Hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư ở việt nam hiện nay - Pdf 30


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ VIỆT HÀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


HÀ NỘI - 2015 3

Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn Trần Thị Việt Hà


1.2.1.
Khái niệm luật sư
12
1.2.2.
khái niệm hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư
15
1.2.3.
Đặc điểm hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư ở Việt Nam
20
1.2.4.
Ý nghĩa hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư
25
1.3.
Mô hình trợ giúp pháp lý của luật sư ở một số nước trên thế giới
27
1.4.1.
Tập thể luật sư của Ấn Độ
29
1.4.2.
Quỹ đoàn luật sư thành phố tại thành phố New York
30
1.4.3.
Trung tâm hỗ trợ pháp lý Nhật Bản
30
1.4.4.
Một số đặc điểm chung về luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý
trên thế giới
31

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ HOẠT ĐỘNG TRỢ

Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư
49
2.2.4.
Hoạt động đại diện ngoài tố tụng của luật sư
51
2.2.5.
Các hình thức trợ giúp pháp lý khác
52
2.3.
Đánh giá chung về thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý của
luật sư
53
2.3.1.
Những ưu điểm về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư
53
2.3.2.
Những bất cập, hạn chế về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư
55
2.3.3.
Nguyên nhân
57

Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI
TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP
PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM
60
3.1.
Các yêu cầu về bảo đảm và tăng cường hoạt động trợ giúp
pháp lý của luật sư ở Việt Nam
60

3.2.1.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về trợ giúp pháp lý
69
3.2.2.
Tăng cường công tác thông tin, truyền thông về trợ giúp pháp
lý nói chung và quyền được trợ giúp pháp lý của người dân
nói riêng
71
3.2.3.
Kiện toàn, nâng cao năng lực đội ngũ luật sư tham gia trợ
giúp pháp lý
72
3.2.4.
Xây dựng nghĩa vụ thực hiện trợ giúp pháp lý của luật sư
73
3.2.5.
Hoàn thiện chế độ chính sách đối với luật sư thực hiện trợ
giúp pháp lý
82
3.2.6.
Tăng cường hợp tác quốc tế về trợ giúp pháp lý
83
3.2.7.
Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp
pháp lý của luật sư
84

KẾT LUẬN
86


đương sự trong vụ án dân sự, lao động đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW: "Nghiên cứu thực hiện và phát triển
các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ

8
động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình" [19]. Việc có mặt của Trợ giúp viên pháp lý hay luật sư là cộng tác
viên của tổ chức trợ giúp pháp lý tại phiên tòa, trong quá trình tố tụng là điều
vô cùng cần thiết nhằm góp phần đem lại những phán quyết phù hợp với pháp
luật cho mỗi người dân đặc biệt là những nhóm người yếu thế trong xã hội.
Đồng thời, luật sư tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý đã thể hiện được chức
năng xã hội nghề nghiệp của luật sư trong việc góp phần bảo vệ công lý, các
quyền tự do, dân chủ của nhân dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ
quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, từ thực tiễn hoạt động trợ giúp
pháp lý của luật sư cũng bộc lộ những khó khăn, hạn chế, yếu kém làm ảnh
hưởng đến hiệu quả của hoạt động này. Vì vậy, cần nghiên cứu một cách đầy
đủ các yếu tố tác động hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư như: số lượng
luật sư nói chung và số lượng luật sư tham gia trợ giúp pháp lý tại một số địa
phương còn thấp, chất lượng luật sư chưa cao, kinh phí bảo đảm cho hoạt
động này còn nhiều thiếu thốn và hạn chế chưa tương xứng với nhiệm vụ
Xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay, việc nghiên cứu đề tài: "Hoạt động
trợ giúp pháp lý của luật sư ở Việt Nam hiện nay" là yêu cầu khách quan,
cần thiết cả về phương diện lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của
luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp, góp phần xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
2. Tình hình nghiên cứu
Trợ giúp pháp lý là nhiệm vụ quan trọng hệ thống chính trị trong đó
ngành Tư pháp giữ vai trò trung tâm. Việc ban hành chính sách trợ giúp pháp

