Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn xã việt xuân, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc - Pdf 22

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi. Số liệu và
kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được sử dụng trong bất cứ một
học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đều
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc. Và trong quá trình thực hiện đề tài tại địa phương tôi luôn chấp
hành và thực hiện đúng mọi quy định của địa phương nơi tôi thực tập.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên thực hiện khoá luận
Trần Đình Biển
i
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp đại học,
ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của
các cá nhân trong và ngoài trường.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo
trong khoa Kinh tế và phát triển nông thôn cùng các thầy cô giáo trong trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã dìu dắt, dạy dỗ tôi trong quá trình học tập tại
trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo – CN
Đồng Thanh Mai, người đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian và tâm
huyết đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ UBND xã Việt Xuân,
huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, cùng toàn thể các hộ gia đình và người
lao động trên địa bàn xã đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt
nội dung đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm động viên,
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn khoá luận tốt nghiệp của
mình.
Trong quá trình thực hiện đề tài vì nhiều lý do chủ quan và khách quan

phần hệ thống lý luận và thực tiễn việc làm lao động nông thôn, đánh giá thực
trạng việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn xã Việt Xuân, phân tích
các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn xã
Việt Xuân, đề xuất phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao
iii
động nông thôn trên địa bàn xã Việt Xuân.
Nhằm làm rõ mục tiêu đề ra, đối tượng nghiên cứu của đề tài là lao
động, việc làm cho lao động trên địa bàn xã Việt Xuân.
Chúng ta cần nắm bắt rõ cơ sở lý luận của đề tài, giúp hiểu sâu hơn về
đối tượng cần nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi đưa ra một số khái niệm cơ bản
về lao động nông thôn như sau: Việc làm, việc làm nông thôn, người có việc
làm, tạo việc làm, lao động, lao động nông thôn, đăc điểm của việc làm nông
thôn, đặc điểm của lao động nông thôn
Cùng với những lý luận này, nghiên cứu còn đề cập và làm sáng tỏ
những vấn đề như lý luận về giải quyết việc làm cho nông thôn và ý nghĩa tạo
việc làm cho lao động nông thôn, các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho
lao động nông thôn.
Như chúng ta đã biết, lý luận luôn gắn liền với thực tiễn, là cơ sở để ta
tìm hiểu thực tiễn của vấn đề rõ hơn, sâu sắc hơn. Chúng tôi đã đưa ra cơ sở
thực tiễn như sau: Kinh nghiệm của một số nước về giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn,thực trạng phát triển việc làm cho lao động nông thôn tại
Việt Nam, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc giải quyết
việc làm cho lao động nông thôn, kết quả giải quyết việc làm của một số địa
phương trong nước
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trên, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn tại điạ bàn
xã Việt Xuân, qua đó có một số vấn đề nổi bật như sau: Thưc trạng giải quyết
việc làm trên địa bàn xã Việt Xuân, phân tích đưa ra các kết quả đã đạt được
và những hạn chế, từ đó đưa ra các giải pháp giải quyết việc làm cho lao đọng
trên địa bàn xã Việt Xuân. Chất lượng lao động của xã hiện nay còn thấp, chủ

giải quyết việc làm
v
- Giải pháp 2: Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất để phát triển và tạo ra
việc làm mới
- Giải pháp 3: Tổ chức đào tạo và giới thiệu việc làm
- Giải pháp 4: Phát triển các ngành nghề kinh tế
- Giải pháp 5: Tăng số lượng xuất khẩu lao động
- Giải pháp 6: Quan hệ hợp tác
Khóa luận đã đưa ra các giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm và tạo
cơ hội có việc làm cho người lao động nông thôn trong xã bây giờ và trong
tương lai. Những giải pháp này nhằm mục đích nâng cao chất lượng nguồn lao
động để họ có cơ hội tham gia vào thị trường lao động trong và ngoài nước.
Trên cơ sở đó thì chúng tôi đưa ra kiến nghị đối với tỉnh, huyện và địa
phương nhằm góp phần giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn
trên địa bàn xã.
vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii
DANH MỤC BẢNG xvii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xviii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

