Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn xã Việt Xuân, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 22

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi. Số liệu và
kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được sử dụng trong bất cứ một
học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đều
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc. Và trong quá trình thực hiện đề tài tại địa phương tôi luôn chấp
hành và thực hiện đúng mọi quy định của địa phương nơi tôi thực tập.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên thực hiện khoá luận
Trần Đình Biển
11
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp đại học,
ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của
các cá nhân trong và ngoài trường.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo
trong khoa Kinh tế và phát triển nông thôn cùng các thầy cô giáo trong trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã dìu dắt, dạy dỗ tôi trong quá trình học tập tại
trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo – CN
Đồng Thanh Mai, người đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian và tâm
huyết đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ UBND xã Việt Xuân,
huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, cùng toàn thể các hộ gia đình và người
lao động trên địa bàn xã đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt
nội dung đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm động viên,
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn khoá luận tốt nghiệp của
mình.
Trong quá trình thực hiện đề tài vì nhiều lý do chủ quan và khách quan

phần hệ thống lý luận và thực tiễn việc làm lao động nông thôn, đánh giá thực
trạng việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn xã Việt Xuân, phân tích
các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn xã
Việt Xuân, đề xuất phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao
33
động nông thôn trên địa bàn xã Việt Xuân.
Nhằm làm rõ mục tiêu đề ra, đối tượng nghiên cứu của đề tài là lao
động, việc làm cho lao động trên địa bàn xã Việt Xuân.
Chúng ta cần nắm bắt rõ cơ sở lý luận của đề tài, giúp hiểu sâu hơn về
đối tượng cần nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi đưa ra một số khái niệm cơ bản
về lao động nông thôn như sau: Việc làm, việc làm nông thôn, người có việc
làm, tạo việc làm, lao động, lao động nông thôn, đăc điểm của việc làm nông
thôn, đặc điểm của lao động nông thôn
Cùng với những lý luận này, nghiên cứu còn đề cập và làm sáng tỏ
những vấn đề như lý luận về giải quyết việc làm cho nông thôn và ý nghĩa tạo
việc làm cho lao động nông thôn, các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho
lao động nông thôn.
Như chúng ta đã biết, lý luận luôn gắn liền với thực tiễn, là cơ sở để ta
tìm hiểu thực tiễn của vấn đề rõ hơn, sâu sắc hơn. Chúng tôi đã đưa ra cơ sở
thực tiễn như sau: Kinh nghiệm của một số nước về giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn,thực trạng phát triển việc làm cho lao động nông thôn tại
Việt Nam, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc giải quyết
việc làm cho lao động nông thôn, kết quả giải quyết việc làm của một số địa
phương trong nước
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trên, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn tại điạ bàn
xã Việt Xuân, qua đó có một số vấn đề nổi bật như sau: Thưc trạng giải quyết
việc làm trên địa bàn xã Việt Xuân, phân tích đưa ra các kết quả đã đạt được
và những hạn chế, từ đó đưa ra các giải pháp giải quyết việc làm cho lao đọng
trên địa bàn xã Việt Xuân. Chất lượng lao động của xã hiện nay còn thấp, chủ

giải quyết việc làm
55
- Giải pháp 2: Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất để phát triển và tạo ra
việc làm mới
- Giải pháp 3: Tổ chức đào tạo và giới thiệu việc làm
- Giải pháp 4: Phát triển các ngành nghề kinh tế
- Giải pháp 5: Tăng số lượng xuất khẩu lao động
- Giải pháp 6: Quan hệ hợp tác
Khóa luận đã đưa ra các giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm và tạo
cơ hội có việc làm cho người lao động nông thôn trong xã bây giờ và trong
tương lai. Những giải pháp này nhằm mục đích nâng cao chất lượng nguồn lao
động để họ có cơ hội tham gia vào thị trường lao động trong và ngoài nước.
Trên cơ sở đó thì chúng tôi đưa ra kiến nghị đối với tỉnh, huyện và địa
phương nhằm góp phần giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn
trên địa bàn xã.
66
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
77
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQ Bình quân
BCH Ban chấp hành
CC Cơ cấu
CN – TTCN Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
TM – DV Thương mại – dịch vụ
CCB Cựu chiến binh
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
GDP Gross Domestic Product
GTSX Gía trị sản xuất
Ha Héc ta

13,4% trong số này được đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Đây là thách thức lớn
đối với chính lao động nông thôn cũng như các nhà làm chính sách trước yêu
cầu CNH, HĐH nông thôn.
Nhìn chung, tình hình giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao
động ở nông thôn ở nước ta thời gian qua đã đạt được một số kết quả nhất
định tuy nhiên vẫn còn tồn tại khá nhiều hạn chế. Lao độ vẫn ở trình độ thấp,
sử dụng máy móc còn thủ công và lạc hậu. Năng suất sản xuất tại nhiều ngành
nghề chưa cao, lao động không lành nghề dễ trở nên thất nghiệp. Vì vậy cần
phải có các giải pháp phù hợp giải quyết việc làm cho lao động nhằm chuyển
dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực hơn.
99
Xã Việt Xuân thuộc huyện Vĩnh Tường của tỉnh Vĩnh Phúc là nơi có
sự chuyển dịch về cơ cấu lao động lớn trong những năm qua. Và đã tạo ra rất
nhiều công việc cho lao động trên địa bàn xã. Tuy nhiên ở xã vẫn tồn tại
những khó khăn về giải quyết việc làm cho lao động như : chưa có những
chính sách khuyến khích để giúp người lao động có những suy nghĩ tích cực
để tìm kiếm và tạo ra những việc làm mới,ít được đầu tư cơ sở hạ tầng,và đào
tạo các ngành nghề cho các lao động chưa có việc làm còn ít. Để đánh giá cụ
thể về sự chuyển dịch lao động tại xã như thế nào, giải quyết việc làm cho lao
động ở xã đang ở mức độ nào,và những chính sách cụ thể về việc giải quyết
việc làm cho lao động tại xã, chúng tôi lựa chọn đề tài: “ Giải quyết việc làm
cho lao động nông thôn tại địa bàn xã Việt Xuân- Vĩnh Tường- Vĩnh Phúc”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu và tìm hiểu về thực trạng giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn trên địa bàn xã Việt Xuân, phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, từ đó đưa ra các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
trên địa bàn xã.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể

nguồn lực của mình, con người cò thể tham gia đóng góp cho xã hội.
Việc làm là một khái niệm phức tạp, nó gắn với hoạt động thực tiễn
của con người Vì vậy để hiểu rõ việc làm chúng ta phải hiểu rõ người có
việc làm. Người có việc làm là những người trong độ tuổi lao động và đang
có việc làm ở các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội ( Bộ luật lao động, 2006).
Việc làm là một hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu
nhập hoặc tạo điều kiện tăng thu nhập cho người lao động, gia đình hoặc cộng
đồng (Chu Quang Tiến, 2001).
Việc làm trong bộ luật lao động Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam điều 13 chương II quy định: “Mọi hoat động tạo ra nguồn thu nhập
không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” ( Bộ luật lao động,
2006)
Theo quan điểm của Mác: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp
giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết như vốn, tư liệu sản xuất, công
nghệ,… để sử dụng sức lao động đó” ( Các Mác, 1984).
Một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn:
+ Hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và
các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ ra tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu
thức tạo ra thu nhập của việc làm.
+ Hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Điều này chỉ ra tính pháp
lý của việc làm, quan điểm đó rõ rang hơn so với quan điểm của tổ chức ILO.
Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, hành nghề và hoàn toàn phù hợp
với sự phát triển thị trường lao động ở VN trong quá trình phát triển nền kinh
tề nhiều thành phần.
Nhận thức về việc làm ngày càng mang tính tích cực và đổi mới hơn,
nếu như trước đây người ta cho rằng chỉ có việc trong xí nghiệp quốc doanh
và biên chế nhà nước mới là ổn định, là lâu dài. Thì suy nghĩ bây giờ đã rất
1212
đổi mới, những người lao động sẵn sang tìm và làm các ngành nghề nào cần
thiết cho xã hội. Cùng với đó là sự thay đổi trong quan niệm của nhà nước

Riêng với những người trong tuần lễ tham khảo không có việc làm vì
các lý do bất khả kháng hoặc do nghỉ ốm, bị thai sản, nghỉ phép, nghỉ hè, đi
học có hưởng lượng, nhưng trước đó họ đã có một công việc nào đó với thời
gian thực tế làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người được coi là
có việc làm và họ sẽ tiếp tục trở lại chia làm việc bình thường sau thời gian
tạm nghỉ, vẫn được tính là người có việc làm.
Căn cứ vào chế độ làm việc, thời gian thực tế và nhu cầu làm thêm của
người được xác định là có việc làm trong tuần lễ trước điều tra. Người có việc
làm chia thành hai nhóm: Người đủ việc làm và người thiếu việc làm.
- Người đủ việc làm: Là người có số giờ làm việc trong tuần lễ tham
khảo lớn hơn hoặc bằng 36 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm, hoặc có số
giờ làm việc nhỏ hơn 36 tiếng nhưng bằng hoặc lớn hơn số giờ quy định đối
với người làm các công việc nặng nhọc, độc hại.
- Người thiếu việc làm: Là người có số thời gian làm việc trong tuần lễ
tham khảo dưới 36 giờ, hoặc ít hơn giờ chế độ quy định đối với các công việc
nặng nhọc, độc hại, có nhu cầu làm thêm giờ và sẵn sàng làm việc khi có việc.
2.1.1.4 Tạo việc làm
Tạo việc làm cho người lao động là giải quyết việc làm bằng nhiều
cách khác nhau.Khi tạo việc làm cho người lao động chúng ta sẽ tận dụng
được tối đa lực lượng lao động. Mục đích tạo ra việc làm cho những thất
nghiệp không có việc làm để nâng cao thu nhập cho lao động.
* Có những biện pháp giải quyết việc làm cơ bản.
- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
- Phát triển tiểu thủ công nghiệp
1414
- Phát triển các ngành nghề truyền thống
- Cho các hộ vay vốn để sản xuất kinh doanh
2.1.2 Cơ sở lý luận về lao động nông thôn
2.1.2.1 Lý luận về lao động

- Lao động là phương thức tồn tại của con người, nó gắn liền với lợi ích
của con người, bao gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần.
- Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường như hiện nay thì lao động được xem trên khía cạnh năng
suất và chất lượng, hiệu quả gắn với trách nhiệm người lao động. Lao động
phải đem lại lợi ích cho bản thân người lao động và xã hội, đáp ứng nhu cầu
xã hội và đảm bảo cuộc sống của mình.
Lao động hiểu theo nghĩa rộng là con người, là lực lượng tham gia vào
lao động bỏ sức lực ra để nhận lại mức tiền lương cho mình.
 Phân loại lao động
* Lao động giản đơn và lao động phức tạp:
- Lao động giản đơn: Là lao động không qua đào tạo, huấn luyện
chuyên môn.
- Lao động phức tạp: Là lao động đã qua đào tạo, huấn luyện về chuyên
môn.
* Lao động cụ thể và lao động trừu tượng:
- Lao động cụ thể: Là lao động nhằm mục đích cụ thể, lao động tạo ra
giá trị sử dụng.
- Lao động trừu tượng: Là lao động xã hội, tính chất xã hội biểu hiện ra
qua quá trình trao đổi.
* Lao động sống và lao động quá khứ:
1616
- Lao động sống: Là hoạt động của lao động, là sự hao phí về trí lực và
thể lực, có mục đích của con người.
- Lao động quá khứ: Là lao động thể hiện trong tư liệu sản xuất và các
sản phẩm phục vụ cho con người.
2.1.2.2 Lao động nông thôn
Dân số vùng nông thôn đông và tỷ lệ lao động nông thôn rất cao, lao
động nông thôn nông nghiệp luôn chiếm khoảng ¾ lao động cả nước nhưng
nguồn nhân lực này chưa phát huy hết tiềm năng chủ yếu là do trình độ lao

năm.
Khả năng giải quyết việc làm rất hạn chế: Sản xuất nông - nông - ngư
nghiệp là lĩnh vực tạo việc làm truyền thống và thu hút nhiều lao động của cư
dân nông thôn, nhưng bị giới hạn bởi diện tích đất canh tác vốn rất hạn hẹp và
có xu hướng giảm dần do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang phát
triển. Điều đó hạn chế khả năng giải quyết việc làm ở nông thôn.
Thứ hai, việc làm trong nông nghiệp thường mang tính thời vụ cao: Sản
xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ của các quy luật
sinh học và các điều kiện tự nhiên của từng vùng. Do đó quá trình sản xuất
mang tính thời vụ cao, thu hút lao động không đồng đều, tạo ra việc làm thời
vụ, trong ngành trồng trọt việc làm được tạo ra vào thời điểm gieo trồng và
thu hoạch, thời gian còn lại lao động không có việc làm. Đó là thời điểm nông
nhàn trong nông thôn.
Việc làm dễ dàng thay đổi: Trong thời kỳ nông nhàn, một bộ phận lao
động nông thôn kiếm việc làm bằng cách chuyển sang làm các công việc phi
nông nghiệp hoặc đi sang các địa phương khác hành nghề để tăng thêm thu
nhập. Tình trạng thời gian nông nhàn cùng với thu nhập thấp là nguyên nhân
đầu tiên gây nên hiện tượng di chuyển lao động trong nông thôn từ vùng này
sang vùng khác, từ nông thôn ra thành thị, tạm thời hoặc lâu dài.
1818
Thứ ba, việc làm khu vực nông thôn thường bắt nguồn từ lao động kinh tế
hộ gia đình. Đó là các hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp.Các
thành viên trong gia đình có thể chuyển đổi, thay thể để cùng thực hiện công
việc.Vì vậy, việc chú trọng thúc đẩy phát triển các hoạt động khác nhau của kinh
tế hộ gia đình là một trong những biện pháp tạo việc làm có hiệu quả ở nông
thôn.
Thứ tư, việc làm ở nông thôn chủ yếu là trong lĩnh vực nông nghiệp:
Làm nông nghiệp vẫn là hoạt động chính tạo ra việc làm cho người nông dân.
Sản xuất thủ công nghiệp nông thôn là hoạt động phi nông nghiệp với một số
nghề thủ công được lưu truyền từ đời này qua đời khác trong từng gia đình,

sản xuất. Đối với ngành trồng trọt việc làm chỉ tập trung chủ yếu vào thời
điểm gieo trồng và thu hoạch, thời gian còn lại là rỗi rãi, đó là lao động nông
nhàn trong nôn thôn. Trong thời kỳ nông nhàn, một bộ phận lao động nông
thôn thường chuyển sang làm các công việc phi nông nghiệp hoặc đi sang các
địa phương khác hành nghề để tăng thu nhập. Tình trạng thời gia nông nhàn
cùng với thu nhập trong sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân đầu tiên gây
nên hiện tượng di chuyển lao động nông thôn từ vùng này sang vùng khác, từ
nông thôn ra thành thị (Trần Thị Hằng, 2012).
- Lao động nông thôn ít chuyên sâu, trình độ thấp hơn so với trong
công nghiệp: Trong sản xuất nông nghiệp có nhiều loại công việc mang tính
chất khác nhau, một lao động có thể làm được nhiều việc và nhiều lao động
chuyên sâu hơn lao động công nghiệp. Hơn nữa, phần lớn lao động trong
nông nghiệp là chính, nguồn lao động chất xám không nhiều và lại phân bố
không đều. Vì thế mà làm cho hiệu suất lao động thấp, khó khăn trong việc
đưa khoa học kỹ thuật vào trong nông thôn (Trần Thị Hằng, 2012).
2020
- Lao động trong nông thôn có việc làm không ổn định và rất đa dạng:
Hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra trên phạm vi không gian rộng lớn lại
luôn phụ thuộc vào các yếu tố về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng và các dịch
vụ sản xuất. Bởi vậy, rủi ro có thể xảy ra đối với họ bất cứ lúc nào. Do đó, mà
công việc của người lao động thường không ổn định và rất bấp bênh. Có lúc
thì thừa việc song có lúc lại thiếu việc làm (Trần Thị Hằng, 2012).
- Lao động thường thụ động trong công việc: Việc làm trong nông
nghiệp, nông thôn thường là những công việc giản đơn, thủ công, ít đòi hỏi
tay nghề cao, tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai và tư liệu cầm tay, dễ học hỏi,
dễ chia sẻ. Vì vậy, khả năng thu động lao động cao, nhưng sản phẩm làm ra
chất lượng thấp và mẫu mã thường đơn điệu, năng suất lao động thấp nên thu
nhập bình quân của lao động nông thôn nói chung không cao. Ở nông thôn, có
một số lượng khá lớn công việc tại nhà không định thời gian như: trông nhà,
trông con cháu, nội trợ,… Có tác dụng hỗ trợ tích cực tăng thêm thu nhập cho

2.1.4.2 Đào tạo nghề và dạy nghề
Phương hướng chung là không đào tạo tràn lan, mà phải đào tạo phù
hợp với nhu cầu của lao động tại từng địa phương (huyện, tỉnh), có kết nối với
chương trình việc làm quốc gia. Phương hướng này được triển khai thông qua
các hoạt động sau:
Một là, xây dựng và triển khai dự án (hay chương trình) về đào tạo nghề cho
những người thuộc diện thu hồi đất để phát triển công nghiệp và đô thị
Đây là một giải pháp có tính cấp bách, cần được triển khai thống nhất
từ Trung ương đến địa phương để tránh tình trạng người dân sau khi nhận tiền
đền bù ruộng đất phải lâm vào tình trạng thất nghiệp và không có thu nhập; từ
đó phát sinh nhiều hệ lụy về mặt xã hội. Mấu chốt là từ khâu quy hoạch, cấp
phép đầu tư cho đến xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài “hàng rào” các
2222
khu công nghiệp, khu đô thị mới, phải có kinh phí cho việc đào tạo nghề đối
với người dân bị thu hồi đất.
Hai là, tiếp tục đào tạo nghề theo các chương trình khuyến nông, khuyến lâm,
khuyến ngư
Đây là các hình thức đào tạo đã khá ổn định, cần tiếp tục mở rộng đối
tượng tham gia và nâng cao chất lượng đào tạo. Trong đó, rất cần thu hút
những người tham gia đào tạo vào mạng lưới tiêu thụ sản phẩm. Bởi chỉ bảo
đảm được “đầu ra” người học mới thực hành nghề được đào tạo. Và nhờ đó
những người làm công ăn lương ở nông thôn có thể phát triển được kinh tế
gia đình, giảm cường độ và mức độ làm thuê.
Ba là, hỗ trợ đào tạo nghề theo chiến lược xuất khẩu, kể cả hỗ trợ đào tạo
nghề để tham gia xuất khẩu lao động
Nền nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nước ta nói chung đã và sẽ
tiếp tục hướng về xuất khẩu. Do đó, đào tạo nghề theo chiến lược xuất khẩu là
một phương hướng thực hành nghề rất quan trọng cho lao động nông
thôn.Ngay lĩnh vực xuất khẩu lao động, cũng có nhiều những chính sách
khuyến khích và phát triển . Trong đó có những chính sách: hỗ trợ người lao

lao động dư thừa. Thực hiện tốt các chính sách, áp dụng những ưu đãi khuyến
khích cho người lao động khi tham gia đi xuất khẩu lao động nước ngoài để
từ đó nâng cao việc giải quyết việc làm cho lao động nông thôn .
2.1.5 Ý nghĩa tạo việc làm cho lao động nông thôn
2.1.5.1 Về mặt kinh tế
 Đối với cá nhân và gia đình
Người lao động ở mọi trình độ, được đào tạo và không qua đào tạo họ
đều mong muốn có được công việc ổn định phù hợp với khả năng lao động
của họ và đáp ứng được phần nào nhu cầu tiêu dùng và mức sống. Các biện
pháp giải quyết việc làm là hướng vào mục tiêu đó.
2424
Người lao động nói chung có việc làm, có thu nhập phù hợp để trang
trải trong cuộc sống hàng ngày và chăm sóc gia đình thì họ sẽ yên tâm làm
việc, chú trọng vào công việc để công việc đạt hiệu quả cao nhất, nâng cao
trình độ tay nghề tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng ngày càng cao và gia tăng
thu nhập cho bản thân (Ngô Thị Hồng Nhung, 2013)
 Đối với địa phương
Một trong những điểm mạnh của một địa phương khi được nhìn vào đó
là việc làm và thu nhập của người lao động trên địa phương đó ra sao. Vì vậy,
khi lao động nông thôn trên địa bàn địa phương được giải quyết tốt thì nó có
đóng góp rất lớn vào nền kinh tế chung của địa phương đó. Và nó sẽ giúp
giảm được tình trạng thất nghiệp, từ đó sẽ giảm thiểu được các tệ nạn xã hội
trên địa bàn.
 Đối với nền kinh tế quốc dân
Tạo việc làm là vấn đề được đặt ra ở nhiều quốc gia, kể cả các nước
phát triển và đang phát tiển.Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với một bộ
phận dân cư, những người thiếu việc làm và thất nghiệp mà quan trọng hơn,
nó tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Ở Việt Nam hiện nay, tạo việc làm cho người lao động trước hết sẽ tạo
điều kiện để khai thác được tối đa những nguồn lực quan trọng còn đang tiềm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status