BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***
NGUYỄN ĐÌNH PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐIỂM DÂN CƯ
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VŨ THỊ BÌNH
HÀ NỘI, 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Phương Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Yêu cầu của đề tài 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1. Cơ sở lý luận và pháp lý về phát triển hệ thống điểm dân cư 3
1.1.1. Những khái niệm về điểm dân cư 3
1.1.2. Phân loại hệ thống điểm dân cư 3
1.1.3. Căn cứ pháp lý của phát triển hệ thống điểm dân cư 5
2.3. Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1. Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu 28
2.3.2. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu và tổng hợp 29
2.3.3. Phương pháp phân loại điểm dân cư 29
2.3.4. Phương pháp xây dựng bản đồ 34
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Đan Phượng - TP. Hà Nội 35
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường. 35
3.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 39
3.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến
việc hình thành và phát triển các điểm dân cư 44
3.2. Thực trạng phát triển hệ thống điểm dân cư trên địa bàn huyện Đan Phượng
46
3.2.1. Đánh giá tình hình quản lý và hiện trạng sử dụng đất khu dân cư huyện
Đan Phượng 46
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.2.2. Thực trạng phát triển và phân bố khu dân cư 53
3.2.3. Phân loại hệ thống điểm dân cư 55
3.2.4. Thực trạng kiến trúc, cảnh quan trong điểm dân cư 62
3.2.5. Đánh giá hệ thống điểm dân cư nông thôn theo một số tiêu chí xây
dựng nông thôn mới 72
3.3. Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Đan Phượng đến năm
2020 76
3.3.1. Các căn cứ cho định hướng phát triển điểm dân cư 76
3.3.2. Các dự báo cho định hướng phát triển mạng lưới điểm dân cư 77
3.3.3. Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư 80
3.3.4. Một số giải pháp cho việc định hướng phát triển mạng lưới khu dân cư
huyện Đan Phượng 88
Page vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Tên các bảng
Trang
Bảng 1.1. Định mức sử dụng đất trong khu dân cư 17
Bảng 1.2. Chỉ tiêu sử dụng đất điểm dân cư nông thôn của các xã 18
Bảng 2.1. Phân cấp một số tiêu chí đánh giá điểm dân cư 31
Bảng 2.2. Tổng hợp chỉ tiêu phân loại điểm dân cư 33
Bảng 3.1. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn huyện Đan Phượng
2005-2013 40
Bảng 3.2: Hiện trạng dân số huyện Đan Phượng 2013 43
Bảng 3.3. Hiện trạng sử dụng đất khu dân cư huyện Đan Phượng năm 2013 50
Bảng 3.4. Hiện trạng sử dụng đất khu dân cư phân theo từng khu vực huyện Đan
Phượng năm 2013 51
Bảng 3.5. Thực trạng hệ thống điểm dân cư trên địa bàn huyện Đan Phượng
năm 2013 53
Bảng 3.6: Kết quả phân loại hệ thống điểm dân cư huyện Đan Phượng theo tiêu
chí 1 năm 2013 56
Bảng 3.7: Kết quả phân loại hệ thống điểm dân cư huyện Đan Phượng theo tiêu
chí 2 năm 2013 56
Bảng 3.8: Kết quả phân loại hệ thống điểm dân cư huyện Đan Phượng theo tiêu
chí 3 năm 2013 57
Bảng 3.9: Kết quả phân loại hệ thống điểm dân cư huyện Đan Phượng theo tiêu
chí 4 năm 2013 59
Bảng 3.10: Hệ thống điểm dân cư đô thị và nông thôn huyện Đan Phượng năm
2013 61
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến nay, nền kinh
tế nước ta có nhiều chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt
cao và phát triển tương đối toàn diện, văn hóa và xã hội có tiến bộ trên nhiều
mặt, việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến
tích cực, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện. Điều đó góp phần nâng
cao chất lượng cuộc sống của dân cư ở đô thị và nông thôn trong cả nước.
