MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU 3
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƢƠNG 1 10
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ
HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 10
1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ TRONG VIỆC
CHĂM SÓC, BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 10
1.1.1. QUYỀN CON NGƢỜI VÀ QUYỀN TRẺ EM. 10
1.1.2. KHÁI NIỆM CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH
ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ 17
2. BẢN CHẤT PHÁP LÝ VÀ ĐẶC ĐIỂM CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM
CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 22
3. KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN
CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN Ở VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐỌAN PHÁT
TRIỂN 26
3.1. GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1980 TRỞ VỀ TRƢỚC 26
3.2. THỜI KỲ SAU NĂM 1980 ĐẾN NAY 28
CHƢƠNG 2 32
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT
VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
Ở VIỆT NAM 32
2.1. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ
TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 33
2.1.1. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ 33
2.1.2. NGUYÊN TẮC PHÁP LÝ 40
2.1.3. QUY ĐỊNH VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH
KHÓ KHĂN 43
CỘNG ĐỒNG, CỦA LÃNH ĐẠO CHÍNH QUYỀN 88
GIẢI PHÁP 3. GIẢI QUYẾT CÁC NGUYÊN NHÂN CHỦ QUAN DẪN ĐẾN
TRẺ RƠI VÀO HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN 88
GIẢI PHÁP 4. ĐẦU TƢ HIỆU QUẢ 89
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 DANH MỤC BẢNG BIỂU
TT
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1
Kinh phí dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
giai đoạn 2001 - 2005
69
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam sau 20 năm tiến hành đổi mới đã đạt được những thành tựu
to lớn về kinh tế, chính trị, xã hội và tạo được những chuyển biến rõ rệt trên
mọi mặt đời sống xã hội. Mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa trong đó các quyền con người được quan tâm và là một trong những nội
dung chính của quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay.
Hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ em được Đảng và Nhà nước quan
tâm và đã đạt được những thành tựu nhất định, và vị thế của nước ta trên
trường quốc tế ngày càng được khẳng định. Tuy nhiên, sự tác động của quá
trình hội nhập kinh tế thế giới, toàn cầu hóa và đô thị hóa, sự chuyển đổi cơ
chế quản lý và định hướng kinh tế thị trường cũng đồng thời làm nảy sinh
cũng đã được tham khảo. Đề tài: “Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn: cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về dân sự ở Việt Nam
hiện nay” mong muốn tìm hiểu các quy định hiện hành về chăm sóc và bảo vệ
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên cơ sở nghiên cứu bản chất của
quyền trẻ em trong pháp luật dân sự, để từ đó đưa ra một số phương hướng và
giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động chăm sóc và
bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những khía cạnh lý luận và
thực tiễn pháp lý về dân sự trong việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn trên cơ sở nghiên cứu các quy định của luật thực định,
tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định này; từ đó đề ra một số phương
hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật chăm sóc và bảo vệ trẻ
em nói chung trong điều kiện hiện nay.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về dân sự trong chăm sóc,
bảo vệ trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói
riêng tại Việt Nam
- Phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam về chăm sóc và
bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cũng như việc thi hành
trong thực tiễn để thấy được những điểm phù hợp và những điểm chưa
phù hợp, làm cơ sở đưa ra các khuyến nghị
- Đề xuất một số giải pháp và phương hướng để các quy định của pháp
luật Việt Nam về chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn có tính khả thi trong thực tiễn
Do điều kiện hạn chế, đề tài chủ yếu được nghiên cứu tập trung trong
phạm vi luật thực định.
4. Cơ sở phƣơng pháp luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
- Chương 2. Thực trạng pháp luật dân sự và thực tiễn thi hành pháp luật
về chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở Việt
Nam
- Chương 3. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về chăm sóc và bảo vệ trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở Việt Nam
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ
TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
1. Khái niệm và vai trò của pháp luật dân sự trong việc chăm sóc, bảo vệ
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Từ thực tiễn phát triển của Việt Nam, đặc biệt qua hơn 20 năm thực
hiện đường lối đổi mới toàn diện đời sống xã hội, trong đó đề cao hoạt động
bảo vệ quyền con người được coi là nhân tố tạo dựng nên một xã hội dân chủ,
văn minh và tiến bộ. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định : “Chăm lo cho con người, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người, tôn trọng và thực hiện các điều
ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia” [1].
