1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THÚY HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
5
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1
20
1.4.3.3.
Đại diện ngoài tố tụng
20
1.4.3.4.
Các hình thức trợ giúp pháp lý khác
21
1.5.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong các chương trình giảm nghèo
21
1.5.1.
Quan niệm về đói nghèo
21
1.5.2.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong các chương trình giảm nghèo
23
1.5.3.
Ý nghĩa, vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý trong các
28
6
chương trình giảm nghèo
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP
PHÁP LÝ TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO
32
2.1.
Thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý trong các chương
trình giảm nghèo những năm qua
32
2.1.5.
Tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động
52
2.1.6.
Cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật miễn phí
55
2.2.
Đánh giá chung
56
2.2.1.
Những thuận lợi
56
2.2.2.
Những hạn chế
57
2.2.3.
Nguyên nhân của những hạn chế
62
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HIỆN HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG CÁC
CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO THỜI GIAN TỚI
65
7
3.1.
Quan điểm, định hướng thực hiện hoạt động trợ giúp pháp
lý trong các Chương trình giảm nghèo
65
3.1.1.
3.2.6.
Tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát
các địa phương đẩy mạnh hoạt động trợ giúp pháp lý trong
các chương trình giảm nghèo
84
3.2.7.
Phối hợp, lồng ghép các hoạt động trợ giúp pháp lý với các
chính sách khác cùng thuộc các chương trình giảm nghèo
85
KẾT LUẬN
87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
89 4
Danh môc c¸c b¶ng
Sè hiÖu
b¶ng
Tªn b¶ng
Trang
2.1
Số liệu vụ việc trợ giúp pháp lý từ năm 2007 - 2010
48
2.2
Số người được trợ giúp pháp lý từ năm 2007 - 2010
pháp luật cho nhân dân mới được bổ sung vào các chương trình giảm nghèo
9
và bắt đầu được triển khai thực hiện từ quý IV năm 2007, nhưng ngành Tư
pháp đã chủ động triển khai thực hiện đồng bộ các hoạt động và mang lại một
số kết quả bước đầu, đó là: thành lập và hướng dẫn việc tổ chức sinh hoạt cho
các Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, trợ giúp pháp lý lưu động, thực hiện trợ giúp
pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số bằng các hình thức khác
nhau, cung cấp thông tin pháp lý… đáp ứng yêu cầu trợ giúp pháp lý phong
phú, đa dạng của nhân dân, tạo điều kiện cho người nghèo, người dân tộc
thiểu số và những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được tiếp cận với
dịch vụ pháp lý, tìm hiểu pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình, góp phần bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn
chế tranh chấp và vi phạm pháp luật, đồng thời tham gia phát triển kinh tế,
vươn lên xóa đói, giảm nghèo, thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Tuy đạt được những kết quả đáng khích lệ nêu trên nhưng việc thực
hiện hoạt động trợ giúp pháp lý trong các chương trình giảm nghèo còn một
số tồn tại như chưa đáp ứng có hiệu quả tất cả nhu cầu trợ giúp pháp lý của
người dân do nhận thức của các cấp chính quyền địa phương còn chưa đầy đủ
về hoạt động này; văn bản hướng dẫn thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý
trong các chương trình giảm nghèo còn một số bất cập; nhiều người vẫn chưa
biết và chưa được hưởng lợi từ dịch vụ trợ giúp pháp lý; người dân gặp nhiều
khó khăn trong việc tiếp cận với tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, đặc biệt là
người dân sống ở vùng sâu, vùng xa; Trung tâm trợ giúp pháp lý thuộc Sở Tư
pháp các tỉnh có nhiều người dân tộc thiểu số chưa có đủ đội ngũ trợ giúp
viên và cộng tác viên trợ giúp pháp lý là những người có thể nói tiếng dân tộc,
do đó việc sử dụng dịch vụ trợ giúp pháp lý của người dân tộc thiểu số còn
gặp nhiều khó khăn; kỹ năng trợ giúp pháp lý của một số Trợ giúp viên pháp
lý và cộng tác viên trợ giúp pháp lý còn chưa cao, đặc biệt các Trợ giúp viên
pháp lý còn rất ít kinh nghiệm trong việc thực hiện các vụ việc tham gia tố
11
các hình thức tiếp cận pháp luật của người nghèo ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay", của Đỗ Xuân Lân; Luận văn thạc sĩ: "Bảo đảm quyền được
trợ giúp pháp lý", của Phan Thị Thu Hà; Luận văn thạc sĩ: "Trợ giúp pháp lý
ở cơ sở", của tác giả Đặng Thị Loan; đề tài cấp Bộ: "Mô hình tổ chức và
hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện
nay" Tuy nhiên, về vấn đề hoạt động trợ giúp pháp lý trong các chương
trình giảm nghèo đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn
diện và tổng thể về lý luận và thực tiễn. Vì vậy, với đề tài "Hoạt động trợ
giúp pháp lý trong các chương trình giảm nghèo", tác giả Luận văn sẽ đi
sâu phân tích làm sáng tỏ các vấn đề có liên quan cả về mặt lý luận và thực
tiễn, góp phần tìm ra giải pháp khoa học thúc đẩy các hoạt động trợ giúp
pháp lý trong các chương trình giảm nghèo thời gian tới để người nghèo,
người dân tộc thiểu số và người có hoàn cảnh khó khăn khác được trợ giúp
pháp lý khi có yêu cầu.