Luận văn thạc sĩ Luật học "Chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý ở
Việt Nam" của Phạm Quang Đại. Luận văn đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn
vấn đề chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý cũng như làm rõ thực trạng chất

10
lượng trợ giúp pháp lý hiện nay và quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng
trợ giúp pháp lý.
Luận văn thạc sĩ Luật học "Pháp luật về Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt
Nam" của Nguyễn Thị Mận. Luận văn nghiên cứu lý luận, pháp lý về trợ giúp
pháp lý và tổ chức, hoạt động của Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam từ đó làm
rõ vị trí, vai trò và ý nghĩa của Quỹ, đưa ra các quan điểm, giải pháp nhằm
nâng cao hoạt động của Quỹ.
Các công trình trên đã nghiên cứu các mặt, khía cạnh khác nhau của
hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, đến nay vấn đề đánh giá vị trí, vai trò
của luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý vẫn chưa có công trình nào
nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và tổng thể về lý luận và thực tiễn. Vì vậy,
với đề tài "Hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư ở Việt Nam hiện nay",
tác giả luận văn sẽ đi sâu phân tích làm sáng tỏ các vấn đề có liên quan cả về
mặt lý luận và thực tiễn, góp phần tìm ra giải pháp, định hướng phát triển hoạt
động trợ giúp pháp lý của luật sư.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn
về vị trí, vai trò của luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý, trên cơ sở đó
đánh giá chính xác nhất về giá trị của luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý
để từ đó đưa ra định hướng nhằm nâng cao hiệu quả của luật sư trong hoạt
động trợ giúp pháp lý trong thời gian tới.
Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu các nội dung sau đây:
- Các khái niệm, đặc điểm hoạt động trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ
giúp pháp lý của luật sư.
- Phân tích đánh giá thực trạng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn sẽ nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về vai trò của
luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở đó đưa ra một số giải

12
pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của luật sư trong hoạt động trợ
giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời gian tới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa thiết thực cả về phương
diện lý luận cũng như thực tiễn về vấn đề hoạt động trợ giúp pháp lý của luật
sư ở Việt Nam hiện nay. Luận văn đã nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về cơ
sở lý luận, pháp lý về trợ giúp pháp lý nói chung và hoạt động trợ giúp pháp
lý của luật sư nói riêng; đánh giá đúng những kết quả đã đạt được của luật sư
trong hoạt động trợ giúp pháp lý, cũng như phát hiện những khó khăn, hạn
chế, tồn tại làm ảnh hưởng đến hoạt động này của luật sư; từ đó đưa ra những
định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hoạt động này.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham
khảo cho việc xây dựng chính sách liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý
của luật sư trong thời gian tới. Đồng thời, luận văn có thể được sử dụng làm
tài liệu tham khảo trong công tác đào tạo và nghiên cứu.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về hoạt động trợ giúp pháp lý của
luật sư.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và hoạt động trợ giúp pháp lý của luật
sư ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của luật sư
trong hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam.



14
là những khía cạnh, phương diện khác nhau của đời sống pháp luật của một
quốc gia, "pháp lý" chỉ những lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, giá trị pháp lý bắt
buộc từ một sự việc, hiện tượng xã hội, những nguyên lý, phạm trù, khái niệm
lý luận về pháp luật [45, tr. 606]. Do vậy, dù là "giúp đỡ", "bảo trợ" hay "hỗ
trợ" cũng có thể được hiểu là "trợ giúp". Ở đây trợ giúp được hiểu là sự giúp
đỡ cho ai đó đang gặp khó khăn, nhằm làm giảm bớt khó khăn về một vấn đề
mà họ đang cần và cái họ đang cần ở đây là pháp lý.
Như vậy, có nhiều cách gọi khác nhau có cùng nghĩa với thuật ngữ
"trợ giúp pháp lý" nhưng thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" có nghĩa chung nhất, rõ
nhất nêu bật được sự giúp đỡ, hỗ trợ đối với những trường hợp có khó khăn
về mặt pháp lý.
Ở Việt Nam, thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được sử dụng trong các tài
liệu nghiên cứu từ năm 1995, bắt đầu từ Đề án nghiên cứu về hoạt động trợ
giúp pháp lý ở Việt Nam của Bộ Tư pháp. Đến năm 1996, thuật ngữ "trợ giúp
pháp lý" được sử dụng trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Mô hình tổ
chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện
hiện nay" của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp. Năm 1997,
thuật ngữ này được sử dụng trong Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của
Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người
nghèo và đối tượng chính sách. Tiếp đó, các văn bản pháp luật hướng dẫn
thực hiện Quyết định 734/TTg và một số văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực
khác cũng đề cập đến thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" như Pháp lệnh Luật sư năm
2001, Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư ban hành kèm theo Quyết định số
356b/2002/QĐ-BTP ngày 05/8/2002 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp… Ngoài ra,
trong nhiều văn bản, chính sách khác của Nhà nước đã nhắc đến thuật ngữ
"Trợ giúp pháp lý". Đặc biệt, tại Điều 3, Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội
thông qua ngày 29/6/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 đã đưa ra
khái niệm về trợ giúp pháp lý như sau:


16
sử dụng các dịch vụ pháp lý thông thường như: người nghèo, người có công
với cách mạng, người khuyết tật, trẻ em, người già cô đơn không nơi nương
tựa…; về nội dung dịch vụ cung cấp: giúp đỡ về pháp luật thông qua các hình
thức như tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, giúp đỡ
thực hiện các công việc liên quan đến thủ tục hành chính, giải quyết khiếu
nại…; về quy trình thực hiện: trên cơ sở các nguyên tắc và quy định của pháp
luật, nhằm bảo đảm chất lượng và mục đích của nó là giúp đỡ, hỗ trợ mà
không phải là cung cấp dịch vụ có tính chất ngang giá; miễn hoặc giảm phí).
Tính chất đặc thù của trợ giúp pháp lý thể hiện rõ nét nhất đó là trợ giúp pháp
lý không phải là dịch vụ pháp lý có tính chất ngang giá, thỏa thuận giữa chủ
thể cung cấp và đối tượng cung cấp mà nó có mục đích giúp đỡ, hỗ trợ cho
những người có hoàn cảnh đặc biệt (không có khả năng tiếp cận với dịch vụ
pháp lý có thu phí) tiếp cận và sử dụng pháp luật để nâng cao nhận thức pháp
luật, tự bảo vệ hoặc được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nhằm bảo đảm
công bằng trong tiếp cận pháp luật giữa nhóm người này với những người
khác có điều kiện kinh tế trong xã hội. Vì vậy, so với dịch vụ pháp lý chung,
trợ giúp pháp lý có đối tượng, phạm vi, lĩnh vực pháp luật trợ giúp, tổ chức,
người thực hiện hẹp hơn.
Ở Việt Nam, cách tiếp cận của Luật Trợ giúp pháp lý về khái niệm trợ
giúp pháp lý cũng phù hợp với tính chất của hoạt động này trong lịch sử hình
thành và phát triển trợ giúp pháp lý trên thế giới. Đó là giúp đỡ cho những đối
tượng yếu thế trong xã hội (chủ yếu về kinh tế) tiếp cận với dịch vụ pháp lý
để nâng cao nhận thức pháp luật và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Đồi
thời, cũng thể hiện rõ đặc thù của trợ giúp pháp lý ở Việt Nam. Hoạt động trợ
giúp pháp lý mở rộng và vươn tới không chỉ người nghèo mà còn đối với
người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người già cô đơn, người tàn tật,
trẻ em không nơi nương tựa, người được trợ giúp pháp lý theo các Điều ước