Điều này đã trở thành nền tảng, định hướng chính trị quan trọng trong hoạt
động thực tiễn bảo vệ, thúc đẩy và phát triển quyền con người tại Việt Nam.
1.1.1. Quyền con người và quyền trẻ em.
Quyền con ngƣời
Trẻ em cũng là một con người, một thực thể tự nhiên – xã hội. Nghiên
cứu về trẻ em, trước hết, cần nghiên cứu trẻ em với tiếp cận từ quyền của con
người. Vậy quyền con người là gì?
Khái niệm quyền con người có thể được xem xét dưới nhiều góc độ
khác nhau (kinh tế, triết học, chính trị học…), vì vậy, đây là khái niệm rộng
chính quyền” [22].
Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người năm 1948 không đưa ra
khái niệm hay định nghĩa “quyền con người”, tuy nhiên, tuyên ngôn đã quy
định các quyền của con người được hưởng như: quyền sống, quyền tự do và
an toàn cá nhân, quyền được công nhận tư cách là con người trước pháp luật ở
mọi nơi, quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong lãnh thổ của quốc gia, quyền
được các tòa án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ, quyền có quốc tịch… [21].
Việt Nam đã tham gia, ký kết Công ước quốc tế liên quan đến quyền con
người như: Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945, Tuyên ngôn toàn thế
giới về quyền con người năm 1948… như một minh chứng cho lý tưởng thực
hiện và bảo đảm quyền con người tại nước ta. Trong sự nghiệp đổi mới hiện
nay, đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là đặt con người vào
vị trí trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, trong đó thúc đẩy và bảo
vệ quyền con người là nhân tố quan trọng để phát triển bền vững, để thực hiện
sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước một cách thắng lợi. Báo
cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản
Việt Nam nêu rõ: “ Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con
người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia”. Đây là cơ sở chính trị vững
chắc để tiến hành những hành động thực tiễn nhằm bảo vệ và thúc đẩy các
quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng ở Việt Nam trong
những năm đầu tiên của thế kỷ 21.
Quyền trẻ em
Tùy thuộc vào cách tiếp cận của từng ngành và từng lĩnh vực nghiên
cứu sẽ có những định nghĩa khác nhau về trẻ em. Trẻ em dưới góc độ tâm lý
học được xác định căn cứ vào độ tuổi và tâm lý theo từng giai đoạn phát triển.
Việc phân chia tùy thuộc vào mức độ phát triển về thể chất, trí tuệ tâm lý,
cũng như yếu tố hạ tầng văn hóa – kinh tế- xã hội của từng quốc gia. Mặc dù
niên”. Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “ Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là
người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”.
Người chưa thành niên cũng là những người chưa trưởng thành và chưa có
quyền công dân đầy đủ. Vị thành niên là giai đoạn phát triển của dậy thì,
chuyến tiếp từ trẻ em lên người lớn, theo Công ước, những người ở độ tuổi từ
11- 19 tuổi. Chia làm 3 giai đoạn: vị thành niên sớm (từ 11- 14 tuổi), vị thành
niên trung (14-16 tuổi) và vị thành niên lớn (16-19 tuổi). Như vậy, vị thành
niên bao gồm một phần của tuổi trẻ em (11-16 tuổi).
Theo Từ điển luật học [27, tr.568], thuật ngữ vị thành niên và người chưa
thành niên được hiểu như sau: “Vị thành niên (chƣa thành niên) là ngƣời
chƣa đến tuổi đƣợc pháp luật coi là đủ khả năng sử dụng quyền, làm nghĩa vụ
và chịu trách nhiệm. Ngƣời chƣa đủ 18 tuổi là vị thành niên”.
