BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRƯƠNG THỊ ĐÀO ĐIỀU TRA, NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH BỆNH NẤM HẠI LẠC
VỤ THU NĂM 2014 TẠI NINH BÌNH;
BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỘT SỐ BỆNH HẠI CHÍNH CHUYÊN NGÀNH : BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ : 60.62.01.12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGÔ BÍCH HẢO HÀ NỘI, NĂM 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn Thạc sĩ “Điều tra, nghiên cứu tình hình bệnh nấm hại lạc vụ thu
2014 tại Ninh Bình và biện pháp phòng trừ một số bệnh hại chính ” chuyên ngành
Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ “Điều tra, nghiên cứu tình hình bệnh nấm
hại lạc vụ thu 2014 tại Ninh Bình và biện pháp phòng trừ một số bệnh hại chính”
chuyên ngành Bảo vệ thực vật ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ tận tình của PGS. TS Ngô Bích Hảo là giáo viên trực tiếp hướng
dẫn tôi và các thầy cô giáo trong khoa Nông học, các anh chị, các bạn sinh viên
trong phòng thí nghiệm của Bộ môn Bệnh cây – Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS Ngô Bích Hảo và các thầy cô
giáo, các anh chị, các bạn đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học – Học viện
Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại
trường cũng như trong thời gian thực hiện đề tài này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể, cá nhân, bạn bè và người thân
đã động viên khích lệ trong thời gian học tập tại trường và thực hiện đề tài tốt
nghiệp này.
Hà Nội, ngày 11 tháng 4 năm 2015
Tác giả luận văn Trương Thị Đào Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
2.4.1 Điều tra, nghiên cứu ngoài đồng ruộng
26
2.4.2 Nghiên cứu trong nhà lưới
26
2.4.3 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
27
2.5 Phương pháp nghiên cứu 27
2.5.1 Phương pháp thu thập mẫu hạt lạc
27
2.5.2 Phương pháp điều tra nghiên cứu ngoài đồng ruộng
27
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
2.5.3 Phương pháp thí nghiệm ngoài ruộng
29
2.5.4 Phương pháp thí nghiệm trong nhà lưới
30
2.5.5 Phương pháp nghiên cứu trong phòng
31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Kết quả điều tra, nghiên cứu ngoài đồng ruộng 34
3.1.1 Thành phần bệnh nấm hại lạc trên đồng ruộng vụ thu năm 2014 tại
Ninh Bình
34
3.1.2 Tình hình một số bệnh nấm hại lạc chính trong vụ thu năm 2014 tại
Yên Mô - Ninh Bình
40
3.2 Kết quả nghiên cứu, giám định nấm hại trên hạt giống lạc 44
3.2.1 Thành phần bệnh nấm hại hạt giống lạc tại Ninh Bình năm 2014
64
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 67
1 Kết luận 67
2 Đề nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 71
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1 Thành phần bệnh nấm hại lạc trên đồng ruộng tại huyện Yên Mô –
Ninh Bình vụ thu năm 2014 34
3.2 Diễn biến của bệnh đốm nâu hại lạc tại các xã Yên Phong, Yên Lâm,
Yên Thành vụ thu năm 2014 40
3.3 Diễn biến của bệnh đốm đen hại lạc tại các xã Yên Phong, Yên Lâm,
Yên Thành vụ thu năm 2014 41
3.4 Diễn biến của bệnh gỉ sắt hại lạc tại các xã Yên Phong, Yên Lâm, Yên
Thành vụ thu năm 2014 42
3.5 Diễn biến của bệnh cháy lá hại lạc tại các xã Yên Phong, Yên Lâm,
Yên Thành vụ thu năm 2014 43
3.6 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii) trên một số
giống lạc vụ thu năm 2014 tại Yên Mô – Ninh Bình 44
3.7 Thành phần bệnh nấm hại trên hạt giống lạc L27 thu thập ở Ninh Bình
vụ Xuân năm 2014 45
3.8 Mức độ nhiễm nấm bệnh gây hại các giống lạc thu thập tại Ninh Bình
vụ xuân năm 2014 48
3.9 Ảnh hưởng của dịch chiết từ sả đến nấm gây bệnh héo rũ gốc mốc đen
STT Tên hình Trang
3.1 Triệu chứng bệnh héo rũ gốc mốc đen Aspergillus niger 36
3.2 Triệu chứng bệnh héo rũ gốc mốc trắng Sclerotium rolfsii 36
3.3 Triệu chứng bệnh gỉ sắt hại lạc Puccinia arachidis 38
3.4 Triệu chứng bệnh cháy lá Pestalotiopsis sp. 38
3.5 Triệu chứng bệnh đốm nâu hại lạc Cercospora arachidicola 39
3.6 Triệu chứng bệnh đốm đen hại lạc Cercospora personata 39
3.7 Hạt nhiễm nấm Aspergillus niger 47
3.8 Hạt nhiễm nấm Aspergillus flavus 48
3.9 Cành và BTPS của nấm Aspergillus flavus 49
3.10 Cành BTPS của nấm Aspergillus niger 49
3.11 Hạt nhiễm nấm Penicillium spp. 50
3.12 Hạt nhiễm nấm Sclerotium rolfsii 51
3.13 Hạt nhiễm nấm Fusarium spp. 52
3.14 Ảnh hưởng của số lần bón chế phẩm sinh học BIMA đến một số chỉ
tiêu sinh trưởng phát triển của giống lạc L27 57
3.15 Cây lạc thu hoạch ở công thức có bón vôi (bên phải) và công thức đối
chứng (bên trái). 62
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, thuộc họ đậu,
có nguồn gốc ở Nam Mỹ, hiện nay được trồng hầu khắp các nước trên thế giới. Lạc
là cây trồng có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, là cây công nghiệp đứng thứ
2 trong các cây lấy dầu thực vật. Sản phẩm chế biến từ lạc rất đa dạng trong đó chủ
kho bảo quản cũng là một tác nhân quan trọng để nâng cao năng suất và chất lượng
lạc trước và sau thu hoạch.
Sản xuất ngày càng phát triển, dẫn đến sử dụng thuốc hoá học trong nông
nghiệp, trong đó các thuốc trừ nấm bệnh ngày càng nhiều làm ảnh hưởng xấu đến
môi trường, ảnh hưởng tới sức khoẻ con người và gây thiệt hại kinh tế trong sản
xuất nông nghiệp. Một số thuốc trừ nấm dùng nhiều đã gây hại cho hệ vi sinh vật
đất, tạo nên tính kháng thuốc ở một số nấm bệnh hại cây trồng.
Mặt khác, sự đòi hỏi nông sản không có dư lượng thuốc hoá học trên thị
trường ngày càng tăng. Bởi vậy, xu hướng mới trong bảo vệ thực vật hiện nay là
quản lý dịch hại tổng hợp IPM và phòng trừ sinh học.
Vậy, để có những căn cứ đánh giá mức độ hại của bệnh nấm và biện pháp
phòng trừ hiệu quả, chúng tôi tiến hành đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tình hình
bệnh nấm hại lạc vụ thu 2014 tại Ninh Bình; biện pháp phòng trừ một số bệnh
hại chính ”.
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
* Mục đích
Điều tra xác định thành phần, đặc điểm phát sinh, phát triển và gây hại của
bệnh nấm chính hại lạc tại Ninh Bình. Khảo sát một số biện pháp phòng trừ bệnh
hại chính trên cây lạc.
* Yêu Cầu
- Điều tra thành phần và diễn biến một số bệnh nấm hại lạc vụ thu năm 2014
tại Yên Mô - Ninh Bình.
- Giám định thành phần nấm bệnh gây hại trên các mẫu hạt giống lạc thu
thập tại các huyện Yên Khánh, Yên Mô của tỉnh Ninh Bình.
- Theo dõi ảnh hưởng của biện pháp bón vôi, chế phẩm nấm BIMA đến sự
phát triển của nấm gây bệnh héo rũ gốc mốc đen và nấm gây bệnh héo rũ gốc mốc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
trắng hại lạc và một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống lạc L27.
Trong số các nấm gây bệnh trong đất phổ biến nhất là:
- Mốc vàng (Aspergillus flavus Link ex Fries)
- Aspergillus parasiticus Speare.
- Héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii Sacc.)
Các lây nhiễm bởi Aspergillus flavus và Aspergillus parasiticus và hậu quả
nhiễm độc aflatoxin của lạc đặt ra một cách nghiêm túc bởi vấn đề chất lượng có
ảnh hưởng đến các sản phẩm của lạc trong thương mại, và sức khỏe con người và
động vật. Sclerotium rolfsii gây thối gốc và vỏ. (Singh et al, 1997).
Lạc cung cấp cả lợi ích dinh dưỡng và kinh tế cho khu vực nơi nó được phát
triển của thế giới. Tuy nhiên, sản lượng cây trồng và lợi nhuận tài chính đang bị đe
dọa bởi hàng năm bệnh phá hoại. Trong số đó, bệnh nấm hại lạc phổ biến và tàn phá
nhất là những bệnh đốm lá: bệnh đốm nâu gây ra bởi Cercospora arachidicola Hori
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
và đốm đen do Cercosporidium personatum (Berk. & MA Curtis) Deighton. Cả hai
bệnh đốm lá gây rụng lá dẫn đến quả bị tách rời khi thu hoạch và giảm sản lượng
(Gremillion et al, 2011).
Một số bệnh ở trong đất xảy ra thường xuyên tại ICRISAT nhưng ở tỷ lệ
thấp. chúng bao gồm các bệnh như bệnh héo do các loài nấm Fusarium, bệnh thối
đen rễ gây ra bởi nấm Macrophomina phaseolina (Tassi) Goid, bệnh lở cổ rễ do
nấm Rhizoctonia solani Kuehn gây ra, bệnh héo rũ gốc mốc trắng do nấm
Sclerotium rolfsii Sacc. (Subrahmanyam et al).
Nấm bệnh hại lạc thường được chia làm 3 nhóm chính dựa vào bộ phận gây
Thối gốc và thối củ gây khó khăn lớn đối với sản suất lạc ở một số nước châu Á,
châu Phi, châu Mỹ. Thiệt hại năng suất do nó gây ra là trên 25% đã được báo cáo từ
Ấn Độ (Singh et al, 1997).
Sclerotium rolfsii Sacc là loài nấm có phổ kí chủ rộng, có khả năng lây
nhiễm trên 500 loài cây ký chủ thuộc lớp một lá mầm và hai lá mầm, đặc biệt là trên
những cây thuộc các họ đậu đỗ, bầu bí, cà và một số loài rau trồng luân canh với
cây họ đậu. Nhiều nghiên cứu về nấm cho thấy: Sclerotium rolfsii có khả năng sản
sinh ra một lượng lớn axit oxalic. Độc tố này xâm nhập làm biến đổi màu ở trên hạt
và gây nên những đốm chết hoại trên lá ở giai đoạn đầu phát triển bệnh. Sclerotium
rolfsii có sợi nấm màu trắng phát triển mạnh, trên vết bệnh hình thành hạch nấm
màu trắng khi non, và khi già có màu nâu, đường kính hạch nấm từ 1 – 2 mm. Hạch
nấm không chỉ tồn tại trên cây, quả, hạt, đất trồng lạc mà còn có mặt trên tàn dư của
các cây trồng khác. Đặc biệt hạch nấm có thể tồn tại lâu dài trong tầng đất canh tác.
Sức sống của hạch trong đất là 56 - 73% sau 8 - 10 tháng.
Tuyến trùng u sưng rễ Meloidogyne arenaria và bệnh héo rũ gốc mốc trắng
(Sclerotium rolfsii) là các bệnh hại trong đất hạn chế năng suất của cây lạc. Thiệt
hại từ các bệnh này có thể trở nên nghiêm trọng trong sản xuất thâm canh của cây
lạc ở các vùng có mật độ cao các tác nhân gây bệnh (R. Rodríguez-Kábana, 1994).
c) Bệnh héo do nấm Fusarium spp.
Nấm Fusarium spp. có mặt ở khắp các vùng trồng lạc trên thế giới. Có 17
loài Fusarium đã được phân lập từ đất trồng lạc, nhưng chỉ 6 trong số 17 loài gây
bệnh cho lạc.
Tập đoàn nấm Fusarium spp. có thể gây ra nhiều triệu chứng khác nhau và
rất dễ nhầm với triệu chứng bệnh do các nguyên nhân khác gây ra. Ở trên cây, nấm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Fusarium spp. xâm nhiễm làm cho rễ và trụ dưới lá mầm bị biến màu xám, mọng
Page 8
những dịch rễ cây ký chủ bị bệnh hoặc việc bổ sung chất hữu cơ vào trong đất.
Ngoài truyền bệnh qua đất, tàn dư cây trồng Rhizoctonia solani còn có khả
năng truyền qua hạt giống.
1.1.1.2. Nhóm bệnh hại quả hạt
Lịch sử nghiên cứu bệnh hại hạt giống phát triển sớm gắn liền với lịch sử
nghiên cứu bệnh cây Cùng với sự phát triển của công tác kiểm nghiệm và kiểm tra
sức khoẻ hạt giống, bệnh hại hạt giống ngày càng được chú trọng ở hầu khắp các
nước trên thế giới. Trong các bệnh truyền qua hạt giống, nhóm bệnh nấm chiếm đa
số, đặc biệt là ở những vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Có khoảng 29 loại bệnh hại truyền qua hạt lạc trong đó bệnh nấm hại chiếm
khoảng 17 loại. Các loại nấm hại hạt đó đầu tiên phải kể đến: Aspergillus niger,
Aspergillus flavus, Sclerotium rolfsii, Botrytis sp.,Diplodia sp, Fusarium spp.,
Macrophoma phaseolina, Rhizoctonia,….
Các loại nấm gây hại trên thường kết hợp gây hại trên hạt. Có những loài
không chỉ gây hại trên hạt giống mà còn truyền qua hạt giống gây hại cho cây con.
Trong số nấm bệnh hại hạt lạc có 2 loài nguy hiểm nhất là: Aspergillus flavus
Link, Aspergillus paraciticus Speare gây ra hiện tượng mốc vàng lạc.
a) Bệnh mốc vàng (Aspergillus flavus)
Bệnh có phân bố trên toàn thế giới. Sự nhiễm bệnh mốc vàng và hậu quả của
nhiễm độc aflatoxin của lạc dã đặt ra một vấn đề chất lượng nghiêm trọng trên toàn
thế giới (Singh et al, 1997).
Triệu chứng mà bệnh gây ra trong môi trường đất ẩm hạt giống có thể bị tấn
công và bị nhiễm bệnh. Nếu hạt mà không được loại bỏ cẩn thận từ đất thì chúng có
thể bị bao phủ bởi khối bào tử màu đen, cái mà sinh ra cho chúng đầy bồ hóng. Sau
đó mầm bệnh thường lên đến đỉnh điểm trong khi cây chết và phân hủy của cây con.
Triệu chứng đầu tiên xuất hiện ở cây con nổi bật thường là làm toàn bộ cây con khô
nhanh. Mô bị ảnh hưởng được bao phủ bởi các bào tử nấm màu vàng hoặc màu
xanh bề mặt đất. Cây giống nhiễm bệnh thường xẩy ra ở khu vực thân ngầm trong
hạ có màu nâu đỏ. Ở những giống lạc mẫm cảm, vết bệnh ban đầu có thể được bao
quanh bởi những vết bệnh nhỏ. Chúng có thể xuất hiện sau đó ở mặt trên của lá non,
đối diện với những nốt ở mặt dưới. Những thương tổn có thể hình thành ở tất cả các
bộ phận của cây, trừ hoa. Vết bệnh ở thân thường kéo dài ra. Đối lập với sự rụng lá
nhanh chóng do đốm lá, những lá bị bệnh gỉ sắt trở nên hoại tử và khô héo nhưng
lại có xu hướng bám chặt vào cây. Bệnh gỉ sắt thường xuất hiện cùng thời gian với
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
thời kì sau của bệnh đốm lá (Subrahmanyam et al, 1992).
Trước đó bệnh gỉ sắt không được coi là quan trọng ở những khu vực bên
ngoài châu Mỹ (Bromfield 1971), hiện nay bệnh gỉ sắt có tầm quan trọng kinh tế tại
hầu hết các khu vực đang phát lạc của thế giới (Hammons 1977; Subrahmanyam et
al. 1979). Thiệt hại năng suất do bệnh gỉ sắt gây ra có thể đáng kể và thiệt hại đặc
biệt nghiêm trọng nếu nơi đó hoa màu bị tấn công bởi cả bệnh gỉ sắt và các bệnh
đốm lá do Mycosphaerella (Subrahmanyam et al).
Nấm bệnh gây hại làm giảm chất lượng, kích thước hạt và làm giảm hàm
lượng dầu trong hạt. Nấm gây hại trên tất cả các bộ phận trên mặt đất của cây trừ
hoa. Vết bệnh trên lá là những ổ nổi màu vàng nâu, màu gỉ sắt, xung quanh có
quầng nhạt.
Bào tử của nấm gỉ sắt có thể được lưu trữ trong thời gian dài tại nhiệt độ thấp
mà không mất khả năng tồn tại, nhưng ở nhiệt độ cao nó lại nhanh chóng bị mất đi
khả năng tồn tại. Ví dụ, khi lưu trữ ở 40°C nó mất khả năng tồn tại trong vòng 5
ngày. Bào tử trên các mảnh vụn cây trồng mất tất cả khả năng tồn tại trong vòng 4
tuần khi tiếp xúc với các điều kiện sau thu hoạch tại ICRISAT. Quả và hạt cây trồng
bị ảnh hưởng bởi nấm gỉ sắt thì thường bề mặt bị nhiễm bào tử nấm gỉ sắt. Bệnh gỉ
sắt đặc biệt nghiêm trọng ở miền Nam Ấn Độ, nơi lạc là phát triển ở một số khu vực
ở tất cả các thời điểm trong năm. Ánh sáng có thể ức chế bào tử của nấm gỉ sắt
(Subrahmanyam et al).
C
c) Bệnh đốm đen [Cercosporidium personatum (Berk. & Curt.) = Phaeoisariopsis
personata (Berk. & Curt.) v. arx].
Bệnh xuất hiện muộn và tương đối giống với triệu chứng của bệnh đốm nâu
nên còn được gọi là bệnh đốm lá muộn (Late leaf spot).
Bệnh đốm đen có thể gây ra thiệt hại về sản lượng củ lên đến 55% (Singh et
al, 1997).
Đốm lá là những loại bệnh nghiêm trọng nhất của lạc trên quy mô toàn cầu.
Hai loài nấm thường tham gia là Cercospora arachidicola Hori gây bệnh đốm nâu,
và Phaeoisariopsis personata (Berk.& Curt.) V. A r x 1 gây bệnh đốm đen. Bệnh
còn được gọi là đốm lá Mycosphaerella, đốm lá Cercospora, đốm nâu,
cercosporiosis đậu phộng, viruela, và tikka. Đốm lá gây hại cho cây trồng do làm
giảm diện tích quang hợp của lá, do hình thành tổn thương và gây rụng lá. Trên thế
giới, bệnh làm sản lượng giảm khoảng từ 10% đến hơn 50%, nhưng khác nhau đáng
kể từ nơi này đến nơi và giữa các mùa. Thiệt hại năng suất thường đáng kể khi các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
vụ tấn công bằng cả hai bệnh đốm lá và bệnh gỉ sắt (Puccinia arachidis Speg.).
Cả hai bệnh đốm nâu và đốm đen thường gây hại phổ biến ở các vùng trồng
lạc. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh và mức độ nghiêm trọng của từng bệnh khác nhau giữa
các địa phương và các mùa trong năm, và có thể có cả biến động ngắn hạn và dài
hạn trong tỷ lệ tương đối của chúng (McDonald et al, 1985).
Triệu chứng: Khi quan sát mặt dưới lá non, chấm đen trên lá ở thời kì sau
chuyển sang gần tròn và đậm hơn so với trước. Ở mặt dưới của lá non, hầu hết sự
hình thành bào tử diễn ra ở đây, có màu đen và hơi ráp. Nấm trên vết bệnh ở mặt
dưới lá non có thể nhìn thấy nhờ sự hỗ trợ của kính lúp. Những thương tổn đốm lá ở
thời kì sau có thể được phân biệt với thời kì trước qua màu sáng hơn và có thể được
bao quanh bằng một quầng úa vàng. Khi bệnh tấn công mạnh, những lá bị bệnh trở
nên úa vàng, sau đó bị hoại tử và những thương tổn thường hợp lại với nhau dẫn
thường phát triển dọc theo mép của mô hoại tử. Ở các giai đoạn sau của quá trình
phát triển bệnh, những vùng bị bệnh chuyển sang màu nâu đậm, giòn và dễ bị vỡ.
Lượng lớn bào tử màu tối xuất hiện ở các mô hoại tử. Sự rụng lá xuất hiện khi bị
bệnh nặng.
Những triệu chứng cháy lá giống với những triệu chứng gây ra bởi nấm
Leptosphaerulina crassiasca và Colletotrichum spp, và thường khó phân biệt các
bệnh này với nhau trên đồng ruộng. Nấm Alfernaria alternata cũng gây ra bệnh đốm
lá và bệnh hoại tử gân lá như đã miêu tả ở trên (Subrahmanyam et al, 1992).
e) Bệnh cháy lá (Pestalotropsis arachidis Satya)
Bệnh do nấm Pestalotiopsis arachidis Satya gây ra. Nó được thông báo xuất
hiện ở một số nước như: Ấn Độ, Nigeria và Thái Lan.
Triệu chứng: Vết bệnh là những thương tổn hình tròn màu nâu đậm được bao
quanh bởi những quầng vàng nhạt xuất hiện ở lá bị bệnh. Những thương tổn mở
rộng và hợp lại với nhau gây ra bệnh hoại tử nặng cho lá non, đặc biệt là ở mép lá.
Những quả thể hình cầu màu đen cực nhỏ nhìn thấy qua kính lúp có thể được tìm
thấy ở giữa những thương tổn hoặc ở trong những khu vực bị bệnh.
Triệu chứng của bệnh này giống với triệu chứng của bệnh đốm nâu, trừ
đường viền màu vàng bao quanh khu vực bị bạc lá là khó thấy hơn (Subrahmanyam
et al, 1992).
1.1.2. Những nghiên cứu về biện pháp sinh học phòng trừ nhóm nấm gây hại
Các nghiên cứu về biện pháp sinh học đối với vật gây bệnh cây được tiến
hành muộn hơn cả. Từ năm 1908 đã có tác giả chứng minh được rằng hoạt tính của
vi sinh vật gây bệnh cây có thể ức chế được bằng các sản phẩm trao đổi chất của
chính nó.
Hiện tượng nấm Trichoderma ký sinh trên nấm Rhizoctonia solani,
Phytophthora parasitica, Sclerotium rolfsii được Weindling mô tả năm 1932 và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
chính tác giả này đã đề xuất sử dụng hiện tượng nấm ký sinh nấm gây bệnh cây để
Page 15
một thói quen ở nhiều vùng sản xuất rau của Nhật Bản.
Một số loại cây khác như yến mạch, cỏ guinea,….cũng được sử dụng để trừ
tuyến trùng gây tổn thương rễ và tuyến trùng nốt sần nhờ tính đối kháng của
chúng.Năm 2001 nhóm tác giả của trường Đại học Kampus Bukin Jimbaran
Inđônêxia đã phát hiện ra rễ gừng và lá đu đủ có tác dụng hạn chế sự phát triển của
nấm Ceratocystis sp gây thối quả. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự phát triển
của nấm Ceratocystis sp. trên môi trường PDA ( Potato dextrose agar) có bổ sung
5% dịch chiết thô sẽ bị giảm 92,5% (đối với dịch chiết là rễ gừng), bị giảm 73,3%
(đối với dịch chiết là lá đu đủ). Sự phát triển của nấm Ceratocystis sp. cũng bị giảm
rõ ràng khi ta cấy dịch chiết trên vào thịt quả trước sự xuất hiện của nấm. Điều này
đã làm tăng thời hạn sử dụng của quả lên rất nhiều kể cả trong điều kiện tự nhiên và
điều kiện nhân tạo. Năm 2001 - 2002 Viện nghiên cứu bệnh hại hạt giống ở Đan
Mạch đã có một số kết quả nghiên cứu sử dụng tinh dầu thực vật để xử lý hạt giống
cho kết quả tốt.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1. Nghiên cứu thành phần bệnh hại lạc
Tập đoàn bệnh hại lạc ở Việt Nam khá phong phú và đa dạng với các mức độ
hại khác nhau tùy từng loại bệnh. Ở Hà Nội và phụ cận, bệnh hại hạt giống lạc đã
xác định được 17 loài nấm thuộc 5 bộ và 1 loài vi khuẩn thuộc Bộ Pseudomonadles
(Nguyễn Kim Vân, 2006).
- Nấm Alternaria alternata thuộc bộ Hyphales: có tỷ lệ hạt nhiễm ở Hà
Nội, Thanh Hóa, Nghệ An là < 10%.
- Nấm Aspergillus niger thuộc bộ Hyphales : có tỷ lệ hạt nhiễm ở Hà Nội
là từ 10 – 25%, Thanh Hóa từ 26 – 50%, Nghệ An là > 50%.
- Nấm Aspergillus flavus thuộc bộ Hyphales: có tỷ lệ hạt nhiễm ở Hà Nội,
Thanh Hóa, Nghệ An là từ 10 – 25%.
- Nấm Aspergillus parasiticus thuộc bộ Hyphales: có tỷ lệ hạt nhiễm ở Hà
Nội, Thanh Hóa < 10%, Nghệ An là 10 – 25%.
hạt nhiễm ở Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An là < 10%.
Theo Vũ triệu Mân (2007) đã liệt kê một số bệnh hại lạc phổ biến do nấm
gây ra là :
+ Bệnh héo rũ gốc mốc đen (Aspergillus niger Van Tiegh)
+ Bệnh héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii Sacc.)