18
nước giải quyết các mối quan hệ xã hội đang có sự bất ổn, giữ đoàn kết cộng
đồng, bảo đảm ổn định trật tự và an toàn xã hội.
Trợ giúp pháp lý mang tính pháp lý rõ nét bởi chính phương thức hoạt
động và mục đích hướng tới của nó. Trợ giúp pháp lý là sự giúp đỡ, hỗ trợ về
các vấn đề có liên quan đến pháp luật như tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đối tượng được Trợ giúp pháp lý
theo quy định, góp phần tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc
sống tạo cơ hội tiếp cận pháp luật thuận lợi cho các đối tượng này. Trợ giúp
pháp lý ở một số nước nhấn mạnh đến tính pháp lý như Hàn Quốc: Trợ giúp
pháp lý là việc một luật sư hoặc một cán bộ pháp lý nhà nước cung cấp dịch
vụ tư vấn pháp luật, đại diện hoặc các dịch vụ trợ giúp khác có liên quan đến
pháp luật. Ở Anh, xứ Wales, Trợ giúp pháp lý được hiểu là giúp đỡ cho
những người không có khả năng thanh toán cho các chi trả cho việc tư vấn, hỗ
trợ và đại diện pháp lý; ở Đức, trợ giúp pháp lý là việc giúp đỡ một phần hoặc
toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán cho các chi
phí về tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước Tòa án.
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP
LÝ CỦA LUẬT SƯ
1.2.1. Khái niệm luật sư
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, khi xã
hội được phân chia thành giai cấp thì xuất hiện đấu tranh giai cấp nhằm bảo
vệ quyền cơ bản của con người. Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi viết bản tuyên
ngôn độc lập, khai sinh ra nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy trong
Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa kỳ (1776) và Tuyên ngôn nhân
quyền và dân quyền của cách mạng tư sản Pháp (1789) những giá trị bền
vững: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ
những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có
quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".


20
năm 2006 quy định "Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề
theo quy định của Luật Luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá
nhân, cơ quan, tổ chức" [34]. Tiêu chuẩn luật sư được quy định tại Điều 10
Luật Luật sư như sau "Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ
Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân Luật, đã
được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức
khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành Luật sư" [34]. Ngoài ra,
người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 10 của Luật Luật sư muốn hành
nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật và gia nhập một Đoàn luật sư.
Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những
yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì việc hành nghề luật sư còn
phải tuân theo quy chế đạo đức nghề nghiệp. Điều này tạo nên nét đặc thù riêng
của nghề luật sư và nét đặc thù này tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề.
Vì vậy, xét về bản chất thì luật sư có những tính chất cơ bản như sau:
Thứ nhất, tính chất trợ giúp: nói đến trợ giúp là nói đến sự giúp đỡ,
bênh vực không vụ lợi của luật sư cho những người ở vào vị trí thấp kém.
Những người được trợ giúp thường là người bị ức hiếp, bị đối xử bất công trái
pháp luật trong xã hội hay những người nghèo, người già cô đơn, người chưa
thành niên mà không có sự đùm bọc của gia đình. Do đó, tính chất này thể
hiện hoạt động của nghề luật sư không chỉ là bổn phận mà còn là thước đo
lòng nhân ái và đạo đức của luật sư.
Thứ hai, tính chất hướng dẫn: Thông thường, luật sư thực hiện việc
hướng dẫn cho khách hàng hiểu đúng tinh thần và nội dung của pháp luật, để
từ đó họ biết cách tháo gỡ những vướng mắc sao cho phù hợp với pháp lý và
đạo đức, cũng như để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Thứ ba, tính chất phản biện: Là những biện pháp nhằm phản bác lại lý
lẽ, ý kiến quan điểm của người khác mà mình cho là không phù hợp với pháp
lý và đạo lý. Luật sư lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem


22
pháp lý. Theo các văn bản này, dịch vụ pháp lý được hiểu là hoạt động của
luật sư tham gia tố tụng (đại diện, bào chữa) hình sự, dân sự, hôn nhân, gia
đình, lao động; tư vấn pháp lý và một số dịch vụ pháp lý khác (soạn thảo đơn
từ, đánh máy…) cho các tổ chức và cá nhân.
Đến Pháp lệnh Luật sư năm 2001, quy định về "dịch vụ pháp lý" được
quy định khái quát tại Điều 1 Pháp lệnh này, theo đó, dịch vụ pháp lý bao gồm
hoạt động tố tụng, tư vấn pháp lý và dịch vụ pháp lý khác. Và quy định này được
cụ thể hóa tại Điều 14 của Pháp lệnh, phạm vi hành nghề luật sư bao gồm:
Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị can,
bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị
hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án hình sự; tham gia tố tụng với tư cách là người
đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động hoặc hành chính; tham gia
tố tụng trọng tài để giải quyết tranh chấp; tư vấn pháp luật, soạn
thảo hợp đồng, đơn từ theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức; đại diện
theo ủy quyền của cá nhân, tổ chức để thực hiện các vông việc có
liên quan đến pháp luật; thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy
định của pháp luật [40].
Như vậy, theo quy định của Pháp lệnh Luật sư năm 2001, dịch vụ pháp
lý bao gồm: dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tư pháp (tham gia tố tụng); dịch vụ
pháp lý trong lĩnh vực tố tụng trọng tài; tư vấn pháp luật; đại diện theo ủy
quyền về các công việc có liên quan đến pháp luật; các dịch vụ pháp lý khác.
Đến Luật Luật sư năm 2006, thuật ngữ "dịch vụ pháp lý" đã được quy
định thành một điều luật riêng, theo Điều 4 của Luật Luật sư: "Dịch vụ pháp
lý của luật sư bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố
tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác" [34]. Theo Điều 22 Luật
Luật sư, phạm vi hành nghề của luật sư bao gồm:


24
"dịch vụ pháp lý" theo quy định của luật này bao gồm: tư vấn pháp luật; tham
gia tố tụng; đại diện ngoài tố tụng; hòa giải; thực hiện những công việc liên
quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại và các hoạt động khác theo quy định
của luật này. Điều 5 của Luật Trợ giúp pháp lý cũng giới hạn việc cung cấp
dịch vụ pháp lý miến phí không thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Như
vậy, quan niệm về dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý
có phạm vi hẹp hơn theo quy định của Luật Luật sư.
Có quan niệm cho rằng:
Dịch vụ pháp lý với khái niệm nội hàm của nó có thể hiểu là tổng thể
các dịch vụ tư vấn pháp luật và dịch vụ đại diện pháp lý. Theo đó, dịch vụ tư
vấn pháp luật được hiểu là hoạt động cung cấp các ý kiến pháp lý, giải pháp
của các chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý cho các cá nhân, tổ chức có yêu cầu
(gọi chung là khách hàng). Còn dịch vụ đại diện pháp lý được hiểu là chủ thể
cung cấp dịch vụ sẽ là người đại diện cho khách hàng, thay mặt cho khách
hàng trước các cơ quan, tổ chức, trước các đối tác của khách hàng để thực
hiện các công việc có liên quan đến quyền và nghĩa vụ khách hàng theo đúng
quy định của pháp luật.
Quan điểm khác cho rằng, "dịch vụ pháp lý và dịch vụ của luật sư có
phải là hai khái niệm khác nhau hay không, vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi.
Song ở Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay nên được hiểu như nhau" [38].
Các quy định của pháp luật về luật sư và các quan niệm trên đây
khẳng định dịch vụ pháp lý là dịch vụ của luật sư hay nói cách khác, chỉ có
luật sư mới được cung cấp dịch vụ pháp lý. Theo quy định của Luật Trợ giúp
pháp lý thì dịch vụ pháp lý miễn phí là hoạt động của các chủ thể nhất định
theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý nhằm cung cấp cho người
nghèo, đối tượng chính sách các dịch vụ pháp lý cụ thể trong các vấn đề liên
quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của họ và không thu phí.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status