Như vậy, khái niệm người chưa thành niên trong hệ thống pháp luật
Việt Nam bao hàm cả khái niệm trẻ em, cụ thể là những người từ 16 tuổi đến
18 tuổi tuy chưa phải là người thành niên nhưng cũng không phải là trẻ em,
và tư cách chủ thể của nhóm trẻ em (dưới 16 tuổi) và nhóm từ 16 tuổi đến 18
tuổi cũng không đồng nhất về quyền và nghĩa vụ.
Quyền trẻ em là một khái niệm được hình thành từ sau Chiến tranh thế
giới thứ nhất (1914 – 1918) với việc thành lập các tổ chức Cứu trợ trẻ em ở
Anh và Thụy Điển trong năm 1919. [37,tr.153]. Ngày 20/11/1989, Đại hội
đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước về quyền trẻ em và Công ước
này có hiệu lực kể từ ngày 2/9/1990, với 54 điều khoản và được các quốc gia,
cộng đồng quốc tế công nhận. Trẻ em là nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội,
“do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt,
kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” [26].
Và trẻ em với tư cách là một con người, được công nhận có đầy đủ các quyền
con người như người đã trưởng thành, trong đó được chia ra thành 5 nhóm:
dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Trên cơ sở đó, bên cạnh quy định
về quyền con người của trẻ em như quyền được sống và phát triển, quyền
tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ…Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi
người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho
tốt” [3, tr.467-468]. Việc chăm sóc, giáo dục trẻ em thường xuyên được
Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Đặc biệt, khi đất bước vào công nghiệp hóa –
hiện đại hóa của quá trình đổi mới, bắt đầu từ năm 1986, khi Đại hội Đảng lần
thứ VI đã đề cập đến quyền của công dân, tập trung vào một số chương trình
xã hội như: tạo công ăn việc làm, chăm sóc sức khỏe ban đầu, kế hoạch hóa
gia đình, giáo dục trẻ thơ, giáo dục tiểu học, trung học và đại học cũng như
dạy nghề, bảo hiểm an toàn xã hội và quan tâm đặc biệt đến dân tộc thiểu số.
Trong năm 1989, Việt Nam phê chuẩn công ước quốc tế về quyền trẻ em và
đây là bước tiến quan trọng ghi nhận những nỗ lực của Việt Nam cho sự phát
triển thế hệ tương lai của đất nước. Sau đó Việt Nam tiếp tục phê chuẩn công
ước số 182 của ILO về chống lại các hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ
em…
Những biến đổi sâu sắc trên phạm vi toàn xã hội cũng như đối với mỗi
gia đình đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến trẻ em. Triển khai thực hiện
quyền trẻ em cũng góp phần vào thực hiện quyền con người. Chính phủ Việt
Nam khẳng định: “ Công ước về quyền trẻ em là một trong những điều ước
Liên hợp quốc quan trọng về quyền con người mà Việt Nam đã phê chuẩn.
hiện tại, thực hiện quyền trẻ em là một trong những trọng tâm của quyền con
người ở Việt Nam”.
1.1.2. Khái niệm chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
và vai trò của pháp luật dân sự
Khái niệm chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, trên cơ sở những quy định của
công ước về Quyền trẻ em về một nhóm trẻ cần sự bảo vệ đặc biệt. Nhóm trẻ
cần sự bảo vệ đặc biệt gồm: trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi, trẻ em khuyết tật,
cư để kiếm sống, trẻ em phải theo cha mẹ sống trên sông trên biển để
làm nghề cá, trẻ em lao động sớm….
Với quan niệm này, nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn cần được chăm sóc đã được mở rộng hơn so với quy định của Luật Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.
Tóm lại, có thể khái quát rằng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là
trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ
điều kiện thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em và hòa nhập với gia đình,
cộng đồng.
Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Chăm sóc trẻ em hiểu theo nghĩa thông thường, là những hoạt động
nhằm nhận biết và đáp ứng nhu cầu về mặt vật chất và tinh thần để đảm bảo
sự phát triển hài hòa của trẻ em (nhu cầu về ăn mặc, về học hành, về vui chơi
giải trí, nhu cầu được gia đình yêu thương, chăm sóc, nhu cầu được tôn
trọng Bảo vệ trẻ em được hiểu là thực hiện những hành động, những biện
pháp phòng ngừa, khắc phục hậu quả do những hành vi vi phạm gây ra làm
cản trở sự phát triển bình thường của trẻ.
