Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ
giúp pháp lý
Nguyễn Bích Ngọc
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: TS. Trần Huy Liệu
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý về tổ chức, hoạt động, hiệu
quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam. Phân tích, đánh giá thực trạng và hiệu
quả tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời gian qua, phát
hiện những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân để có giải
pháp hoàn thiện. Nghiên cứu các quan điểm đổi mới, hoàn thiện hoạt động trợ
giúp pháp lý ở Việt Nam. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời gian tới.
Keywords: Lịch sử nhà nước; Trợ giúp pháp lí; Pháp luật Việt Nam
Content
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Từ sau Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, cùng với việc đổi
mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nhằm "thực
hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân", "vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" [20, tr. 129].
Để góp phần thực hiện các mục tiêu trên, Đảng và Nhà nước đã quan tâm chỉ
đạo "cần phải mở rộng loại hình tư vấn pháp luật phổ thông, đáp ứng nhu cầu rộng rãi, đa
dạng của các tầng lớp nhân dân cần nghiên cứu lập hệ thống dịch vụ tư vấn pháp luật
không lấy tiền để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật" [39, tr. 1]; "tổ
chức hình thức tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạo điều kiện cho
thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả, phát triển hoạt động trợ giúp pháp lý, góp phần thực
hiện Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020 định hướng đến
2030 và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trợ giúp pháp lý là một hoạt động còn tương đối mới mẻ, tuy nhiên đến nay, đã
có một số đề tài nghiên cứu tiến sĩ, thạc sĩ, đề tài cấp Bộ và các bài báo, tạp chí, chuyên
đề nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến lĩnh vực này.
Về đề tài nghiên cứu cấp Bộ:
Đề tài "Mô hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện
trong điều kiện hiện nay" (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ), do Viện Khoa học pháp lý
- Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện, Chủ nhiệm Đề tài: TS. Tạ Thị Minh Lý. Đề tài đã tập trung
nghiên cứu về cơ sở lý luận, mục đích, ý nghĩa của hoạt động trợ giúp pháp lý; thực trạng
tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó đề xuất các phương hướng hoàn thiện tổ
chức và hoạt động này trong thời gian tới.
"Luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng Pháp lệnh trợ giúp pháp lý" (Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Bộ), do Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện,
Chủ nhiệm Đề tài: TS. Tạ Thị Minh Lý. Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để
xây dựng Pháp lệnh trợ giúp pháp lý thông qua việc phân tích, đánh giá, so sánh các vấn
đề có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong thời gian qua. Tuy
nhiên, Quốc hội đã cho ý kiến nâng Dự án Pháp lệnh trợ giúp pháp lý lên thành Luật trợ
giúp pháp lý và đưa vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2006.
Các luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ:
Luận án tiến sĩ "Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong điều
kiện đổi mới" của Tạ Thị Minh Lý. Luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý
của điều chỉnh pháp luật và điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý; thực trạng điều
chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý và phương hướng hoàn thiện việc điều chỉnh pháp
luật về trợ giúp pháp lý trong điều kiện đổi mới.
Luận văn thạc sĩ "Hoàn thiện các hình thức tiếp cận pháp luật của người nghèo
ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" của Đỗ Xuân Lân. Luận văn tập trung nghiên cứu
và nguyên nhân để có giải pháp hoàn thiện.
- Nghiên cứu các quan điểm đổi mới, hoàn thiện hoạt động trợ giúp pháp lý ở
Việt Nam. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý
trong thời gian tới.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về
hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, thực trạng về tổ chức và hiệu quả hoạt động trợ
giúp pháp lý ở Việt Nam từ khi thực hiện Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 đến nay. Trên cơ
sở đó có các định hướng, giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở
Việt Nam trong thời gian tới.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những quan điểm của Đảng về trợ giúp
pháp lý. Các văn kiện của Đảng, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm
2001, các văn bản pháp luật về trợ giúp pháp lý, các báo cáo kết quả hoạt động, các công
trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước cũng được tham khảo và kế thừa có chọn
lọc.
- Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận của triết học
Mác - Lênin là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các
phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê. Đồng thời, tác giả còn sử
dụng phương pháp khai thác và sử dụng các tư liệu thực tiễn để hoàn chỉnh luận văn.
