BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN VĂN TUÂN
¬
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ
¬
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số : 60.34.04.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. TÔ DŨNG TIẾN
Hà Nội, năm 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất cứ công trình nào khác.
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp đỡ
tôi thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, ngày 18 tháng 9 năm
2014
Tác giả luận văn Trần Văn Tuân Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
PHẦN I. MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
Bắc Ninh 62
4.2 Các giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động lao động
nông thôn trên địa bàn huyện trong thời gian qua 63
4.2.1 Phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản 63
4.2.2 Phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
cơ bản. 71
4.2.3 Phát triển ngành dịch vụ 81
4.2.4 Tăng cường công tác xuất khẩu lao động 82
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v
4.2.5 Đánh giá thực trạng việc làm của người lao động nông thôn ở huyện
Quế Võ tỉnh Bắc Ninh 86
4.3 Định hướng và một số giải pháp tạo việc làm cho lao động nông
thôn trên đại bàn huyện Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh. 93
4.3.1 Quan điểm, định hướng, dự báo và mục tiêu giải quyết việc làm cho
người lao động trong vùng thu hồi đất 93
4.3.2 Những giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm cho người lao động nông
thôn trên địa bàn huyện Quế Võ 98
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 111
5.1 Kết luận 111
5.2 Kiến nghị 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 115 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT Tên biểu đồ Trang
4.1 Cơ cấu lực lượng lao động nông thôn huyện Quế Võ năm 2013 56
4.2 Giá trị sản xuất ngành dịch vụ của lao động nông thôn trên địa
bàn huyện 82 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ
BQ Tốc độ phát triển bình quân
CC Cơ cấu
CNH - HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
CSHT Cơ sở hạ tầng
CN-TTCN&XD Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
DV Dịch vụ
ĐH, CĐ, THCN Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp
ĐVT Đơn vị tính
GTSX Giá trị sản xuất
HTX Hợp tác xã
KCN Khu công nghiệp
ILO Tổ chức Lao động quốc tế
KD Kinh doanh
KTXH Kinh tế xã hội
mang tính chất thời vụ nên nhiều lao động ở ngành vẫn có nhiều thời gian
rảnh rỗi, bên cạnh đó quá trình đô thị hóa của huyện ngày càng phát triển và
mở rộng, nhiều cụm công nghiệp được xây dựng do vậy một phần diện tích
đất nông nghiệp phải chuyển đối mục đích, dẫn đến diện tích đất canh tác
ngày càng thu hẹp, trong khi đó dân số nông thôn ngày một tăng. Điều đó cho
thấy tình trạng thiếu việc làm cho người lao động nông thôn đang ngày càng
gia tăng. Thời gian sử dụng lao động chưa hợp lý, chưa phát huy được khả
năng của người lao động, vì vậy một trong những mục tiêu chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của huyện đến năm 2015 “ giải quyết việc làm nâng cao
thu nhập, mức sống cho người lao động nông thôn ’’.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2
Để đạt được mục tiêu đó, chúng ta cần tìm hiểu và làm rõ thực trang
việc làm của người lao động nông thôn trên địa bàn huyện Quế Võ trong thời
gian qua, chỉ ra những thách thức, hạn chế cũng như khả năng tạo việc làm
cho người lao động trong thời gian tới. Xuất phát từ tình hình thực tế đó tôi
lựa chọn đề tài: “Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn
huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh’’ nhằm góp phần vào quá trình phát triển kinh
tế xã hội của huyện ngày càng hiệu quả theo mục tiêu đề ra.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá đúng đắn thực trạng lao động và việc làm tại nông
thôn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, đề xuất định hướng và các giải pháp giải
quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động tại địa bàn nghiên cứu.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản cơ sở lý luận và thực tiễn về việc
làm và giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn.
- Phân tích rõ thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động
nông thôn trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh cùng những nguyên
nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó.