Dưới góc độ pháp luật dân sự, chăm sóc và bảo vệ trẻ em là những hoạt
động, hình thức pháp lý mà các cơ quan, tổ chức và cá nhân áp dụng nhằm
đảm bảo cho trẻ em được thụ hưởng và thực hiện các quyền cơ bản về nhân
thân và tài sản của mình.
Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là một bộ
phận, một chế định pháp luật hỗn hợp, với ý nghĩa đó là tổng hợp các quy
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong
quá trình thực hiện chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn.
Đặc điểm của trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Thực tế, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có mức độ khó khăn hơn nhiều so
với trẻ em khác, biểu hiện ở các khía cạnh kinh tế, sức khỏe, điều kiện gia
tảng cơ bản của xã hội. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn phần lớn
không dược học hành đầy đủ, trong đó, tỷ lệ trẻ em tàn tật, khuyết tật ít được
tiếp xúc với giáo dục là cao nhất.
Tình trạng sức khỏe của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cũng là
vấn đề đáng báo động, đặc biệt là trẻ tàn tật vì cần có chi phí cho việc chữa
trị. Đối với trẻ em lao động sớm, nghiện ma túy, mại dâm phải lao động làm
việc quá sức nên thường hay đau ốm. Phần lớn trẻ em mại dâm mắc các bệnh
lây qua đường tình dục… ốm đau, ăn uống thiếu thốn, không thể trả phí chữa
trị, thiếu kiến thức chăm sóc sức khỏe là những nguyên nhân chính.
Trước tình trạng đó, Chính phủ đã có những hoạt động mạnh mẽ, đặc
biệt là Chương trình 134 “ bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” với các đối
tượng cụ thể. Kết quả thực tế là đã đạt được 70% mục tiêu trẻ em mồ côi, trẻ
em có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc, giúp đỡ, trong đó 40% được chăm
sóc tại gia đình, cộng đồng; 30% trẻ em bị chất độc hoá học, trẻ em mồ côi
không nơi nương tựa được chăm sóc tại các Trung tâm bảo trợ xã hội, được
hưởng chính sách thường xuyên của Nhà nước. 100% trẻ em hồi hương hợp
pháp được chăm sóc, tái hòa nhập; trên 80% trẻ em sứt môi, hở hàm ếch được
phẫu thuật nụ cười. Số trẻ em bị buôn bán, bị xâm hại, trẻ em lang thang đang
có chiều hướng gia tăng…
Hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ em đã được đánh dấu bằng một mốc
quan trọng là việc gia nhập và phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em
năm 1989 của Liên Hợp Quốc. Thực tế nhiều mô hình chăm sóc trẻ em có
hoàn cảnh khó khăn đã được xây dựng và hoạt động trên phạm vi toàn quốc
nhưng với con số 1,2 triệu trẻ em tàn tật, 140.000 trẻ em mồ côi, 21.000 trẻ
em lang thang, 1.700 trẻ em bị xâm hại tình dục… và những trẻ em thuộc
nhóm trẻ em nghèo cho thấy còn rất hạn chế. Và chất lượng của hoạt động
chăm sóc và bảo vệ đang gặp những trở ngại về kinh tế - xã hội - hành chính –
pháp lý.
Vai trò của luật dân sự :
sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cũng có những điểm
khác biệt với chăm sóc trẻ em nói chung. Điều này đã được quy định tại
Chương IV của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004. Cụ thể
là: “…coi trọng việc phòng ngừa, ngăn chặn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc
biệt; kịp thời giải quyết, giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em; kiên trì giúp
đỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt phục hồi sức khỏe….”.