- Số liệu thứ cấp: Đề tài thu thập nguồn tài liệu đã công bố bao gốm: nguồn tài liệu
từ sách báo, tạp chí, công trình nghiên cứu, số liệu của tổng cục thống kê, cùng với số
liệu thống kê và tài liệu của địa phương đã công bố trong 3 năm 2011,2012,2013 46
Với những số liệu này sẽ giúp cho em viết phần cơ sở lí luận và thực tiễn cho đề tài,
bao gồm một số nội dung như sau: Dân số, lao động, điều kiên cơ sở hạ tầng,tình hình
phát triển kinh tế…của xã Việt Xuân 46
3.2.3 Phương pháp xử lý dữ liệu 46
3.2.4 Phương pháp phân tíchdữ liệu 46
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
4.1 Thực trạng việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn xã Việt Xuân 47
4.2 Thực trạng về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn xã Việt Xuân
59
4.2.1 Thực trạng phát triển các ngành nghề kinh tế 59
Chính quyền địa phương cần đầu tư và từng bước phát triển các ngành nghề kinh tế sản
xuất trên địa bàn xã để nâng cao thu nhập cho người lao động nông thôn. Mở rộng quy
mô sản xuất để tạo thêm nhiều việc làm và sử dụng sức lao động của người lao động
trên địa bàn xã. Từ đó tạo ra nhiều việc làm mới hơn nữa cho lao động nông thôn để
góp phần giải quyết việc làm cho lao động trên địa bàn xã Việt Xuân 59
4.2.1.1 Phát triển ngành kinh tế nông nghiệp 59
Chúng ta đang ở trong quá trình CNH-HĐH đất nước vậy nên xu hướng kinh tế sản
xuất phần lớn đang chuyển sang các ngành CN-DV. Các vùng sản xuất nông nghiệp
đang dần bị thu hẹp mất diện tích đất, cùng với đó là sự tiến bộ của KH-KT ngày càng
sử dụng đến nhiều máy móc để thay sức lao động là chính. Vậy nên ta thấy ngành nông
nghiệp ngày càng có mức sản xuất thấp đi, số lao động trong ngành cũng ngày một ít đi
và có nguy cơ bị thất nghiệp. Vậy nên chúng ta cần mở thêm mới những hoạt động, lĩnh
vực trong ngành nông nghiệp mà đang có xu hướng phát triển để tạo ra những việc làm
mới. Quan sát bảng 4.5 ta thấy tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp trên địa bàn
xã năm 2011 là 15,97 tỷ đồng, trong đó trồng trọt chiếm 57,17% với 9,13 tỷ đồng và
chăn nuôi sản xuất ra 6,84 tỷ đồng chiếm 42,43% trong tổng cơ cấu sản xuất nông
nghiệp. Đến năm 2012 thì ngành nông nghiệp có xu hướng sản xuất giảm còn 15,64 tỷ

thể thấy được giá trị sản xuất của ngành TM-DV tăng lên theo mỗi năm cả về cơ cấu và
số lượng, năm 2011 giá trị sản xuất của ngành đạt 52,67 tỷ đồng và chiếm đến 70,58%
trong cơ cấu tổng giá trị thu nhập của xã. Đến năm 2012 mức sản xuất đã tăng lên 61,04
tỷ đồng chiếm 73,37% trong tổng cơ cấu sản xuất. Đến năm 2013 ngành này vẫn có mức
sản xuất tăng rất mạnh mẽ và đáng mừng, ngành TM-DV đã đạt được 72,63 tỷ đồng và
chiếm 75,01% trong tổng giá trị sản xuất của toàn xã. Bên cạnh đó thì ngành TTCN-XD
cũng tăng dần theo mội năm, năm 2011 ngành này đạt 5,98 tỷ đồng và chiếm 8,01%
trong cơ cấu sản xuất, đến năm 2013 ngành TTCN-XD đã đạt 9,08 tỷ đồng và chiếm
9,37 % trong tổng cơ cấu sản xuất của xã 62
(Nguồn: Ban thống kê xã Việt Xuân 2014) 64
Bình quân qua 3 năm ngành TTCN-XD có tốc độ phát triển đạt 121,58% và ngành TM-
DV có tốc độ phát triển bình quân là 117,44%, đây là những kết quả khá tốt mà xã đã
đạt được. Các ngành này đã mở rộng và có quy mô lớn tạo ra rất nhiều những công việc
cho người lao động trên địa bàn. Cần phát huy và làm tốt hơn nữa để những ngành nghề
này tạo ra nhiều giá trị sản xuất hơn và nhất là tạo ra nhiều việc làm hơn, để giải quyết
việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn xã 65
4.2.2 Đào tạo nghề, việc làm cho lao động nông thôn 65
Qua bảng số liệu trên ta nhận thấy những lao động được điều tra đều được biết đến
các chương trình cũng như chủ trương đào tạo nghề của địa phương và nhà nước
thông qua các cách tuyên truyền khác nhau. Hầu hết lao động được biết đên các
chương trình này từ các cán bộ tuyên truyền của địa phương. Đây là một điều đáng
mừng và cần được phát huy hơn nữa, cần được tuyên truyền một cách thuyết phục để
không những người lao động biết đến các chương trình này mà họ còn tích cực tham
gia vào các lớp đào tạo việc làm này 66
4.2.2.3 Chương trình và phương pháp tổ chức đào tạo nghề 66
Qua số liệu điểu tra ở bảng 4.9 dưới đây thì hầu hết đánh giá của lao động được điều
tra trên địa bàn đều cho rằng những chương trình đào tạo nghề, các lớp tập huấn cho
lao động nông thôn đều mang lại những lợi ích nhất định về thu nhập và giải quyết
việc làm. Trong tất cả các ý kiến đánh giá thì không có ý kiến nào cho rằng đào tạo
nghề là không phù hợp với nhu cầu lao động. Trong số 80 lao động được điều tra có

cho rằng các khóa đào tạo là tốt và phục vụ được cho quá trình giải quyết việc làm,
tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số lao động thấy rằng khóa đào tạo có nội dung
chưa tốt với 9 lao động được điều tra cho ý kiến như vậy. 70
4.2.2.4 Tình hình tham gia các lớp đào tạo của lao động 70
4.2.2.4 Tình hình ứng dụng của các lớp đào tạo 72
Để đầu tư mở được các lớp dạy nghề, đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã là rất
khó, tuy nhiên để các lớp, các chương trình đào tạo này mang lại hiệu quả lại là một
chuyện khó hơn. Không những hiệu quả trong quá trình giảng dạy, truyền đạt nghề,
mà điều quan trọng là cần đến hiệu quả, sự ứng dụng của các lớp đào tạo đến người
lao động sau khi theo học để họ áp dụng vào quá trình sản xuất, chế biến. Trong 200
lao động được điều tra thì chỉ có đến 30 lao động đã tham gia vào lớp chuyển giao kỹ
thuật, 13 lao động tham gia vào các khóa tham quan mô hình sản xuất. Dưới đây là ý
kiến đánh giá tính ứng dụng của các lao động điều tra đã tham gia học 72
Bảng: 4.12 Đánh giá ứng dụng của các lớp đào tạo vào sản xuất 73
Nội dung 73
Không ứng dụng được 73
Ứng dụng được một phần 73
Ứng dụng hiệu quả 73
Số lượng (người) 73
Cơ cấu 73
(%) 73
Số lượng ( người) 73
x
Cơ cấu (%) 73
Số lượng (người) 73
Cơ cấu (%) 73
Lớp tập huấn KT 73
30 73
8 73
26,67 73

nhận biết của học viên còn hạn chế, các học viên còn chưa đánh giá, ý thức được tầm
quan trọng của các chương trình đào tạo vào trong sản xuất,cũng như giải quyết việc
làm 73
4.2.3 Xuất khẩu lao động và liên doanh với các công ty, doanh nghiêp 74
Một phần quan trọng không thể thiếu trong việc giải quyết việc làm là tư vấn hướng
nghiệp cho người lao động đi tham gia xuất khẩu lao động và đi lao động cho các
doanh nghiệp, công ty trên địa bàn và các địa bàn lân cận. Trong những năm qua xã
luôn có những chủ trương tư vấn lao động đi lao động nước ngoài, có văn phòng tư
vấn lao động cho người dân, có những tổ chức liên kết chính thức với chính quyền các
cấp trên như hội nông dân, đã tổ chức liên kết đi xuất khẩu lao động với các công ty
và trung tâm uy tín. Băng chứng cho thấy số lao động tham gia đi lao động nước
xi
ngoài trên địa bàn xã ngày một tăng, nó đã giúp giải quyết được việc làm cho một số
lao động trên địa bàn, và nâng cao thu nhập cho họ, cũng thư tổng giá trị sản xuất trên
địa bàn 74
Qua bảng số liệu ta thấy số lượng lao động tham gia xuất khẩu trên địa bàn xã tăng
lên theo mỗi năm. Năm 2011 trong tổng số 2517 lao động thì có 33 lao động tham gia
xuất khẩu, đạt 1,31%, đến năm 2012 thì số lao động đi xuất khẩu đã tăng lên 39 lao
động và đến năm 2013 thì có 1,64% lao động đi xuất khẩu nước ngoài với số lao động
là 42 người. Qua số liệu ta thấy số lao động đi xuất khẩu ngày một tăng vì đây là một
môi trường thuận lợi và có thu nhập tốt. Tuy nhiên so với tổng số lao động thì số
người đi xuất khẩu lao động vẫn còn ít, chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng lực lượng lao động
hàng năm. Như vậy số lao động được đưa đi xuất khẩu lao động tăng trong giai đoạn
2011-2013 còn chưa tương xứng với tiềm năng. Cần có những chính sách tuyên
truyền để khuyến khích người lao động tham gia xuất khẩu lao động để giải quyết
việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn xã Việt Xuân 75
Bên cạnh đó thì trên địa bàn xã cũng có 1 nhà máy sản xuất gạch men, và nhà máy
nước sạch đang được đưa vào xây dựng, và những địa bàn lân cận trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc, cũng như địa bàn TP Việt Trì tỉnh Phú Thọ có rất nhiều khu công nghiệp,
nhà máy có yêu cầu lượng công nhân rất lớn. Người dân lao động trên địa bàn nhận

Chúng tôi tự tìm kiếm việc làm ở các công ty, doanh nghiệp để có việc mà làm và
kiếm thêm tiền còn chi tiêu, tự đi nộp hồ sơ và xin làm công nhân, chứ không được hỗ
trợ gì từ chính quyền 76
Theo chị Chu Thị Sáu, thôn Phượng Lâu, xã Việt Xuân 76
(Nguồn: Số liệu điều tra 2014) 76
Qua ý kiến trên có thể thấy rằng để giải quyết việc làm cho người lao động, một
trong những hướng hay là giải phóng sức lao động sẵn có trên địa bàn để tham gia
làm việc cho các công ty, doanh nghiệp. Từ đó, chính quyền cần quân hệ, hợp tác và
liên kết với các công ty, doanh nghiệp để khi họ có nhu cầu tuyển lao động thì chính
quyền sẽ tham gia tuyên truyền hướng dẫn và giới thiệu cho người lao động nông thôn
trên địa bàn 76
4.2.4 Hỗ trợ cho người lao động trong giải quyết việc làm trên địa bàn xã Việt Xuân
77
4.2.4.1 Cơ sở hạ tầng 77
Để giải quyết việc làm cho tốt thì cần phải có cơ sở hạ tầng vững chắc và đầy đủ.
Hiện nay, trên địa bàn xã hệ thống giao thông còn chưa thực sự được tốt, thông tin
liên lạc chưa đáp ứng được sự phát triển của người dân. Ngoài ra cơ sở hạ tầng phục
vụ cho sự sản xuất, đào tạo nghề còn thiếu, hạn chế do nguồn vốn,sự đầu tư của trung
ương chính quyền còn chưa đủ. Các lớp đào tạo phục vụ đến 30 lao động mà máy
móc chỉ có từ 1-2 cái. Từ những thực tế trên cho thấy rằng nguồn lực để đào tào nghề,
sản xuất cho lao động nông thôn trên địa bàn còn rất hạn chế. 77
Hộp 4.3: Đánh giá về chất lượng lớp tập huấn của học viên 77
Tại lớp tập huấn tôi tham gia, giáo viên chỉ giảng dạy trên sách vở, mà không có
máy móc và thiết bị để thực hành, nên tôi không áp dụng được nhiều vào sản xuất 77
Theo ông Phan Văn Minh, thôn Diệm Xuân, xã Việt Xuân 77
(Nguồn: Số liệu điều tra 2014) 77
Trong thời gian tới thì địa phương cần chú trọng hơn và xin những nguồn kinh phí từ
trên để tiếp tục đầu tư cho quá trình đào tạo dạy nghề và phát triển mở rộng quy mô
cho các ngành sản xuất 77
4.2.4.2 Hỗ trợ vay vốn 77

Lãi xuất 79
Vay(tháng) 79
Hội phụ nữ 79
Hội viên 79
Phục vụ sản xuất kinh doanh của lao động 79
Tín chấp 79
87 79
2.379 79
3 79
0.65 79
Hội CCB 79
Đoàn thanh niên 79
Hội nông dân 79
Cần có những chính sách khuyến khích và ưu đãi hơn nữa để có thể thực hiện tốt cho
quá trình hỗ trợ cho vay để tăng quy mô sản xuất, từ đó để giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn trên địa bàn xã Việt Xuân được đẩy mạnh và thực hiện được tốt hơn
nữa 80
Quan sát bảng 4.16 ta có thể nhận thấy giá trị quan trọng của việc hỗ trợ vay vốn cho
người lao động nông thôn trên địa bàn xã Việt Xuân. Trong tổng số 200 lao động
được điều tra thì có 32 lao động được vay vốn còn lại 168 lao động chưa được vay
vốn, tuy nhiên trong số 32 lao động được vay vốn này thì có đến 14 lao động tạo ra
việc lam mới từ quá trình được vay vốn và có đến 17 lao động áp dụng được nguồn
vay vào trong quá trình sản xuất. Còn trong số 168 lao động không được cho vay vốn
thì chỉ có rất ít lao động tự tìm kiếm được việc làm mới, số còn lại thì không giải
quyết được vấn đề gì 80
Nội dung 81
Tổng số 81
Số lao động mới giải quyết được việc làm 81
Số lao động áp dụng nguồn vốn vay vào trong sản xuất kinh doanh 81
Số lao động được vay vốn mà chưa có việc làm( có mà chưa ổn định) 81

đó chính quyền xã cần có nhiều hơn các chương trình tuyên truyền, hỗ trợ thông tin
đến với người nông dân trên địa bàn, nó có ích lợi trong việc giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn, giúp người dân có thể tìm kiếm được việc làm 82
4.2.5 Kết quả giải quyết việc làm trong 3 năm của xã Việt Xuân 82
4.2.6 Đánh giá về thực trạng giải quyết việc làm trên địa bàn xã Việt Xuân 84
4.2.6.1 Thành tựu 84
Trong 3 năm từ 2011 – 2013 thì nền kinh tế của xã đã có những bước phát triển tăng
lên theo mỗi năm. Năm 2011 với tổng giá trị sản xuất đạt 74,62 tỷ đồng và mức thu
nhập bình quân đầu người đạt 17,5 triệu đồng/người/năm thì đến năm 2012 tổng giá
trị sản xuất của toàn xã là 83,19 tỷ đồng và mức thu nhập bình quân trên đầu người
đạt 18,97 triệu đồng/người/năm. Đến năm 2013 tổng giá trị sản xuất của xã đạt 96,83
tỷ đồng và thu nhập bình quân trên đầu người là 24,27 triệu đồng/người/năm. Trong
khi tình hình thế giới đang gặp khủng hoảng về kinh tế mà xã Việt Xuân vẫn có mức
tăng cả về giá trị sản xuất và thu nhập, thì đây là một thành tựu to lớn 84
Chính quyền xã Việt Xuân luôn tích cực trong công cuộc giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn. Xã đã tổ chức được các lớp tập huấn, đào tạo nghề cho lao động
nông thôn. Chính quyền xã còn thực hiện theo các chủ trương, chính sách của đảng và
nhà nước và chính quyền các cấp về việc giải quyết việc làm cho lao động. Ngoài ra
xã còn thực hiện các chương trình ưu đãi hỗ trợ cho nông dân vay vốn để tăng ra sản
xuất và tìm kiếm việc làm. Bên cạnh đó chính quyền xã còn tổ chức hoạt động hướng
nghiệp, tư vấn việc làm cho lao động với sự thực hiện của ban lao động việc làm xã.
Trên địa bàn xã ngày càng có số lao động tham gia lao động ở các công ty, doanh
nghiệp tăng lên tạo thêm nhiều việc làm cho lao động, nâng cao thu nhập. 84
Số lượng lao động tham gia xuất khẩu lao động cũng tăng theo mỗi năm, đã góp phần
vào công ccuocj giải quyết việc làm cho lao động nông thôn,đây cũng là một trong
những thành tựu giải quyết việc làm đã đạt được trên địa bàn 85
xv
4.2.6.2 Hạn chế 85
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong việc giải quyết việc làm, thì vẫn tồn tại
một số hạn chế cần được khắc phục. Những hạn chế đó là: 85

PHẦN II: 3
TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ 35
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
Bảng 3.1 cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn xã 37
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của xã năm (2011- 2013) 39
Bảng 3.3: Kết quả phát triển kinh tế của xã qua 3 năm (2011 - 2013) 43
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
Bảng 4.2: Lao động trong xã thiếu việc làm và không có việc làm ổn định năm
(2011 - 2013) 52
Bảng 4.6: Kết quả phát triển kinh tế các ngành phi nông nghiệp của xã qua 3 năm
(2011 - 2013) 64
Bảng 4.13: Số lao động đi xuất khẩu lao động của xã năm 2011-2013 74
PHẨN V 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
xvii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQ Bình quân
BCH Ban chấp hành
CC Cơ cấu
CN – TTCN Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
TM – DV Thương mại – dịch vụ
CCB Cựu chiến binh
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
GDP Gross Domestic Product
GTSX Gía trị sản xuất
Ha Héc ta
HĐND Hội đồng nhân dân
ILO International Labour Organization
KH – KT khoa học – kỹ thuật

Nhìn chung, tình hình giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao
động ở nông thôn ở nước ta thời gian qua đã đạt được một số kết quả nhất
định tuy nhiên vẫn còn tồn tại khá nhiều hạn chế. Lao độ vẫn ở trình độ thấp,
sử dụng máy móc còn thủ công và lạc hậu. Năng suất sản xuất tại nhiều ngành
nghề chưa cao, lao động không lành nghề dễ trở nên thất nghiệp. Vì vậy cần
phải có các giải pháp phù hợp giải quyết việc làm cho lao động nhằm chuyển
dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực hơn.
1
Xã Việt Xuân thuộc huyện Vĩnh Tường của tỉnh Vĩnh Phúc là nơi có
sự chuyển dịch về cơ cấu lao động lớn trong những năm qua. Và đã tạo ra rất
nhiều công việc cho lao động trên địa bàn xã. Tuy nhiên ở xã vẫn tồn tại
những khó khăn về giải quyết việc làm cho lao động như : chưa có những
chính sách khuyến khích để giúp người lao động có những suy nghĩ tích cực
để tìm kiếm và tạo ra những việc làm mới,ít được đầu tư cơ sở hạ tầng,và đào
tạo các ngành nghề cho các lao động chưa có việc làm còn ít. Để đánh giá cụ
thể về sự chuyển dịch lao động tại xã như thế nào, giải quyết việc làm cho lao
động ở xã đang ở mức độ nào,và những chính sách cụ thể về việc giải quyết
việc làm cho lao động tại xã, chúng tôi lựa chọn đề tài: “ Giải quyết việc làm
cho lao động nông thôn tại địa bàn xã Việt Xuân- Vĩnh Tường- Vĩnh
Phúc”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu và tìm hiểu về thực trạng giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn trên địa bàn xã Việt Xuân, phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, từ đó đưa ra các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
trên địa bàn xã.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm
cho lao động nông thôn.

của con người Vì vậy để hiểu rõ việc làm chúng ta phải hiểu rõ người có
việc làm. Người có việc làm là những người trong độ tuổi lao động và đang
có việc làm ở các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội ( Bộ luật lao động, 2006).
Việc làm là một hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu
nhập hoặc tạo điều kiện tăng thu nhập cho người lao động, gia đình hoặc cộng
đồng (Chu Quang Tiến, 2001).
Việc làm trong bộ luật lao động Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam điều 13 chương II quy định: “Mọi hoat động tạo ra nguồn thu nhập
không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” ( Bộ luật lao động,
2006)
Theo quan điểm của Mác: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp
giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết như vốn, tư liệu sản xuất, công
nghệ,… để sử dụng sức lao động đó” ( Các Mác, 1984).
Một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn:
+ Hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và
các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ ra tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu
thức tạo ra thu nhập của việc làm.
+ Hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Điều này chỉ ra tính pháp
lý của việc làm, quan điểm đó rõ rang hơn so với quan điểm của tổ chức ILO.
Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, hành nghề và hoàn toàn phù hợp
với sự phát triển thị trường lao động ở VN trong quá trình phát triển nền kinh
tề nhiều thành phần.
Nhận thức về việc làm ngày càng mang tính tích cực và đổi mới hơn,
nếu như trước đây người ta cho rằng chỉ có việc trong xí nghiệp quốc doanh
4
và biên chế nhà nước mới là ổn định, là lâu dài. Thì suy nghĩ bây giờ đã rất
đổi mới, những người lao động sẵn sang tìm và làm các ngành nghề nào cần
thiết cho xã hội. Cùng với đó là sự thay đổi trong quan niệm của nhà nước
cũng đã góp phần lớn giải phóng sức lao động, thúc đẩy tạo việc làm và phát
triển thị trường lao động nước ta.

học có hưởng lượng, nhưng trước đó họ đã có một công việc nào đó với thời
gian thực tế làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người được coi là
có việc làm và họ sẽ tiếp tục trở lại chia làm việc bình thường sau thời gian
tạm nghỉ, vẫn được tính là người có việc làm.
Căn cứ vào chế độ làm việc, thời gian thực tế và nhu cầu làm thêm của
người được xác định là có việc làm trong tuần lễ trước điều tra. Người có việc
làm chia thành hai nhóm: Người đủ việc làm và người thiếu việc làm.
- Người đủ việc làm: Là người có số giờ làm việc trong tuần lễ tham
khảo lớn hơn hoặc bằng 36 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm, hoặc có số
giờ làm việc nhỏ hơn 36 tiếng nhưng bằng hoặc lớn hơn số giờ quy định đối
với người làm các công việc nặng nhọc, độc hại.
- Người thiếu việc làm: Là người có số thời gian làm việc trong tuần lễ
tham khảo dưới 36 giờ, hoặc ít hơn giờ chế độ quy định đối với các công việc
nặng nhọc, độc hại, có nhu cầu làm thêm giờ và sẵn sàng làm việc khi có việc.
2.1.1.4 Tạo việc làm
Tạo việc làm cho người lao động là giải quyết việc làm bằng nhiều
cách khác nhau.Khi tạo việc làm cho người lao động chúng ta sẽ tận dụng
được tối đa lực lượng lao động. Mục đích tạo ra việc làm cho những thất
nghiệp không có việc làm để nâng cao thu nhập cho lao động.
* Có những biện pháp giải quyết việc làm cơ bản.
- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
6
- Đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
- Phát triển tiểu thủ công nghiệp
- Phát triển các ngành nghề truyền thống
- Cho các hộ vay vốn để sản xuất kinh doanh
2.1.2 Cơ sở lý luận về lao động nông thôn
2.1.2.1 Lý luận về lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các
vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình (Chu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status