cứu về sự tác động của trình độ chuyên môn đến khả năng tạo việc
làm Luận án Tiến sỹ của Trần Thị Thu (2003) đã chỉ ra công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đặt ra nhiều thách thức yêu cầu về kỹ năng lao động đòi hỏi người lao động
phải có trình độ chuyên môn lành nghề cao, thời gian làm việc dài, và những khó
khăn do ảnh hưởng tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường, đòi hỏi lao động
phải có tay nghề mới có cơ hội có việc làm [33].
Vai trò vốn con người tác động tới tăng trưởng kinh tế được đề cập trong
nghiên cứu của Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2008), số năm đi học là một
trong những thước đo biểu hiện vốn con người. Trong nghiên cứu tác giả đã sử
dụng mô hình hồi quy với thước đo vốn con người (số năm đi học bình quân, chi
phí giáo dục hay thu nhập). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sử dụng thước đo vốn
con người dựa trên chi phí và thu nhập chưa phù hợp với thực tế Việt Nam. Kết quả
12
nghiên cứu nhận định tỉnh nào có mức vốn con người cao hơn thì sẽ có mức GDP
cao hơn trong điều kiện các yếu tố khác không đổi [36].
Nghiên cứu của Thái Phúc Thành (2014) bổ sung rõ hơn về vai trò của vốn
con người đến việc hình thành sinh kế, tạo việc làm giảm nghèo. Vốn con người có
vai trò quyết định chiến lược sinh kế, các hoạt động sinh kế, điều phối tài sản sinh
kế khác trong các hoạt động sinh kế, điều chỉnh các thích ứng với tác động từ bên
ngoài nhằm tạo ra duy trì kết quả sinh kế [29].
Lê Xuân Bá (2009) đã đưa ra một số phân tích đối với quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của lao động nông thôn Việt Nam trong đó có xét đến đối tượng tự
làm, khẳng định trình độ giáo dục cũng có ảnh hưởng đến khả năng chuyển dịch
của lao động. Ở mức độ vĩ mô, chất lượng của lực lượng lao động nông thôn có tác
động tương đối lớn đến tốc độ chuyển dịch. Xu hướng chung là trình độ giáo dục
của lao động càng cao thì khả năng chuyển dịch của lao động càng lớn [14].
Phân tích về yếu tố giới nghiên cứu của Trần Thị Thu (1999) [35] khẳng
định nguyên nhân đưa phụ nữ đến với tự tạo việc làm khu vực phi chính thức ở Việt
Nam là do vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc nuôi sống gia đình, quản lý tài
chính gia đình, chăm sóc gia đình và nội trợ, phụ nữ khó kiếm việc làm, mất việc
làm do giảm biên chế khi cơ cấu kinh tế thay đổi. Vấn đề này được đề cập trong
nghiên cứu của Linda Yueh (2009) cho rằng sự khác biệt giới tính cũng là một yếu
tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm [64].
Lê Xuân Bá (2009) đưa ra những nhận định trong khoảng 10 năm qua và
trong hầu hết các loại chuyển dịch lao động được xem xét, yếu tố giới cũng có ảnh
hưởng đến khả năng chuyển dịch. Tác động của yếu tố này như sau: i) Nam giới
dường như có nhiều khả năng chuyển dịch lao động hơn nữ giới trong thời gian qua
và đối với hầu hết các loại hình chuyển dịch; ii) Đối với loại hình chuyển dịch lao
động nông nghiệp – phi nông nghiệp khả năng chuyển dịch của nam giới lớn hơn ở
thời kỳ 1993-1998 nhưng biểu hiện lại không rõ trong thời kỳ 2001-2004; iii) Nam
giới có xác suất chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang tiểu thủ công nghiệp và
công nghiệp nông thôn lớn hơn ở thời kỳ 1993-1998 trong khi đó vai trò đó lại
thuộc về nữ giới ở giai đoạn sau 2001-2004; iv) Ngược lại, nữ giới lại có khả năng
chuyển dịch từ SXNN sang dịch vụ cao hơn trong thời kỳ 1993-1998. Trong thời kỳ
2001-2004 khả năng chuyển dịch lớn hơn
lại thuộc về nam giới; v) Đối với loại hình
14
chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang làm thuê, nam giới luôn luôn có khả
15
nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng đáng kể của nghề nghiệp của người cha tới sự lựa
chọn nghề nghiệp của con cái. Một người có nhiều khả năng trở thành tự tạo việc
làm nếu cha anh ta cũng tự tạo việc làm . Cũng theo Dewit một người có xu hướng
chấp nhận rủi ro để có được lợi ích cao hơn nếu bạn đời của họ cũng làm việc và có
thu nhập ổn định [57].