3. Mục đích, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống
những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động trợ giúp pháp lý trong các
chương trình giảm nghèo; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm thực
hiện chính sách này có hiệu quả trong thời gian tới, góp phần xóa nghèo về
pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng yếu
thế khác trong xã hội.
Thực hiện mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận, chính trị pháp lý và cơ sở thực tiễn thực hiện
hoạt động trợ giúp pháp lý trong các chương trình giảm nghèo.
- Phân tích, đánh giá thực trạng triển khai các hoạt động trợ giúp pháp
lý trong các chương trình giảm nghèo để thấy được những mặt ưu điểm, hạn chế,
khó khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân để có giải pháp hoàn thiện.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động trợ giúp pháp lý trong các chương
trình giảm nghèo.
Chương 2: Thực trạng thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý trong các
chương trình giảm nghèo.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp
pháp lý trong các chương trình giảm nghèo trong thời gian tới.
14
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
TRONG CÁC CHƢƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO
1.1. Khái niệm trợ giúp pháp lý
Thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được sử dụng phổ biến từ giữa thế kỷ 20,
xuất phát từ tiếng Anh là "legal aid". Theo Từ điển Anh - Việt của tác giả Lê
Khả Kế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1997 thì "legal aid" có nghĩa là "trợ
và vi phạm pháp luật [42, Điều 3].
1.2. Đặc điểm của trợ giúp pháp lý
- Trợ giúp pháp lý là một loại dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, có
đầy đủ những đặc trưng của dịch vụ công như: được xác định là một trong những
chức năng xã hội của Nhà nước và là trách nhiệm của Nhà nước; đối tượng được
hưởng trợ giúp pháp lý là những người yếu thế, không có đủ điều kiện tiếp cận
với các loại dịch vụ pháp lý có thu, cần có sự trợ giúp của Nhà nước; các chi
phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý chủ yếu do ngân sách Nhà nước bảo đảm.
- Trợ giúp pháp lý là một loại hình dịch vụ pháp lý, do những người
có trình độ am hiểu pháp luật thực hiện trên cơ sở pháp luật nhằm đáp ứng
nhu cầu giúp đỡ pháp luật của người nghèo và đối tượng chính sách thông qua
việc tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, giúp đỡ thực
hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính, giải quyết khiếu nại… Trợ
giúp pháp lý được coi là một loại hình dịch vụ pháp lý nói chung bởi hình
thức và phương thức thực hiện tương tự như dịch vụ pháp lý nói chung. Điểm
khác biệt ở đây là trợ giúp pháp lý có đối tượng, phạm vi, lĩnh vực trợ giúp, tổ
chức, người thực hiện hẹp hơn; trợ giúp pháp lý của Nhà nước được thực hiện
theo một trình tự, thủ tục khác so với trình tự, thủ tục thực hiện dịch vụ pháp
lý chung do tổ chức và cá nhân khác thực hiện. Người thụ hưởng trợ giúp
pháp lý không phải trả bất kỳ một khoản lệ phí nào.
16
- Trợ giúp pháp lý còn là một dịch vụ pháp lý chứa đựng tính nhân
văn sâu sắc, bởi mục tiêu hướng tới, đối tượng phục vụ là những người có
hoàn cảnh đặc biệt cần phải được Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, hỗ
trợ. Sự hỗ trợ này sẽ làm giảm bớt những khó khăn của nhóm đối tượng yếu
thế, góp phần tạo sự công bằng trong xã hội;
- Trợ giúp pháp lý mang tính pháp lý, thể hiện qua phương thức hoạt
động và mục đích hướng tới của nó. Tính chất pháp lý của hoạt động trợ giúp
pháp lý thể hiện ở chỗ, trợ giúp pháp lý là một trong các biện pháp thực thi
chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc,
bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng;
Cha, mẹ, vợ, chồng của liệt sĩ; con của liệt sĩ chưa đủ 18 tuổi; người có công
nuôi dưỡng liệt sĩ.