đình …). Vì vậy, “việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong
đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực, có
tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất”. Theo khái niệm này, người
có việc làm là người làm việc gì đó để được trả công, lợi nhuận được thanh
toán bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất
tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập của gia đình (không được nhận tiền
công hay hiện vật). Khái niệm này đã được chính thức nêu tại Hội nghị quốc
tế lần thứ 13 của Tổ chức lao động thế giới ILO.1993) và đã được áp dụng ở
nhiều nước. Tuy nhiên, quan niệm này mang nghĩa rất rộng, bao trùm mọi
hoạt động lao động của con người. Trong thời đại ngày nay, với quan niệm
trên, có rất nhiều người sẽ thuộc diện có việc làm, bao gồm: những hoạt động
mang tính hợp pháp và những hoạt động mang tính phi pháp hay là những
hoạt động lao động của con người vi phạm pháp luật hoặc bị cho là vi phạm
đạo đức xã hội và bị ngăn cấm ở một số nước. Ví dụ, việc buôn bán heroin,
mại dâm,… ở các nước như Hà Lan, Côlômbia thì không cấm, nhưng những
hoạt động này bị cấm ở những nước khác, đặc biệt ở các nước châu Á như:
Việt Nam, Trung Quốc,… Do vậy, khái niệm trên chỉ mang tính khái quát, là
cơ sở nghiên cứu vấn đề chung cho các nước trên thế giới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5
Ở nước ta, trong thời kỳ tập trung bao cấp, nhà nước đã đứng ra giải
quyết việc làm, trực tiếp quản lý nguồn lao động kể từ khâu đào tạo, phân bổ
đến việc sử dụng đãi ngộ đối với người lao động thực hiện theo chỉ tiêu pháp
lệnh. Trong giai đoạn này, những khái niệm về thiếu việc làm, lao động dư
thừa, việc làm không đầy đủ… hầu như không được biết đến. Còn khái niệm
“thất nghiệp” dường như là điều cấm kị nói tới dưới bất kỳ hình thức nào,
trong nền kinh tế quốc dân, xu hướng quốc doanh hóa được coi là một điều tất
yếu. Hướng phấn đấu của mọi cơ sở sản xuất kinh doanh là chuyển nhanh vào
khu vực quốc doanh, đối với mỗi công dân là vào đội ngũ viên chức nhà
nước. Do đó việc làm và người có việc làm được xã hội thừa nhận và trân
do tìm kiếm việc làm, tư do thuê mướn lao động trong khuôn khổ của pháp
luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực ngoài nhà
nước và các khu vực phi chính thức.
Hai điều kiện đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ
để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động
tạo ra thu nhập, nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma túy, mại
dâm,… thì không được thừa nhận là việc làm. Mặt khác một hoạt động là hợp
pháp và có ích, nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là
việc làm.
Nhận thức về việc làm và tạo việc làm đã có sự chuyển biến căn bản.
Nếu như trước đây, quan niệm phổ biến là Nhà nước chịu trách nhiệm tạo
việc làm và bố trí việc làm cho người lao động thì nay đã chuyển sang quan
niệm tạo việc làm là trách nhiệm của nhà nước, doanh nghiệp, xã hội và của
chính bản thân người lao động. Sự thay đổi quan niệm về việc làm của Nhà
nước phù hợp với nền kinh tế thị trường, coi hoạt động lao động tạo ra nguồn
thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm, có vai trò
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7
quan trọng trong giải phóng sức lao động, thúc đẩy tạo mở việc làm và phát
triển thị trường lao động ở nước ta.
Quan niệm về việc làm nêu trên đã mang tính khái quát cao, tuy nhiên
vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là:
Thứ nhất, xét trên phạm vi rộng thì tính hợp pháp của một hoạt động
lao động được thừa nhận là việc làm tùy thuộc vào luật pháp của mỗi quốc gia
và mỗi thời kỳ. Có hoạt động là việc làm ở nước này nhưng lại không được
thừa nhận là việc làm ở nước khác.
Thứ hai, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình và
xã hội đều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần làm giảm chi tiêu cho gia đình
thay vì thuê người làm công.
Theo giáo trình Kinh tế Lao động của khoa Kinh tế Lao động và Dân số
động đó. Trên cơ sở này sẽ hình thành các dạng việc làm cũng như phân
tích các nhân tố ảnh hưởng đến hỗ trợ giải quyết việc làm. (Lưu Bình
Nhưỡng,2001).