Dự án FSPS chương trình hỗ trợ ngành thủy sản của Sở nông nghiệp nông
thôn Nghệ An (2010) đã khẳng định nguồn lực cho phát triển kinh tế và thực hiện
các hoạt động sinh kế của lao động nữ ven biển tỉnh Nghệ An còn nhiều hạn chế
như trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn lao động thấp, phụ nữ vất vả sinh nhiều
con chăm lo gánh vác gia đình thay nam giới đi biển, thiếu đất nông nghiệp để canh
tác. Nghề nghiệp chủ yếu của lao động nữ tại các xã ven biển liên quan nhiều đến
các nghề đi biển. Sinh kế của lao động nữ phụ thuộc chủ yếu vào nghề biển và phụ
thuộc vào người chồng [5].
Đỗ Thị Quỳnh Trang (2007) nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã tìm thấy bằng
chứng cho rằng, mặc dù đối với nam giới thì tình trạng hôn nhân và số con không
ảnh hưởng đến lựa chọn tự tạo việc làm của họ, đối với phụ nữ, số con của họ làm
tăng khả năng lựa chọn tự làm [58].
Ở Việt Nam, nghiên cứu của James(1998) đã khẳng định nếu gia đình có
tỷ lệ số người tự tạo việc làm cao thì cơ hội lựa chọn tự tạo việc làm của các
thành viên khác cũng cao hơn [69]. Linda Yueh (2009) cũng đã đưa ra ý kiến
tương tự khi nghiên cứu tự tạo việc làm của nông thôn Trung Quốc, một người
quyết định khởi sự doanh nghiệp khi có bạn bè hay người thân trong gia đình đang
kinh doanh [64].
Ngô Quỳnh An (2012) đã khẳng định vai trò của gia đình là quan trọng nhất
trong việc hỗ trợ khuyến khích thanh niên tự tạo việc làm. Gia đình cung cấp các
tiềm lực tài chính, truyền thống tự tạo việc làm đến vai trò của hộ gia đình các thành
viên nữ trong hộ gia đình đều có mối quan hệ tỷ lệ thuận với khả năng tự tạo việc
làm của thanh niên Việt Nam [18].
các chính sách để tạo các điều kiện thuận lợi cho người lao động có thể dễ dàng
chuyển dịch lao động, chuyển đổi ngành nghề ngay trong địa phương mình hoặc di
chuyển đi làm việc ở các địa phương khác, tự tạo việc làm tại địa phương [14].
17
Với ý nghĩa tác động quan trọng của cơ sở hạ tầng của địa phương đến khả
năng và tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, cần có các chính sách tăng
cường việc nâng cấp và hoàn thiện hạ tầng cơ sở nông thôn trên cơ sở có qui hoạch
một cách khoa học khu vực nông thôn. Tuy nhiên, tính bền vững của các cơ sở hạ
tầng cần rất được quan tâm. Mặc dù có tác động gián tiếp đến chuyển dịch cơ cấu
lao động, yếu tố “kéo’ này rất quan trọng làm cho thị trường hàng hoá nông thôn
phát triển, giảm dần khoảng cách với khu vực thành thị và tạo mối liên kết chặt chẽ
hơn với khu vực thành thị.
Phạm Quý Thọ (2000) trong đề tài “Ảnh hưởng của di dân từ nông thôn ra
thành thị và việc làm của dân cư trong giai đoạn CNH, HĐH” đã phân tích quy mô
di dân từ nông thôn ra thành thị (Hà Nội), ảnh hưởng của di dân nông thôn đến việc
làm và mức sống, chỉ ra hiện trạng hoạt động kinh tế và việc làm của lao động di
cư, mức sống của người di dân từ nông thôn ra Hà Nội; đồng thời đã đề xuất một số
biện pháp để điều tiết di dân nông thôn thành thị nhằm tạo việc làm và nâng cao
mức sống như quy hoạch và mở rộng phát triển kinh tế xã hội Hà Nội, hình thành
và phát triển các hình thức dịch vụ, hoàn thiện chính sách quản lý nhân khẩu [26].
1.2. Cơ sở lý luận tự tạo việc làm của lao động nông thôn
1.2.1. Việc làm, tạo việc làm, giải quyết việc làm và tự tạo việc làm
1.2.1.1. Việc làm
Điều 13, Chương II (Việc làm) Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam: " Việc làm là hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập mà
không bị pháp luật cấm” [27, tr.35]. Khái niệm này cũng được vận dụng trong các
cuộc điều tra mẫu về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam và
được cụ thể hoá thành ba dạng hoạt động sau: