BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG THỊ NGỌC BÍCH HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO
NGƯỜI NGHÈO VÀ ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH
TẠI TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực khách quan và chưa
từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cám ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn Hoàng Thị Ngọc Bích Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HỘP viii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP
PHÁP LÝ CHO NGƯỜI NGHÈO VÀ ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Khái niệm, quan điểm về hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) 4
2.1.2 Đặc điểm, vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý 13
2.1.3 Nội dung hoạt động trợ giúp pháp lý 16
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động trợ giúp pháp lý 26
2.2 Cơ sở thực tiễn 29
2.2.1 Kinh nghiệm về việc thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý trên thế giới 29
2.2.2 Kinh nghiệm về việc thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam 31
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 38
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 38
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 43
3.2 Phương pháp nghiên cứu 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 112
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Tên đầy đủ
1 BQ Bình quân
2 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
3 DTTS Dân tộc thiểu số
4 ĐVT Đơn vị tính
5 KT Kinh tế
6 KTXH Kinh tế xã hội
7 NSNN Ngân sách nhà nước
8 QLNN Quản lý nhà nước
9 SX-KD Sản xuất kinh doanh
10 TGPL Trợ giúp pháp lý
11 UBND Ủy ban nhân dân
4.13 Nguồn kinh phí thực hiện hoạt động TGPL tại tỉnh Yên Bái từ năm
2007 - 2014 87
4.14 Tình hình cơ sở vật chất phục vụ hoạt động TGPL tại tỉnh Yên Bái 90
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HỘP Số TT Tên biểu đồ, sơ đồ, hộp Trang
2.1 Bộ máy QLNN về hoạt động TGPL ở Việt Nam 32
Số biểu đồ Tên biểu đồ Trang 4.1 Tỷ lệ đối tượng đã được TGPL tại tỉnh Yên Bái trong 3 năm 2012 -
2014 58
4.2 Đánh giá về nhu cầu TGPL của đối tượng hưởng chính sách tại
tỉnh Yên Bái. 58
4.3 Ý kiến về các đối tượng ưu tiên cần được TGPL 59
Số hộp Tên hộp Trang 4.1 Ý kiến của đồng chí Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Yên
Bái về chất lượng nguồn nhân lực TGPL 86
4.2 Ý kiến của đồng chí Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Yên
Bái về kinh phí hoạt động 88
4.3 Ý kiến của đồng chí Phó Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh
Yên Bái về cơ sở vật chất của Trung tâm 90
lý, không nằm trong vùng động lực phát triển của cả nước. Trình độ dân trí chưa
cao với nhiều thành phần dân tộc anh em cùng sinh sống trên địa bàn tỉnh nên
Yên Bái hiện nay đang tụt hậu so với các tỉnh trong khu vực và cả nước. Để nâng cao
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
tốc độ tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống của người dân trên mọi mặt đòi hỏi có
sự đầu tư hợp lý và sự tham gia đồng bộ của các ban ngành và chính quyền địa
phương.
Tuy đạt được những kết quả đáng khích lệ nêu trên nhưng việc thực hiện
hoạt động trợ giúp pháp lý tại Yên Bái hiện nay còn một số tồn tại đã nêu như
trong báo cáo kết quả thực hiện đề tài khoa học "Thực trạng và giải pháp nâng
cao hiệu quả trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Yên Bái”, Hội
luật gia tỉnh Yên Bái (2014): Chính sách trong hoạt động trợ giúp pháp lý từ
trung ương tới địa phương còn nhiều bất cập; Chính sách khuyến khích các tổ
chức, cá nhân tham gia trợ giúp pháp lý; Phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên
quan; Chất lượng nguồn nhân lực thực hiện; Nguồn kinh phí thực hiện; Nhận
thức của các cấp, các ngành và người dân còn hạn chế; Hoạt động TGPL chưa
đảm bảo đúng trọng tâm, trọng điểm; sự tham gia của luật sư trong hoạt động
TGPL còn hạn chế cần có giải pháp khắc phục để đem lại hiệu quả thiết thực
trong đời sống nhân dân. Từ những lý do phân tích trên tôi đã lựa chọn đề tài: “
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách tại tỉnh
Yên Bái ” để hoạt động trợ giúp pháp lý ngày càng có hiệu quả thiết thực trong
phát triển kinh tế xã hội hiện nay.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối
tượng chính sách tại tỉnh Yên Bái, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng
cao chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP
LÝ CHO NGƯỜI NGHÈO VÀ ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm, quan điểm về hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL)
2.1.1.1 Khái niệm về trợ giúp pháp lý
a. Khái niệm về TGPL
Hiện nay trên thế giới và ở nước ta có nhiều cách hiểu khác nhau về
TGPL. Hầu hết pháp luật các nước trên thế giới dựa trên lý luận về nhân quyền
và bảo đảm nhân quyền, coi TGPL như là một biện pháp bảo đảm tư pháp dành
cho người không có điều kiện kinh tế để tiếp cận sử dụng pháp luật. Nghiên cứu
một số nước trên thế giới về khái niệm TGPL như: Vương quốc Anh, Hà Lan,
Thụy Điển, Trung Quốc xét thấy, các nhà khoa học pháp lý đều lấy lí luận về
dân chủ, nhân quyền làm nền tảng, họ đánh giá TGPL là một đảm bảo cho công
dân có hoàn cảnh khó khăn, không có điều kiện tiếp cận và sử dụng pháp luật để
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của mình theo quy định của pháp
luật. Mặc dù hình thức diễn đạt khác nhau về khái niệm TGPL, nhưng các khái
niệm này đều thể hiện rõ 4 nội dung trợ giúp cơ bản, đó là: pháp lý, kinh tế, xã
hội và nhân đạo. Về kinh tế, giúp đỡ tất cả hoặc một phần tài chính chi trả cho
công dân có hoàn cảnh khó khăn khi tiếp cận với pháp luật và dịch vụ pháp lý thu
phí của Luật sư. Về pháp lý giúp đỡ công dân giải quyết các vụ liên quan đến
Quyết định 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập
tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách. Theo đó thuật ngữ "Trợ
giúp pháp lý" xuất hiện phổ biến trên các văn bản pháp luật, sách báo và tạp chí.
Trong quá trình xây dựng "Luật trợ giúp pháp lý" các nhà khoa học nghiên cứu về
TGPL trên cơ sở tham khảo khái niệm TGPL của một số nước trên thế giới và các
quan niệm về TGPL ở Việt Nam để đưa ra một số khái niệm về TGPL. Theo đó
khái niệm TGPL được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, TGPL được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý
miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được hưởng chính sách
ưu đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định. Bằng các hoạt động tư
vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng
trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Theo nghĩa hẹp, TGPL được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn
phí của các tổ chức TGPL của Nhà nước cho người nghèo và người được hưởng
chính sách ưu đãi thông qua hình thức tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến
nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo
đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công
bằng xã hội.
Tại điều 3 - Luật TGPL được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 quy định: TGPL là
việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL theo quy định của
luật này, giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng
cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào
việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội,
phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.
b. Người nghèo
- Khái niệm về hộ nghèo: Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình
chỉ thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn
mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Luật TGPL quy định cụ thể người nghèo như sau: Người nghèo là người
thuộc hộ nghèo, được xác định theo chuẩn nghèo do Thủ tướng Chính phủ quy
định trong từng giai đoạn. Chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011-2015
theo quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành
chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015, mức chuẩn
nghèo và cận nghèo được xác định
- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống.
- Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống.
- Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000
đồng đến 520.000 đồng/người/tháng.
- Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000
đồng đến 650.000 đồng/người/tháng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
Ngoài ra còn có khái niệm xã nghèo và vùng nghèo.
* Xã nghèo là xã có những đặc trưng như sau:
- Tỷ lệ hộ nghèo cao hơn 40% số hộ của xã.
- Không có hoặc thiếu rất nhiều những công trình cơ sở hạ tầng như: Điện
sinh hoạt, đường giao thông, trường học, trạm y tế và nước sinh hoạt.
- Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ người mù chữ cao.
* Khái niệm về vùng nghèo:
Vùng nghèo là chỉ địa bàn tương đối rộng có thể là một số xã liền kề nhau
hoặc một vùng dân cư nằm ở vị trí rất khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận
tiện, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, không có điều kiện phát triển (PT) sản xuất đảm
phí của Nhà nước và các tổ chức xã hội.
2.1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoạt động trợ giúp pháp lý
Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về TGPL miễn phí cho người
nghèo, đối tượng chính sách, đồng bào các DTTS lần đầu tiên được khẳng định
tại Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 khóa VIII: “tổ chức
hình thức tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạo cho người
nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn miễn phí.” Tiếp đó, trong thông báo số
485/CV-VPTW ngày 31/5/1995 Ban bí thư Trung ương Đảng đã có ý kiến chỉ
đạo:” cần mở rộng loại hình tư vấn pháp lý phổ thông, đáp ứng rộng rãi, đa dạng
của tầng lớp nhân dân, nhằm góp phần nâng cao ý thức pháp luật và ứng xử pháp
luật của công dân trong quan hệ đời sống hàng ngày… cần nghiên cứu lập hệ
thống tư vấn pháp luật không lấy tiền để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc
theo pháp luật”. Ngày 9/12/2003 Ban bí thư Trung ương Đảng ban hành chỉ thị
số 32/CT-TW về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến
giáo dục pháp luật đã khẳng định: đẩy mạnh công tác TGPL cho người nghèo,
đối tượng chính sách và đồng bào DTTS, coi đây là một trong những giải pháp
quan trọng nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật trong nhân dân, tăng cường hiểu
biết pháp luật cho nhân dân.
Quán triệt những quan điểm của Đảng xuất phát từ nhu cầu thực tế của
nhân dân. Ngày 6/9/1997 Thủ Tướng Chính Phủ đã ban hành quyết định số
734/TTg thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách,
trong đó có các đồng bào DTTS. Để thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính
phủ, đến nay các Bộ, ngành Trung ương đã ban hành 16 văn bản quy phạm pháp
luật dưới hình thức quyết định hoặc hướng dẫn thực hiện công tác TGPL, trong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
đó đặc biệt quan trọng là thông tư liên tịch số 52/TTLT-BTP-TC-TCCP-
LĐTBXH ngày 14/1/1998 của liên bộ Tư pháp - Tài chính - Bộ Nội vụ - Bộ lao
động thương binh và xã hội hướng dẫn thi hành quyết định số 734/TTg của Thủ
pháp lý cho người nghèo, đồng bào DTTS tại các huyện nghèo giai đoạn 2011 -
2020 theo Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính
phủ (để triển khai thực hiện tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của
Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện
nghèo). Về xây dựng, hoàn thiện thể chế bảo đảm quyền được TGPL của người
khuyết tật. Bộ Tư pháp đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định số
14/2013/NĐ-CP ngày 05/2/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật TGPL, trong đó khoản 4 Điều 1 quy định tất cả những
người khuyết tật theo Luật Người khuyết tật đều được TGPL.
Như vậy, để thực hiện chính sách TGPL được thực hiện thuận lợi thì
nhiều văn bản của nhà nước đã được ban hành hướng dẫn, quy định thực hiện tốt
mục tiêu chính sách đề ra, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với
chính sách có ý nghĩa thiết thực này.
Dưới góc độ quản lý, xét về mặt bản chất, hoạt động TGPL là chức năng
xã hội của Nhà nước pháp quyền, thể hiện bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước
của dân, do dân và vì dân. Nhân dân cần có sự giúp đỡ và bảo vệ của Nhà nước
và pháp luật. Tổ chức và hoạt động TGPL vừa là hình thức, vừa là nội dung thể
hiện mối quan hệ hữu cơ, bình đẳng giữa Nhà nước và công dân. TGPL là quyền
của mỗi công dân và là chức năng xã hội, là trách nhiệm của Nhà nước, bảo đảm
đưa pháp luật vào cuộc sống của mọi tầng lớp dân cư, góp phần thực hiện quản lý
mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật.
*Giới thiệu về chính sách trợ giúp pháp lý
Chính sách về TGPL được quy định chi tiết trong Luật TGPL (2006):
Mục tiêu của chính sách: giúp cho người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, góp
phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã
hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.
Người được trợ giúp pháp lý
- Người nghèo là người thuộc hộ nghèo được xác định theo mức thu nhập
- Luật sư: có thể thực hiện TGPL với tư cách là cộng tác viên của trung
tâm hoặc tham gia TGPL thông qua tổ chức hành nghề luật sư (văn phòng luật
sư, công ty luật).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
- Tư vấn viên pháp luật: tham gia TGPL theo sự phân công của tổ chức tư
vấn pháp luật nơi họ làm việc, tham gia TGPL với tư cách là cộng tác viên của
trung tâm TGPL nhà nước.
Tổ chức thực hiện TGPL
- Trung tâm TGPL nhà nước (63 trung tâm/ 63 tỉnh), là đơn vị sự nghiệp
thuộc sở Tư pháp.
- Các tổ chức tham gia thực hiện TGPL gồm: văn phòng luật sư và công ty
luật; trung tâm tư vấn pháp luật thuộc các tổ chức xã hội.
Công cụ thực hiện chính sách
- Chính sách TGPL thể hiện qua luật TGPL năm 2006. Các văn bản dưới
luật của Chính Phủ, các bộ và các cơ quan ở địa phương.
- Thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí thông qua việc
cung cấp về tài chính để đảm bảo thực hiện các hoạt đông TGPL như: tổ chức và
thực hiện các đợt trợ giúp lưu động tại các xã, thôn bản; tổ chức sinh hoạt câu lạc
bộ TGPL cấp xã (là một hình thức hoạt động TGPL cộng đồng); truyền thông về
TGPL trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức khác; khảo sát
nhu cầu TGPL của người dân…
2.1.2 Đặc điểm, vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý
2.1.2.1 Đặc điểm về hoạt động trợ giúp pháp lý
TGPL, là hoạt động không thu phí, lệ phí, thù lao từ người được TGPL.
TGPL là trách nhiệm của Nhà nước. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc
thực hiện, tổ chức thực hiện TGPL; khuyến khích, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư và Luật sư, cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ hoạt động TGPL.
nghèo và đối tượng chính sách xã hội. Giúp người nghèo và đối tượng chính
sách bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tạo điều kiện để thực hiện
công bằng xã hội, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền bình đẳng của mọi công dân
trước pháp luật.
* Góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo và đối
tượng chính sách xă hội
Thông qua việc thực hiện pháp luật về TGPL cho người nghèo và đối
tượng chính sách xã hội nhằm bảo đảm thực hiện chính sách nhất quán của Đảng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
ta là đặc biệt quan tâm đến người có hoàn cảnh khó khăn, người nghèo, đối tượng
chính sách xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của họ.
* Góp phần tăng cường đoàn kết toàn dân, thực hiện chiến lược “xoá đói,
giảm nghèo” của Chính phủ
Thực tiễn thực hiện hoạt động TGPL trong các chương trình giảm
nghèo thời gian qua đã khẳng định tính đúng đắn trong chủ trương của Đảng
và Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo.
Đối với người nghèo, người DTTS nói riêng và người dân nói chung, hoạt
động TGPL đã góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật của nhân dân, qua đó
giúp họ nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình, có thể tự lựa chọn cách
ứng xử phù hợp với pháp luật, tránh tình trạng khiếu kiện vượt cấp, tiết kiệm thời
gian và tiền bạc của người dân.
Hoạt động TGPL đã góp phần quan trọng thực hiện thành công các
chương trình xóa đói, giảm nghèo ở các địa phương, người dân được tư vấn các
thủ tục pháp lý để vay vốn hoặc hưởng các chính sách ưu đãi khác để PTKT
gia đình, vươn lên thoát nghèo.
Đối với Nhà nước, hoạt động TGPL thể hiện trách nhiệm của Nhà nước
trong việc bảo vệ quyền lợi của công dân thông qua việc giải quyết những
vướng mắc pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho những đối
giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên
quan đến vụ việc TGPL.
Tư vấn pháp luật có thể được thực hiện thông qua ngôn ngữ giao tiếp hỏi
- đáp trực tiếp (tư vấn miệng) hay thông qua giải đáp bằng văn bản. Cho dù được
thực hiện dưới hình thức nào, hoạt động tư vấn pháp luật cũng bao gồm các
bước sau: tiếp nhận yêu cầu tư vấn - yêu cầu người đề nghị tư vấn cung cấp các
văn bản, tài liệu liên quan đến vụ việc cần tư vấn - nghiên cứu tài liệu, tra cứu
các văn bản pháp luật liên quan - tư vấn cho người yêu cầu Thông qua hoạt
động tư vấn, phổ biến, giáo dục pháp luật, người được TGPL nắm vững các quy
định của pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật trên cơ sở đó tự giác chấp hành
pháp luật và biết vận dụng pháp luật để bảo vệ cho các quyền và lợi ích hợp
pháp của bản thân và gia đình, hình thành lòng tin vào pháp luật và sự công bằng
trong xã hội.