7. Đóng góp của luận văn
Luận văn có ý nghĩa thiết thực cả về phương diện lý luận cũng như phương diện
thực tiễn. Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận, pháp lý
về hoạt động trợ giúp pháp lý, hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý; từ việc phân tích,
đánh giá thực trạng hiệu quả tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời
gian qua, phát hiện những khó khăn, hạn chế, tồn tại làm ảnh hưởng đến hiệu quả của
hoạt động trợ giúp pháp lý, luận văn đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động trợ giúp pháp lý trong thời gian tới. Đồng thời, luận văn có thể phục vụ cho việc
nghiên cứu, tìm hiểu về hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam.
ban hành Kế hoạch năm 2012 triển khai thực hiện Chiến lược phát triển trợ giúp
pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Hà Nội.
8. Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo kết quả 05 năm triển khai thi hành Luật trợ giúp pháp
lý, Hà Nội.
9. Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo kết quả 03 năm thực hiện Đề án "Quy hoạch mạng lưới
Trung tâm trợ giúp pháp lý và Chi nhánh của Trung tâm giai đoạn 2008 - 2010, định
hướng đến năm 2015", Hà Nội.
10. Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo sơ kết 04 năm triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số
10/TTLT về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, Hà Nội.
11. Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Toà án nhân dân tối cao (2007), Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-
BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/12 hướng dẫn áp dụng một số quy định về trợ
giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, Hà Nội.
12. Chính phủ (1997), Quyết định số 734/TTg ngày 06/9 của Thủ tướng Chính phủ về việc
thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý, Hà Nội.
13. Chính phủ (2007), Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01 quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, Hà Nội.
14. Chính phủ (2008), Quyết định số 792/QĐ-TTg ngày 23/6 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án "Quy hoạch mạng lưới của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và
Chi nhánh của Trung tâm, giai đoạn 2008-2010, định hướng đến năm 2015", Hà
Nội.
15. Chính phủ (2011), Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 -
2015, Hà Nội.
16. Chính phủ (2011), Quyết định số 678/QĐ-TTg ngày 10/5 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020,
định hướng đến năm 2030, Hà Nội.
17. Chính phủ (2011), Nghị quyết số 08/NQ-CP ngày 19/5 về định hướng giảm nghèo
bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020, Hà Nội.
18. Huỳnh Văn Chưa (2011), "Tăng cường trợ giúp pháp lý - một trong những nguồn
Hà Nội.
33. Hoàng Thị Kim Quế (2011), "Hiệu quả và tiêu chí đánh giá hiệu quả phổ biến, giáo dục
pháp luật ở nước ta hiện nay", Kỷ yếu: Toạ đàm tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp tổ chức, Hà Nội.
34. Quốc hội (2006), Luật Trợ giúp pháp lý, Hà Nội.
35. Quốc hội (2010), Luật người khuyết tật, Hà Nội.
36. Quốc hội (2011), Luật Phòng, chống mua bán người, Hà Nội.
37. Lê Thị Kim Thanh (2002), "Mô hình trợ giúp pháp lý của một số nước trên thế giới",
Đặc san Trợ giúp pháp lý, (1), tr 46-50.
38. Minh Thu (2003), "Trợ giúp pháp lý ở Trung Quốc", Đặc san trợ giúp pháp lý, (3), tr
59-62.
39. Văn phòng Trung ương Đảng (1995), Thông báo số 485/CV-VPTW ngày 31/5 về ý
kiến chỉ đạo của Ban Bí thư đối với Quy chế hành nghề tư vấn pháp luật, Hà Nội.
40. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2004), Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc
xây dựng Pháp lệnh trợ giúp pháp lý, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
41. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (1999), Mô hình tổ chức và hoạt
động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay, Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
42. Viện Ngôn ngữ học (1994), Từ điển tiếng Việt, Khoa học xã hội, Hà Nội.
43. Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật (2011), "Tham luận toạ đàm tiêu chí đánh giá hiệu
quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật", Kỷ yếu: Toạ đàm tiêu chí đánh giá hiệu
quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp tổ chức, Hà Nội.
44. Nguyễn Như Ý, (1999) Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.
45. Hải Yến (2010), "Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước: Nâng cao hiệu quả hoạt động
của các Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, http://www.baomoi.com, ngày 15/10.