Khu vực nông thôn, loại hình quần cư nông thôn ngày nay đang có nhiều
thay đổi về chức năng, cấu trúc và hướng phát triển. Tuy nhiên, công tác quy
hoạch dân cư ở nông thôn hầu như vẫn chưa được chú trọng dẫn đến sự phân bố
dân cư không theo quy hoạch. Do đó, cần phải có định hướng chiến lược lâu dài
về phân bố, phát triển các điểm dân cư nông thôn để ổn định và phát triển kinh tế
- xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.
Tổ chức hợp lý mạng lưới khu dân cư sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công
tác quản lý Nhà nước về đất đai, đáp ứng yêu cầu tổ chức và phát triển sản xuất
của các ngành kinh tế, thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của nhân dân về việc làm, nhà
ở, giao tiếp cũng như các nhu cầu về vật chất, văn hóa, tinh thần và nghỉ ngơi,
giải trí tạo sự đa dạng cảnh quan và bảo vệ môi trường. Chính vì vậy, việc xây
dựng quy hoạch hệ thống điểm dân cư là rất cần thiết.
Hiện nay, hệ thống điểm dân cư của huyện Đan Phượng chưa được quy
hoạch hoàn chỉnh, phát triển chủ yếu là tự phát, quá trình xây dựng nhà ở là
nguồn vốn tự có của nhân dân. Những năm gần đây, dọc theo Quốc lộ 32 và một
số khu vực trung tâm các xã đã và đang hình thành những tụ điểm giao lưu kinh
tế - xã hội theo hướng đô thị hóa (thị tứ). Bản thân dân cư tại các trung tâm này
hiện trạng tại thời điểm nghiên cứu.
- Điều tra, khảo sát thực địa và đề xuất những định hướng phát triển hệ
thống điểm dân cư huyện Đan Phượng trong thời gian tới và đề xuất các giải
pháp thực hiện phù hợp với đặc điểm của địa phương, tuân thủ các quy định theo
tiêu chuẩn Việt Nam và pháp luật của Nhà nước.
- Định hướng quy hoạch phải dựa trên các cơ sở khoa học: Tiềm năng về
đất đai, nguồn vốn đầu tư, lao động…, dựa trên các chính sách, chỉ tiêu phát triển
kinh tế xã hội của địa phương nhằm đem lại tính khả thi cao nhất.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận và pháp lý về phát triển hệ thống điểm dân cư
1.1.1. Những khái niệm về điểm dân cư
- Điểm dân cư đô thị:
Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi
nông nghiệp, họ sống và làm việc theo kiểu thành thị (Vũ Thị Bình và cs 2008).
- Điểm dân cư nông thôn:
Tại khoản 16, Điều 3, Luật Xây dựng năm 2014 nêu rõ: Điểm dân cư
nông thôn là nơi cư trú tập trung của các hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản
xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất
định, được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa
và các yếu tố khác.
1.1.2. Phân loại hệ thống điểm dân cư
* Căn cứ phân loại điểm dân cư:
Khi phân loại điểm dân cư cần căn cứ vào những đặc điểm cơ bản sau:
- Điều kiện sống và lao động của dân cư.
- Chức năng của điểm dân cư.
- Quy mô dân số, quy mô đất đai trong điểm dân cư.
loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định công nhận.
1. Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc.
2. Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là
thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành.
3. Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội
thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị.
4. Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã
ngoại thị.
5. Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây
dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
1.1.3. Căn cứ pháp lý của phát triển hệ thống điểm dân cư
1.1.3.1. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, Nhà nước
- Luật Xây dựng năm 2003, 2014;
- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung
ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 07/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt điều chỉnh định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị
Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 02/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
năm 2010-2020;
về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn;
- Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày
28/10/2011 về Quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã
nông thôn mới.
- Quyết định số 21/2014/QĐ-UBND ngày 20/06/2014 của UBND thành
phố Hà Nội ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND thành
phố được Luật Đất đai 2013 và các Nghị định của Chính phủ giao về hạn mức
giao đất; hạn mức công nhận quyền sử dụng đất; kích thước, diện tích đất ở tối
thiểu được phép tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội.
1.1.4. Những nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống điểm dân cư
1.1.4.1 Nguyên tắc phát triển không gian đô thị
- Tuân thủ quy hoạch vùng lãnh thổ về địa lý và phát triển kinh tế:
Mỗi đô thị đều phải gắn bó với sự phát triển của toàn vùng vì quy hoạch
vùng đã cân đối sự phát triển cho mỗi điểm dân cư trong vùng lãnh thổ.
- Triệt để khai thác các lợi thế của điều kiện tự nhiên:
Những đặc trưng của cảnh quan thiên nhiên là cơ sở để hình thành cấu
trúc không gian đô thị. Các giải pháp quy hoạch, đặc biệt là trong cấu trúc chức
năng cần phải tận dụng triệt để các điều kiện tự nhiên, nhằm cải thiện nâng cao
hiệu quả của cảnh quan môi trường đô thị và hình thành cho đô thị một đặc thù
riêng hòa hợp với thiên nhiên ở địa phương đó.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
- Phù hợp với tập quán sinh hoạt truyền thống sinh hoạt của địa phương và
dân tộc:
Mỗi địa phương, mỗi dân tộc có một phong tục tập quán khác nhau. Đó là
vốn tri thức bản địa quý giá cần được khai thác và kế thừa để tạo cho mỗi đô thị
một hình ảnh riêng của dân tộc và địa phương mình.
Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị còn phải hết sức lưu ý đến vấn đề
cơ cấu tổ chức của các khu ở, khu trung tâm đô thị và các khu đặc trưng khác
với các quy hoạch chuyên ngành khác có liên quan như quy hoạch thủy lợi, quy
hoạch giao thông, quy hoạch đồng ruộng.
- Phải xuất phát từ tình hình hiện trạng, khả năng về đất đai, nhân lực, vốn
đầu tư, theo phương châm: “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, đồng thời phải
phù hợp với điều kiện tự nhiên (địa hình, khí hậy, thủy văn…), phù hợp với các
truyền thống, tập quán tiến bộ về sản xuất và sinh hoạt chung của từng vùng,
từng dân tộc.
- Đảm bảo yêu cầu về quốc phòng, chống bão lụt và bảo vệ môi trường.
- Cần xét đến triển vọng phát triển trong tương lai, phải đáp ứng các yêu
cầu sản xuất và đời sống trong giai đoạn trước mắt, đồng thời phải có phương
hướng quy hoạch dài hạn từ 15 đến 20 năm.
- Kết hợp chặt chẽ giữa cải tạo và xây dựng mới, triệt để tận dụng những
cơ sở cũ có thể sử dụng được vào mục đích sản xuất và phục vụ đời sống (Vũ Thị
Bình và cs, 2008).
1.2. Thực trạng và xu thế phát triển hệ thống điểm dân cư một số nước
trên thế giới
Thực tế cho thấy, từ trước đến nay trên thế giới có rất nhiều lý luận khoa
học, nhiều tài liệu nghiên cứu về phát triển mạng lưới dân cư (đô thị và nông
thôn) của các tổ chức như tổ chức Nông - Lương thế giới (FAO), Ngân hàng phát
triển châu Á (ADB), Ngân hàng Thế Giới (WB), các Chính Phủ các nước, của
các tổ chức khoa học…, tuy nhiên mỗi nước có những hướng đi, cách phát triển
dân cư riêng tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của nước mình.
1.2.1. Hà Lan
Vương quốc Hà Lan không được thiên nhiên ưu đãi, sau thiên tai nặng nề
trong thế kỷ XIV, nhân dân Hà Lan đã tiến hành từng bước việc khoanh vùng rút
nước để làm khô một diện tích rất lớn đất trũng nhằm mở mang diện tích đất đai
sinh sống. Trên các vùng đất trũng đó được chia thành từng khu để lập các điểm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
dựng đô thị đó là xây dựng phân tán trên toàn bộ đất nước các điểm dân cư nhỏ.
Ông xác minh cho phương án của mình rằng điện là nguồn động lực cơ bản cho
mọi hoạt động, sẽ đi đến tất cả các điểm dân cư trong toàn quốc và đến tận mọi
nhà cho nên ở đó sẽ là chỗ ở vô cùng lý tưởng và là nơi làm việc của mọi người.