Đây là những người đã có nhiều cống hiến về sức lực, tài năng, trí tuệ
và cả tính mạng của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế trong thời chiến cũng như trong thời bình,
được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp
luật. Phần lớn những đối tượng này gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống do bị
ảnh hưởng của thương tật, suy giảm sức khỏe và khả năng lao động (thương
binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh), mất chỗ dựa
chính trong gia đình (thân nhân liệt sĩ),… Chỉ một bộ phận nhỏ trong số họ có
thu nhập ổn định. Với loại đối tượng này, chính sách trợ giúp pháp lý của Nhà
nước chủ yếu thể hiện sự ưu tiên, ưu đãi, sự biết ơn đối với những cống hiến
của họ chứ không căn cứ vào điều kiện thu nhập.
- Người già cô đơn không nơi nương tựa: là những người từ 60 tuổi
trở lên, sống một mình và không có người chăm sóc, phụng dưỡng.
- Người tàn tật không nơi nương tựa: là những người bị khiếm khuyết
một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật
khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt,
18
học tập gặp nhiều khó khăn mà không có ai nuôi dưỡng, chăm sóc hoặc là
người bị nhiễm chất độc hóa học, bị nhiễm HIV hoặc bị các bệnh khác làm
mất năng lực hành vi dân sự mà không có nơi nương tựa.
- Trẻ em không nơi nương tựa: là người dưới 16 tuổi, không có gia
đình hoặc bị gia đình bỏ rơi, tự kiếm sống hoặc có hoàn cảnh không bình
thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ
bản và hòa nhập với gia đình, cộng đồng.
- Người dân tộc thiểu số thường xuyên sinh sống ở vùng có điều kiện
1.4.1. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý
Theo Điều 13 Luật Trợ giúp pháp lý thì tổ chức thực hiện trợ giúp
pháp lý là Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các tổ chức tham gia trợ
giúp pháp lý.
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thuộc Sở Tư pháp các tỉnh/thành
phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Trung tâm) do Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập. Trung tâm là đơn vị
sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp, chịu sự quản lý nhà nước của Sở Tư pháp, Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, sự chỉ đạo, quản lý, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn của
Bộ Tư pháp. Trung tâm có Giám đốc, Phó giám đốc, Trợ giúp viên pháp lý.
Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước do Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Trung tâm thực hiện các hoạt động chính sau đây:
- Truyền thông về trợ giúp pháp lý trên các phương tiện thông tin đại
chúng và các hình thức khác;
- Khảo sát nhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân. Để có thể xây
dựng kế hoạch hoạt động phù hợp với nhu cầu được giúp đỡ pháp luật của
người dân tại từng địa bàn, các Trung tâm tiến hành khảo sát vướng mắc pháp
luật của người dân ở từng địa phương, nhu cầu cần giúp đỡ trong từng lĩnh
vực pháp luật cụ thể;
20
- Cử người tiếp dân và thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý: thực hiện tư vấn
pháp luật; ra quyết định cử người tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và thực
hiện những hình thức trợ giúp pháp lý khác cho người được trợ giúp pháp lý;
- Tổ chức và thực hiện các đợt trợ giúp pháp lý lưu động đến các địa
bàn cơ sở xa Trung tâm;
- Hướng dẫn hoạt động và cử người trực tiếp tham dự sinh hoạt Câu
lạc bộ trợ giúp pháp lý;
- Cung cấp tờ gấp pháp luật và nói chuyện chuyên đề pháp luật tại
toàn quốc đã có 242 Văn phòng luật sư, 21 Công ty luật và 57 Trung tâm tư
vấn pháp luật đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý).
Văn phòng luật sư, Công ty luật, Trung tâm tư vấn pháp luật khi tham
gia trợ giúp pháp lý có quyền lợi và trách nhiệm sau đây:
- Được thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi Giấy đăng ký tham gia
trợ giúp pháp lý; phối hợp với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc Chi
nhánh của Trung tâm để thực hiện có hiệu quả vụ việc trợ giúp pháp lý.
- Được đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu
liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý để phục vụ thực hiện trợ giúp pháp lý.
- Được giới thiệu người có yêu cầu trợ giúp pháp lý đến Trung tâm trợ
giúp pháp lý nhà nước hoặc Chi nhánh của Trung tâm để được trợ giúp pháp
lý; từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý trong những trường
hợp quy định tại Điều 45 Luật Trợ giúp pháp lý.
- Được Nhà nước hỗ trợ bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng
trợ giúp pháp lý cho đội ngũ người tham gia trợ giúp pháp lý.
- Được kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những vấn
đề liên quan đến thi hành pháp luật phát sinh trong quá trình thực hiện trợ
giúp pháp lý.
22
- Giải quyết tranh chấp trong trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật
Trợ giúp pháp lý và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Được biểu dương, khen thưởng khi có thành tích trong hoạt động trợ
giúp pháp lý hoặc có đóng góp, hỗ trợ tích cực cho việc mở rộng và phát triển
công tác trợ giúp pháp lý ở địa phương.
- Bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý và các
quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý khi người của tổ chức mình tham
gia trợ giúp pháp lý.
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện trợ giúp pháp lý
của Luật sư, Tư vấn viên pháp luật thuộc quyền quản lý của mình và chịu
sư… Ngoài ra, để trở thành Trợ giúp viên pháp lý, các chuyên viên pháp lý
phải tham dự khóa bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và dự kỳ kiểm tra để
được cấp Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý.
Tính đến tháng 6/2011, trong toàn quốc đã có 304 Trợ giúp viên pháp
lý và hơn 300 viên chức của Trung tâm đang chuẩn bị được bồi dưỡng và cấp
Chứng chỉ nghiệp vụ trợ giúp pháp lý để được bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý.
Trợ giúp viên pháp lý chiếm gần 1/3 số lượng cán bộ, công chức thuộc
biên chế các Trung tâm trợ giúp pháp lý trong toàn quốc. Trợ giúp viên pháp
lý hầu hết nắm giữ các vị trí quan trọng trong cơ cấu tổ chức bộ máy của
Trung tâm, Chi nhánh (Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng Chi nhánh, Trưởng
phòng, Phó Trưởng phòng).
Theo thống kê của Cục trợ giúp pháp lý, trong số 304 người đã được
bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý thì 100% có trình độ cử nhân luật, khoảng
trên 10% người có trình độ thạc sĩ luật, nhiều người đã qua thời gian công tác
pháp luật với các chức danh như: Thẩm phán, Điều tra viên, Kiểm sát viên,
Thư ký Tòa án…, nhiều người trước khi được bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý
đã qua các chức danh lãnh đạo như Chánh án, Trưởng phòng…, nhiều người
24
đã là luật sư, đã trực tiếp tham gia đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý. Do đó, các Trợ giúp viên đều đã
tích lũy được kinh nghiệm trong quá trình tham gia tố tụng.
Trợ giúp viên pháp lý được thực hiện trợ giúp pháp lý với các hình
thức sau:
- Tư vấn pháp luật;
- Tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của
đương sự trong vụ án hình sự; người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính;
- Đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý để thực hiện
ba năm, kể từ ngày quyết định buộc thôi việc có hiệu lực;
- Đang bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư; bị thu hồi
Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật.
1.4.3. Các hình thức hoạt động trợ giúp pháp lý
Theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý, trợ giúp pháp lý được thực
hiện thông qua các hình thức: Tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện
ngoài tố tụng, các hình thức trợ giúp pháp lý khác.
1.4.3.1. Tư vấn pháp luật
Tư vấn pháp luật là một loại hình dịch vụ trí tuệ, trong đó người có
trình độ hiểu biết pháp luật sâu rộng đưa ra những ý kiến của mình về một vấn
đề cụ thể nào đó có liên quan đến pháp luật. Những ý kiến đó không mang
tính chất bắt buộc (tính cưỡng chế) người được tư vấn phải thực hiện, nhưng
nên thực hiện bởi những lời tư vấn đó đều là những quy định của pháp luật.
Trong hoạt động trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật là một hình thức
trợ giúp pháp lý. Điều 28 Luật trợ giúp pháp lý quy định:
26
Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên, Luật sư, Tư vấn viên
pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật cho người được trợ giúp pháp
lý bằng việc hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin
pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc trợ giúp
pháp lý [42].
Như vậy, hoạt động tư vấn pháp luật do người thực hiện trợ giúp pháp
lý thực hiện bao gồm: Giải đáp pháp luật, hướng dẫn soạn thảo, góp ý kiến
cho đơn từ, văn bản có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân, hướng
dẫn những thủ tục cần thiết, cung cấp địa chỉ cơ quan có thẩm quyền giải quyết
vụ việc, cung cấp những thông tin pháp lý, đưa ra những lời khuyên về những
vấn đề có liên quan đến pháp luật và hướng dẫn đối tượng ứng xử phù hợp
với pháp luật nhằm giúp cho người yêu cầu tư vấn nâng cao trình độ hiểu biết
và ý thức pháp luật để họ thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.