2.1.1.1. Thất nghiệp.
Theo quan niệm của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (ILO), thất nghiệp là
người không có việc làm, có khả năng làm việc và có nhu cầu tìm kiếm việc làm.
Những người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có sức lao động
chưa có việc làm, đang có nhu cầu làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.
Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội (BLĐTB-XH), cũng quy đinh:
“Người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao
động, có nhu cầu tìm kiếm việc làm nhưng không có việc làm”.
Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số người thất nghiệp và
tổng nguồn nhân lực. Thất nghiệp có thể được chia ra làm một số loại chính sau:
- Thất nghiệp tạm thời: là thất nghiệp xảy ra khi một số người lao động
đang trong thời kỳ tìm kiếm việc làm hoặc chờ làm ở nơi có việc làm tốt hơn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9
- Thất nghiệp cơ cấu: là thất nghiệp xảy ra khi có sự mất cân đối cung
cầu giữa các loại lao động, giữa các ngành nghề trong khu vực.
- Thất nghiệp do thiếu cầu: là thất nghiệp xảy ra khi mức cầu chung về
lao động giảm xuống, ngồn gốc chính là do sự suy giảm tổng cầu.
- Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: là loại thất nghiệp theo lý
thuyết cổ điển, xảy ra khi tiền lương được xác định không bởi các lực lượng
thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động.
Thất nghiệp cũng có thể chia thành thất nghiệp tự nguyện và thất
nghiệp không tự nguyện:
- Thất nghiệp tự nguyện: là loại thất nghiệp trong đó những người lao
động không quan tâm đến một số nghề mặc dù họ có đủ điều kiện để làm vì
họ có một phần vốn từ bên ngoài.
việc làm nhưng thời gian làm việc ít hơn mức chuẩn cho người có đủ việc làm
và mang lại thu nhập thấp hơn mức chuẩn mức nghèo đói quy định tại thời
điểm công bố. (Lưu Bình Nhưỡng,2001).
2.1.1.3.Tạo việc làm, việc làm mới
* Tạo việc làm
Tạo việc làm cho người lao động là phát huy, sử dụng tiềm năng sẵn có
của từng đơn vị, từng địa phương và của người lao động nhằm tạo ra những
công việc hợp lý, ổn định cho người lao động những công việc đó phải đem
lại thu nhập đảm bảo thoã mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần cho bản thân
người lao động và gia đình họ; phù hợp với đặc điểm tâm lý và trình độ
chuyên môn nghề nghiệp của bản thân người lao động.
Có thể hiểu tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào
làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo
ra hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường.
Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện để sản xuất là quá trình
người lao động làm việc. Người lao động làm việc không chỉ tạo ra thu nhập
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11
cho riêng họ mà còn tạo ra của cải, vật chất, tinh thần cho xã hội. Vì vậy, tạo
việc làm không chỉ là nhu cầu chủ quan của người lao động mà còn là yếu tố
khách quan của xã hội.
Việc hình thành việc làm thường là sự tác động giữa ba yếu tố:
- Nhu cầu thị trường
- Điều kiện cần thiết để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ:
+ Người lao động
+ Công cụ sản xuất
+ Đối tượng lao động
- Môi trường xã hội: xét cả góc độ kinh tế, chính trị, pháp luật, xã hội.
Người ta có thể mô hình hóa quy mô tạo việc làm theo phương trình sau:
Y = f ( C,V,X…)
cho các chương trình phát triển kinh tế, xã hội, giảm thuế để khuyến khích
phát triển sản xuất từ đó tạo việc làm mới. Đối với người lao động, để tham
gia được những việc làm mới phải không ngừng đào tạo nâng cao trình độ lao
động của mình.
2.1.1.4. Chuyển dịch cơ cấu lao động
- Chuyển dịch cơ cấu lao động là sự thay đổi qua thời gian về tỷ trọng
của từng bộ phận trong tổng số lao động theo một không gian, thời gian nào
đó và diễn ra theo một xu hướng nào đó (tăng lên, giảm đi…).
- Như vậy, chuyển dịch cơ cấu lao động là một khái niệm trong một
không gian và thời gian nhất định, làm thay đổi số lượng và chất lượng lao
động. Thực chất của chuyển dịch cơ cấu lao động là quá trình tổ chức và phân
công lại lực lượng lao động qua đó làm thay đổi quan hệ tỷ trọng giữa các bộ
phận của tổng thể.
- Do đặc điểm của nguồn lao động ở Việt Nam, nên chuyển dịch cơ cấu
lao động ở nước ta chủ yếu theo hướng chuyển lao động nông nghiệp, nông
thôn sang lao động công nghiệp, dịch vụ ở các thành thị và khu công nghiệp
cũng như ở ngay tại khu vực nông thôn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13
- Có thể xảy ra các dạng sau:
+ Nếu theo mức độ tích tụ, tập trung của các nguồn lực, thì trước tiên,
chuyển dịch cơ cấu lao động sẽ diễn ra từ chỗ lấy việc tập trung lao động làm
chính, chuyển sang chủ yếu lấy việc tập trung vốn làm yếu tố kích thích sản
xuất, rồi sau đó tiếp tục chuyển sang một giai đoạn mới cao hơn là lấy việc
tập trung kỹ thuật làm nội dung cơ bản để chuyển dịch lao động.
+ Nếu theo khả năng tiếp nhận thành quả của cách mạng khoa học kỹ
thuật thì chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra trước tiên từ chỗ lấy khả năng
giải quyết việc làm cho lao động là chính, sang giai đoạn lấy việc nâng cao
trình độ nhận thức và kỹ năng làm việc cho lao động làm mục tiêu cơ bản.
+ Nếu theo mức độ gia tăng của giá trị đầu ra, chuyển dịch cơ cấu lao
2.1.2 Đặc điểm lao động, việc làm ở nông thôn
Khu vực nông thôn của nhiều nước đang phát triển trên thế giới nói
chung và của nước ta nói riêng có đặc điểm chung là dân số tăng nhanh, cấu
trúc dân số trẻ dẫn đến nguồn lao động tăng hàng năm với tốc độ cao. Vì vậy,
khả năng tạo việc làm của nền kinh tế luôn thấp hơn nhu cầu việc làm của dân
số. Trong khi công nghiệp và ngành nghề ở các địa phương chỉ thu hút thêm
được một số lượng không nhiều.
Sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực tạo việc làm truyền thống và thu hút
nhiều lao động của cư dân nông thôn, nhưng bị giới hạn bởi diện tích đất canh
tác vốn rất hạn hẹp và có xu hướng giảm dần do quá trình đô thị hóa và công
nghiệp hóa đang phát triển mạnh ở các nước. Điều đó đã hạn chế rất lớn đến
khả năng giải quyết việc làm ở nông thôn. Trong giai đoạn bắt đầu phát triển,
tình hình khan hiếm đất canh tác nông nghiệp tất yếu gây nên tình trạng thiếu
việc làm cho lao động ở nông thôn, vì đại bộ phận lao động nông thôn làm
nông nghiệp. Nếu tình trạng dân số còn gia tăng, thị sự khan hiếm đất nông
nghiệp càng trầm trọng thêm, đưa đến hậu quả ngày càng thiếu việc làm cho
lao động nông nghiệp nếu lực lượng này không được chuyển dần sang khu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15
vực sản xuất khác.
Sản xuất nông nghiệp luôn chịu sự tác động và chi phối mạnh mẽ của
các quy luật và các điều kiện tự nhiên: đất đai, thời tiết, khí hậu, sinh
vật…quá trình sản xuất mang tính thời vụ cao, thu hút lao động không đồng
đều, chỉ tập trung chủ yếu vào thời vụ gieo trồng và thu hoạch, thời gian còn
lại là rỗi rãi.
Trong thời kỳ nông nhàn, một bộ phận lao động nông thôn thường
chuyển sang làm các công việc phi nông nghiệp hoặc đi sang các địa phương
khác hành nghề tăng thu nhập. Tình trạng lao động nông nhàn cùng với thu
nhập thấp trong sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân đầu tiên gây nên hiện
tượng di chuyển lao động trong nông nghiệp mang tình thời vụ để tìm kiếm