Ngoài ra lý luận về xây dựng các điểm dân cư mang tính chất đô thị - nông thôn
được đề cao như thành phố vườn, thành phố vệ tinh của kiến trúc sư Eberezen
Howard là một cống hiến lớn cho lý luận phát triển đô thị thế giới.
Thành phố vườn của Eberezen Howard đề xướng năm 1896 trong đó đề
cập tới vấn đề thay đổi cơ cấu tổ chức và phương hướng giải quyết về không gian
của thành phố.
Lý luận thành phố vườn và thành phố vệ tinh của Eberezen Howard đã có
ảnh hưởng lớn trên thế giới, đặt nền tảng phát triển cho lý luận quy hoạch đô thị
hiện đại (Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2007).
1.2.3. Thái Lan
Thái Lan là một nước nông nghiệp lớn trong vùng Đông Nam Á, là nước
có khối lượng nông sản xuất khẩu khá lớn. Cả nước có khoảng 53.000 làng xóm,
trải qua nhiều kế hoạch phát triển 5 năm, trong đó chú trọng đến sự phát triển các
vùng nông thôn. Chính phủ đã xây dựng nhiều dự án phát triển các khu vực nông
thôn với sự tham gia của các Bộ, ngành liên quan, nhờ đó mà đời sống của nông
dân đã được cải thiện đáng kể.
Chính sách kinh tế của Thái Lan là ưu tiên phát triển giao thông, đặc biệt
là giao thông đường bộ, cung cấp nước tưới tiêu trong nông nghiệp và nước sinh
hoạt nông thôn. Việc đầu tư xây dựng giao thông, thủy lợi nông thôn phần lớn
tập trung vào các vùng có tiềm năng lớn trong sản xuất. Tuy nhiên vẫn còn một
số làng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, thiếu nước sinh hoạt và chưa có
đường giao thông cho ô tô tới khu trung tâm. Mặc dù đã phát triển hệ thống giao
thông nông thôn trên phạm vi toàn quốc nhưng sự phân hóa giàu nghèo trong
xã trở thành hạt nhân phát triển kinh tế - xã hội - văn hoá và là môi trường thuận
lợi cho việc tiếp thu văn minh đô thị vào nông thôn. Mặt khác muốn quản lý sự di
dân hàng loạt từ vùng nông thôn vào đô thị, ngăn cản sự phình to quá cỡ của các
thành phố lớn nhất thiết phải “công nghiệp hoá nông thôn”. Công nghiệp hoá
nông thôn còn mang lại sự thay đổi lối sống nông thôn truyền thống sang lối sống
văn minh đô thị - thành thị hoá nông thôn. Để đạt được điều đó, việc phát triển hạ
tầng kỹ thuật luôn luôn giữ vai trò hàng đầu, hệ thống giao thông luôn giữ vai trò
trọng yếu trong việc phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
1.3. Tổng quan về phát triển khu dân cư ở Việt Nam
1.3.1. Một số vấn đề cơ bản về khu dân cư và xu hướng phát triển
1.3.1.1. Một số hình thức bố cục của các điểm dân cư truyền thống
- Điểm dân cư dạng phân tán: Các điểm dân cư dạng này thường có quy
mô nhỏ thường gặp ở các vùng núi nơi có mật độ dân số thưa, điều kiện trồng
cấy ít thuận tiện, mang đậm nét của hình thức sản xuất tự cung tự cấp.
- Điểm dân cư theo tuyến: Tiền thân là những điểm dân cư nhỏ bám dọc
theo 2 bên đường hoặc bên sông sau đó do quá trình phát triển của dân cư, các
điểm dân cư lấn dần ra nối tiếp thành tuyến dài.
- Điểm dân cư dạng phân nhánh: Tại giao điểm của các con sông hoặc
đường giao thông, các điểm dân cư phát triển theo dạng tuyến gặp nhau hình
thành nên dạng phân nhánh.
- Điểm dân cư theo dạng mảng: ở những vùng đất trù phú, thuận lợi cho
phát triển nông nghiệp, trải qua quá trình phát triển lâu dài nhiều điểm dân cư
nhỏ quy tụ lại thành điểm dân cư theo dạng mảng lớn. Hình thức này khá phổ
biến ở vùng đồng bằng sông Hồng (Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2007).
1.3.1.2. Thực trạng kiến trúc cảnh quan khu dân cư nông thôn
Hầu hết các công trình kiến trúc có giá trị tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt
Nam đều nằm ở các làng xã. Đó là những ngôi đình làng, ngôi chùa và gần đây là
Các công trình công cộng ở làng không chỉ là cổng làng, đường làng,
giếng làng mà còn là nhà văn hoá, nhà uỷ ban, nhà trẻ, trường học, trạm xá…,
ngoài ra là các không gian, các quỹ vật thể khác như: làng, chợ làng và cây đa,
bến nước…
Nhìn chung, các công trình kiến trúc công cộng trong làng xã thường
không to lớn trừ một số công trình đặc biệt (nhà thờ và một số đình chùa của
những làng có điều kiện đặc biệt) (Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2007).
Ngày nay cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và sự
tăng trưởng dân số tuyệt đối tại khu vực nông thôn, kiến trúc nông thôn đã được
phát triển với 4 nội dung chính:
+ Ngói hoá và kiên cố hoá nhà ở nông thôn bằng nguồn lực tự có của nhân
dân thay thế dần dần nhà tranh vách đất.
+ Phát triển các công trình dịch vụ công cộng như trường học, nhà trẻ,
đường làng ngõ xóm và các công trình tiện ích công cộng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
+ Cải tạo, trùng tu, nâng cấp các công trình di sản văn hoá, tôn giáo, tưởng
niệm…
+ Xây dựng phát triển các thị tứ mới ở các vùng nông thôn giữ vai trò là
trung tâm xã, tiểu vùng hoặc cụm xã, là đầu mối thúc đẩy quá trình công nghiệp
hoá, đô thị hoá ở khu vực nông thôn theo hướng: “ly nông bất ly hương” đã tạo
ra một bộ mặt kiến trúc mới cho khu vực nông thôn.
Vào những năm cuối của thập kỷ 70, hưởng ứng Nghị quyết IV và sau này
là Nghị quyết V của Ban chấp hành Trung ương Đảng, cùng với việc quy hoạch
đồng bộ xây dựng địa bàn cấp huyện theo các lĩnh vực khác nhau như bố trí lại
sản xuất, xây dựng công trình hạ tầng, các công trình phục vụ công cộng, nhà ở
cũng được nghiên cứu theo hướng “ cải tạo mạng lưới dân cư trên địa bàn huyện,
tổ chức đời sống ở nông thôn” (Lê Trung Thống, 1979); công việc nghiên cứu về
nhà ở lúc này chia làm hai loại:
ra rất nhanh.
Quá trình đô thị hoá đã và đang tác động mạnh mẽ làm chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và ảnh hưởng tới việc sắp xếp lại mạng lưới các điểm dân cư trên cả
nước, điều đó được thể hiện trên các mặt:
- Phát triển mở rộng, nâng cấp các thành phố thị xã, thị trấn theo quy
hoạch nhằm phát huy tiềm năng của mạng lưới đô thị hiện có, khống chế dân số
các thành phố lớn, tạo yếu tố tích cực thúc đẩy sự phát triển của các đô thị vừa và
nhỏ (các thị xã, thị trấn, thị tứ).
- Tạo điều kiện đẩy nhanh sự phát triển của các thị trấn huyện lỵ và các thị
tứ. Đây là đầu mối quan trọng nối tiếp giữa đô thị và nông thôn.
- Cải tạo và phát triển từng bước hệ thống điểm dân cư nông thôn trên địa
bàn vùng huyện.
- Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, có thể đô thị hoá ngay trong
từng làng xã trên cả hai mặt cơ bản chuyển lao động nông nghiệp sang sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng từng bước cơ sở hạ tầng, xây dựng
phát triển và hoàn thiện khu dân cư, cải thiện đời sống nông thôn tiến tới tương
đương cuộc sống ở đô thị (Đỗ Đức Viêm, 2005).
1.3.2.2. Những quy định về quản lý, quy hoạch xây dựng và phát triển khu dân cư
Trong quá trình phát triển, các điểm dân cư (đô thị và nông thôn) ở nước
ta phần lớn được hình thành và phát triển một cách tự phát gây tình trạng xây