Xét trên khía cạnh pháp luật, các em chưa có đủ năng lực hành vi nói
chung và năng lực hành vi dân sự nói riêng. Năng lực pháp luật dân sự được
quan niệm là khả năng mà pháp luật quy định hay ghi nhận cho công dân có
quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. Như thế, năng lực pháp luật dân sự của trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn xuất hiện trên cơ sở các quy định của
pháp luật dân sự. Các quy định này có được thực hiện hay không lại phụ
thuộc vào khả năng của mỗi công dân hay năng lực hành vi của họ. Năng lực
hành vi dân sự của công dân là khả năng bằng chính hành vi của bản thân họ
tham gia trực tiếp vào quan hệ do ngành luật dân sự điều chỉnh, tự hoàn thành
mọi nhiệm vụ, tạo ra và thực hiện quyền, hưởng mọi quyền lợi của mình. Nói
cách khác, năng lực hành vi dân sự của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
chính là khả năng tham gia các quan hệ pháp luật dân sự của trẻ em. Pháp luật
xác định khả năng này dựa trên các 2 yếu tố tuổi và sức khỏe (bao gồm sức
khỏe thể lực và sức khỏe trí lực). Điều kiện sức khỏe về thể lực công dân cần
phải có là tình trạng sức khoẻ bình thường để có thể thực hiện được các công
việc trong sinh hoạt và lao động sản xuất nhất định theo yêu cầu chung của xã
hội. Điều kiện sức khỏe về trí lực là khả năng nhận thức của công dân đối với
hành vi mà họ thực hiện. Để có sức khoẻ và trình độ nhận thức như trên, công
dân phải đạt đến một độ tuổi nhất định và phát triển bình thường, khi đó công
dân mới có năng lực hành vi dân sự như quy định tại Điều 19 Bộ luật Dân sự
“Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ…”.
Trong quan hệ dân sự, năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi
cảnh đặc biệt khó khăn thì nhiều em là lao động chính nuôi sống bản thân và
gia đình mình nhưng những công việc các em đang làm lại không được điều
chỉnh bởi pháp luật như: nhặt rác, bán báo… và chịu sự thua thiệt khi tham
gia các “giao dịch” với người lớn. Bên cạnh đó, quan niệm truyền thống con
phải theo cha: “ con phải làm việc để gia đình thêm giàu có…” [28, tr.39]
vẫn còn phổ biến trong xã hội, nhiều gia đình thay vì khuyến khích con đến
trường lại bắt con phải ở nhà lao động giúp cha mẹ - nghĩa là đứa trẻ phải
thực hiện nghĩa vụ lao động trước khi được hưởng quyền học tập. Những em
mồ côi hoặc bị bỏ rơi tuy không được yêu thương chăm sóc nhưng vẫn có thể
tự mình làm một số công việc để kiếm sống, còn những em bị khuyết tật bị
coi là “đồ vô tích sự, bỏ đi, ăn bám” gặp nhiều khó khăn hơn nữa. Khả năng
tự vệ của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn rất yếu khi phải trực tiếp
tham gia và các mối quan hệ xã hội. Với tuổi đời còn nhỏ, trí tuệ và thể lực
chưa phát triển đầy đủ, thêm vào đó trình độ nhận thức kém, nên dễ bị lạm
dụng, bị cưỡng bức, xâm hại của người lớn.
Quy định trong Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, cũng như các văn bản pháp luật liên
quan khác cho thấy việc chăm sóc, bảo vệ trẻ được thực hiện chủ yếu mang
tính cứu trợ, và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là đối tượng được thụ
hưởng từ các cơ quan – tổ chức – cá nhân, còn bản thân đối tượng này dường
như mất vai trò chủ động tự chăm sóc, tự bảo vệ bản thân khi tham gia các
quan hệ xã hội do ngành luật dân sự điều chỉnh. Chính vì lẽ đó, các quyết
định liên quan được đưa ra căn cứ trên cơ sở một quyết định của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền hoặc sự tự nguyện của gia đình/ thân nhân của trẻ. Sự tự
nguyện hay ý chí của trẻ trong trường hợp này gần như không được xem xét,
nguyên nhân xuất phát từ việc trẻ em chưa có đủ năng lực hành vi trước pháp
luật. Do đó, chế định về giám hộ đã ra đời nhằm giúp trẻ thực hiện những
quyền đó, nhưng hiệu quả hoạt động của giám hộ vẫn còn chưa thuyết phục.
3. Khái quát pháp luật chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt