TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THANH ĐOÀN
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN LOÀI ỐC NƯỚC NGỌT LÀ
KÝ CHỦ TRUNG GIAN CỦA SÁN LÁ Ở MỘT SỐ
HUYỆN TRONG TỈNH VĨNH LONG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: THÚ Y
Cần Thơ, 2014 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: THÚ Y Tên đề tài:
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN LOÀI ỐC NƯỚC NGỌT LÀ
KÝ CHỦ TRUNG GIAN CỦA SÁN LÁ Ở MỘT SỐ
HUYỆN TRONG TỈNH VĨNH LONG
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Cần Thơ, Ngày… tháng… năm 2014
Duyệt Khoa Nông nghiệp & SHƯD
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và
kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài
nghiên cứu khoa học nào.
Ngày……tháng……năm 2014
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thanh Doàn
ii
LỜI CẢM ƠN
Kính dâng lên ba mẹ
Trọn đời con không bao giờ quên công ơn của cha mẹ luôn luôn quan tâm, ủng
hộ con về mặt tinh thần và vật chất trong suốt quá trình học tập.
Mãi mãi biết ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy Nguyễn Hữu Hưng đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm cho tôi hoàn thành
đề tài.
Chân thành cảm ơn
Thầy cố vấn học tập Lê Hoàng Sĩ đã hết lòng lo lắng và giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình học tập.
Các thầy cô Bộ môn Thú Y và Bộ môn Chăn Nuôi đã hướng dẫn và truyền
CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
iv
3.1 Nội dung nghiên cứu 38
3.2 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 38
3.3 Đối tượng nghiên cứu 38
3.4 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 38
3.4.1 Dụng cụ thí nghiệm và hóa chất 38
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 39
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44
4.1 Đặc điểm hình thái của một số loài ốc đã thu thập và định danh 44
4.1.1 Lớp phụ PROSOBRANCHIA 45
4.1.2 Lớp phụ PULMONATA 52
4.2 Thành phần và sự phân bố các loài ốc nước ngọt thu được trong tỉnh Vĩnh
Long 54
4.3 Kết quả về thành phần loài ốc nước ngọt trong tỉnh Vĩnh Long 56
4.3.1 Tỷ lệ các loài ốc nước ngọt trong tỉnh Vĩnh Long 56
4.3.2 Tỷ lệ các loài ốc nước ngọt tại các huyện trong tỉnh Vĩnh Long 57
4.3.3 Kết quả các chỉ số ở một số loài ốc nước ngọt phổ biến trong tỉnh Vĩnh
Long 58
4.4 Khảo sát tình hình nhiễm ấu trùng sán lá trên ốc Lymnaea swinhoei tại các
điểm khảo sát 59
4.5 Các họ ốc nước ngọt là ký chủ trung gian của các loài sán lá gây bệnh cho
con người và động vật nuôi. 61
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
5.1 Kết luận 65
5.2 Đề nghị 65
PHỤ LỤC 73
v
Hình 2.18: Hình dạng một số vỏ ốc thuộc họ Planorbidae 27
Hình 2.19: Hình dạng một số vỏ ốc thuộc họ Thiaridae 28
Hình 2.20: Hình dạng một số vỏ ốc thuộc họ Viviparidae 28
Hình 2.21: Vòng đời sán lá 30
Hình 2.22: Các dạng ấu trùng của sán Fasciola 32
Hình 3.1: Bản đồ tỉnh Vĩnh Long 39
Hình 4.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa các bậc phân loại ốc nước ngọt trong tỉnh
Vĩnh Long 44
Hình 4.2: Sermyla sp 45
vii
Hình 4.3: Tarebia granifera 46
Hình 4.4: Adamietta sp 47
Hình 4.5: Melanoides tuberculata 47
Hình 4.6: Mekongia sp 48
Hình 4.7: Filopaludina martensi martensi 49
Hình 4.8: Trochotaia sp 49
Hình 4.9: Eyriesia sp 50
Hình 4.10: Pomacea canaliculata 50
Hình 4.11: Bithyniidae siamensis sp 51
Hình 4.12: Clea (anentome) sp 52
Hình 4.13: Lymnaea swinhoei 53
Hình 4.14: Lymnaea viridis 53
Hình 4.15: Indoplanorbis exustus 54
Hình 4.16: Các cercaria tìm thấy được khi mổ khảo sát ốc Lymnaea swinhoei
61
Hình 4.17: Các redia tìm thấy được khi mổ khảo sát ốc Lymnaea swinhoei
61
viii
với tỷ lệ 21,67%. Trong đó tỷ lệ nhiễm cả 3 dạng ấu trùng sán lá là 5,83%.
Trong 14 loài đã định danh có 13/14 loài ốc là ký chủ trung gian của sán lá
gây bệnh trên người và động vật nuôi là loài Sermyla sp, Tarebia granifera,
Adamietta sp, Melanoides tuberculata, Mekongia sp, Filopaludina martensi
martensi, Trochotaia sp,Eyriesia sp, Bithynia siamensis, Clea (anentome) sp,
Lymnaea swinhoei, Lymnaea viridis và Indoplanorbis exustus.
1
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Ốc nước ngọt là nguồn thức ăn cho chim, thú, lưỡng cư.
Nguyễn Võ Huỳnh (2005), cho rằng nhiều loài ốc nước ngọt là ký chủ trung
gian của nhiều loài sán lá gây bệnh như ốc mút (Melanoides tuberculata) là
vật chủ trung gian của sán lá gan. Bùi Thị Dung (2009), xác định ốc
Melanoides tuberculata nhiễm ấu trùng của loài sán lá Prosthogonimus
cuneatus, Echinostoma revolutum và Notocotylus intestinalis. Nguyễn Thị Lê
(2010), xác định Lymnaea swinhoei là ký chủ trung gian của sán lá thuộc các
họ Echinostomatidae, Echinochasmidae, Ornithobilharziidae và Fasciolidae.
Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng có khí hậu
nhiệt đới nóng ẩm, hệ sinh thái đa dạng phong phú, vùng đất phù sa màu mỡ
có hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và
phát triển của các loài ốc nước ngọt là ký chủ trung gian của các loài sán lá
gây bệnh nguy hiểm trên người và động vật. Để tìm hiểu rõ hơn về các loài ốc
nước ngọt – ký chủ trung gian này và được sự hướng dẫn của Thầy Cô bộ môn
Thú Y, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại học Cần Thơ,
chúng tôi tiến hành đề tài: “Xác định thành phần loài ốc nước ngọt là ký chủ
trung gian của sán lá ở một số huyện trong tỉnh Vĩnh Long”.
2
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Tình hình nghiên cứu về ốc nước ngọt-ký chủ trung gian của sán lá
sán này, tỷ lệ ốc nhiễm cercaria là 1%. Tác giả cho biết miracidium xâm nhập
vào ốc qua lớp áo cơ, râu và chân của ốc.
Patzelt & Ralf (1993), xác định ký chủ trung gian của sán lá gan
Paramphistomum explanatum là loài ốc Gyraulus convexiusculus. Ốc phát
triển mạnh từ tháng 4 đến tháng 6 và giảm trong suốt mùa mưa tháng 7 đến
tháng 8 ở Punjad, Pakistan.
Jorgen Hansen et al. (1994), nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của ốc là
15-26
0
C, khi ở nhiệt độ này chúng đẻ số lượng trứng rất lớn. Trứng nở trong
vòng 2 tuần và sau 1 tháng thành ốc trưởng thành. Một con ốc trong vòng 10 -
12 tuần có thể sinh sản ra hàng ngàn con ốc. Ở dưới nước, ốc không phát triển
và ngừng hoạt động. Tuy nhiên, ốc có thể chui vào bùn và sống trong điều
kiện bất lợi nhiều tháng.
Kaufmann (1996), vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là các loài ốc nước
ngọt họ Lymnaeidae: Lymnaea auricularia, Lymnaea swinhoei, Lymnaea
viridis, Galba truncatula, Radix ovata Tác giả cho biết vùng đồng bằng có
nhiều hồ, ao, kênh, rạch, có điều kiện cho ốc - vật chủ trung gian sống và sinh
sản. Các kiểu địa hình khác thì vấn đề này hạn chế hơn so với đồng bằng.
Soulsby (1977), cho rằng Dicrocoelium dendriticum có 2 ký chủ trung gian đó
là ốc và kiến, micracidium không nở từ trứng mà nở trong ký chủ trung gian, ở
trong ruột ốc.
Ravichandra cho rằng ốc là ký chủ trung gian của sán lá ở mỗi nước thì khác
nhau Lymnaea auricularia ở Ấn Độ, Lymnaea rulfesceus ở Pakistan, Lymnaea
latalensis caillaudi ở Malaysia (Đỗ Trọng Minh (1999).
José Derraik (2008), cho biết Melanoides tuberculata là vật chủ trung gian của
một số sán lá như: Paragonimus kellicotti, Clonorchis sinensis, Paragonimus
westermani, Philophthalmus gralli.
Ralph D. Robinson (2011), xác định ốc Tarebia granifera nhiễm ấu trùng sán
chanh) cũng có vỏ mỏng, không có nắp miệng, kích thước 10 mm, vở dễ vỡ,
có 4 - 5 vòng xoắn, vòng xoắn cuối cùng lớn. Tác giả còn cho biết mật độ của
ốc theo mùa khác nhau: mật độ vụ đông xuân lớn hơn vụ hè thu.
Vụ đông xuân: Lymnaea viridis 123 ± 54con/m
2
Lymnaea swinhoei 146 ± 49con/m
2
Vụ hè thu: Lymnaea viridis 64 ± 17con/m
2
Lymnaea swinhoei 59 ± 33con/m
2
Nguyễn Thị Lê (1986), ở Việt Nam, ốc Polypilis hemisphaerula, Gyraulus
sinensis và Gyraulus heudei là ký chủ trung gian của sán lá ruột heo. Tác giả
cho biết ốc ký chủ trung gian có kích thước càng lớn thì tỷ lệ nhiễm cercaria
càng cao và ốc Polypilis hemisphaerula thường tập trung ở các ao có bèo Nhật
Bản, chúng thường tập trung ở kẽ lá bèo, nhất là các lá bèo đang thối rữa.
5
Hồ Thị Thuận và cs (1987), công bố cả 2 loài ốc Lymnaea swinhoei và
Lymnaea viridis đều là vật chủ trung gian của sán lá gan, nhưng tỷ lệ nhiễm ấu
trùng nhiễm rất thấp 1,1% ở các tỉnh miền Nam.
Hồ Thị Thuận và cs (1987), điều tra tình hình nhiễm sán lá gan trâu, bò ở các
tỉnh phía Nam cho biết vùng có nhiều mương rạch, nước ngọt thì tỷ lệ và
cường độ nhiễm Fasciola cao, tại những vùng đồi trọc, đất cát mặn thì tỷ lệ và
cường độ nhiễm Fasciola thấp là do sự xuất hiện ốc nước ngọt là ký chủ trung
gian của Fasciola tại vùng này cao hơn. Tác giả còn mổ khám ốc bị nhiễm sán
lá gan thấy gan, tụy của ốc có màu vàng (lá), úa (rất vàng) và sưng to.
Metacercaria. Tác giả cho biết giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan của ốc -
vật chủ trung gian với tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò có mối tương quan
thuận, nghĩa là, nếu tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc nước ngọt cao thì tỷ lệ
nhiễm sán lá gan của trâu, bò ở khu vực đó cũng cao.
Phan Lục và cs (1999), có 3 loài ốc nước ngọt là vật chủ trung gian của sán lá
dạ cỏ ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam: Bithynia fuchsiana, Gyraulus
convexiusculus và Polypylis hemisphaerula. Tác giả còn cho biết bệnh sán lá
dạ cỏ phụ thuộc vào sự hiện diện của ốc-vật chủ trung gian, lượng mưa, hệ
thống hồ, ao, kênh, mương và nhiệt độ thích hợp (l0-30
0
C). các loài ốc vật chủ
trung gian có thể có mặt thường xuyên hoặc tạm thời, chúng có thể sống ở
điều kiện khô hạn trong nhiều tháng và loại thải cercaria trong các điều kiện
sống thích hợp.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999), cho biết gia súc nhai lại nhiễm sán lá gan
thường tăng lên vào mùa vật chủ trung gian phát triển. Những năm mưa nhiều,
tỷ lệ nhiễm sán lá gan tăng lên so với những năm nắng ráo và khô hạn. Mùa vụ
gắn liền với sự thay đổi thời tiết khí hậu. Mùa hè thu, số gia súc bị nhiễm sán
lá gan tăng cao hơn các mùa khác trong năm. Cuối mùa thu và mùa đông bệnh
thường phát ra.
Nguyễn Thị Lê (2000), ở ốc Parafossarulus striatulus tìm thấy ấu trùng
cercaria của các loài sán Prosthogonimus cuneatus, Echinostoma revolutum,
Notocotylus intestinalis.
Phan Địch Lân (2000), cho biết ở Việt Nam loài Lymnaea viridis thích sống ở
cạn hơn (nơi có nước xâm xấp), còn loài Lymnaea swinhoei thích sống ở nơi
có nước hơn (sống trôi nổi ở cống rãnh ao hồ).
Lê Quang Hùng (2003), Ở Bình Định có 2 loài ốc Lymnaea viridis và
Lymnaea swinhoei là vật chủ trung gian của Fasciola gigantica. Tỷ lệ phát
triển của trứng Fasciola gigantica nuôi trong nước cất và nước ao hồ là khá
cao từ 80-96%,trong điều kiện nhiệt độ từ 27-35
ốc Gyraulus sinensis, Polypylis haemisphaerula là vật chủ trung gian của sán
lá gan lớn. Loài ốc mút Melanoides tuberculatus còn là vật chủ trung gian của
sán lá phổi. Ngoài ra ốc nhỏ thuộc giống Tricula operta là vật chủ trung gian
của sán lá gan ở người.
Đỗ Đức Ngái và cs (2006), thông báo 0,45% ốc Lymnaea swinhoei ở Đắk Lắk
bị nhiễm ấu trùng sán lá gan.
Nguyễn Hoàng Việt Luân (2007) định danh phân loại 11 giống ốc thuộc 5 họ
Viviparidae, Thiaridae, Lymnaeidae, Planorbidae, Buccinnidae tại các khu
vực thuộc quận Cái Răng, quận Ô Môn và một số khu vực thuộc tỉnh Sóc
Trăng, cho biết Lymnaea swinhoei và Lymnaea viridis là ký chủ trung gian của
loài sán lá gan lớn Fasciola hepatica và Fasciola gigantica, mật độ phân bố
8
của các loài ốc tại điểm nghiên cứu là: Lymnaea viridis 23,2% và Lymnaea
swinhoei 23,35%, thời gian phát triển của trứng sán lá gan bên ngoài ký chủ và
bên trong vật chủ trung gian từ giai đoạn micracidium đến giai đoạn sporocyst
của họ ốc Lymnaeidae là 9 ngày.
Lê Hoàng Nam (2007) nghiên cứu tại tỉnh Hậu Giang cho biết 2 giống
Bulinidae và Lymnaea là ký chủ trung gian truyền bệnh sán lá gan cho gia súc
nhai lại và kể cả con người, tỷ lệ loài ốc Lymnaea viridis tại điểm nghiên cứu
là 35,39%.
Nguyễn Văn Chương (2008), xác định ốc Bilinus và Planorbis là vật chủ trung
gian của sán máng (Schistosoma hamatbium).
Nguyễn Mạnh Hùng (2009), ốc Tarebia granifera và ốc Melanoides
tuberculata ở các Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và Thanh Hóa nhiễm ấu
trùng cercaria của loài Prosthogonimus cuneatus.
Bùi Thị Dung (2009), xác định ốc Melanoides tuberculata nhiễm ấu trùng của
loài sán lá Prosthogonimus cuneatus, Echinostoma revolutum và Notocotylus
intestinalis.
Nguyễn Đức Tân và cs (2010), xác định ốc Lymnaea viridis nhiễm ấu trùng là
sp ở ốc Lymnaea sp tại 32 xã thuộc 9 tỉnh đại diện cho 3 miền Bắc, Trung và
Nam. Kết quả 3 loài ốc Lymnaea viridis, Trong đó, Lymnaea swinhoei
Lymnaea sp. và Lymnaea viridis có kích thước nhỏ nhất (2-10 mm theo chiều
dài) và chủ yếu sống ở ruộng lúa sấp nước; Lymnaea swinhoei có kích thước
lớn nhất (5-20 mm) với vành miệng rộng, sống chủ yếu ở ao, hồ hoặc sông và
loài Lymnaea sp. (5-20 mm) có vỏ ốc dài hơn và mảnh hơn, thường sống ở
sông hoặc mương có nước tĩnh.
Nguyễn Mạnh Hùng (2012), thu thập 26.979 ốc trong quá trình nghiên cứu
mật độ ốc trong vườn nuôi cá chép xác định các loài ốc nhiễm ấu trùng
cercaria Parapleurolophocercous là các loài ốc họ Bithynidae, Thiaridae.
Cercariae Echinostoma được tìm thấy trong ốc thuộc họ Thiaridae,
Bithynidae và Lymnaeidae.
2.2 Tình hình nghiên cứu về động vật thân mềm (Mollusca)
Aristotle (384 – 322), ông đã mô tả và phân loại động vật thân mềm thành hai
loài: loài có vỏ và loài không vỏ. Ông là người đầu tiên xây dựng ngành phân
loại Mollusca, phương pháp phân loại này được sử dụng đến thế kỷ XVIII.
W. J. Clench & Ruth P. Turner (1956) công bố nghiên cứu quần thể động vật
từ phía tây sông Suwannee đến sông Escambia. Công trình nghiên cứu này đã
đánh dấu sự đóng góp cho ngành động vật thân mềm ở Florida, USA.
Lister (1665) một thầy thuốc hoàng gia Anh đã xuất bản quyển Historiae
Conchiliorum nói về nhiều loài động vật thân mềm. Năm 1669-1697 tác giả đã
đăng nhiều công trình nghiên cứu trên tạp chí Động vật thân mềm (Mollusca).
10
Linné et al. (1758) phân Động vật thân mềm ra làm hai nhóm: có vỏ, không vỏ
hoặc có vỏ trong. Tuy nhiên, hệ thống phân loại này cũng có những sai lầm
như xếp Lepas (Arthopoda) vào ngành Mollusca.
Lamarck (1744-1799) sáng lập ra môn Động vật không xương sống và sửa
những sai lầm của Linné. Sau Lamarck còn có nhiều tác giả khác nghiên cứu
về Mollusca và kết quả cho tới nay vẫn còn được sử dụng.
lớp Aplacophora được tách thành 2 lớp mới đó là Chaetodermomorpha và
Neomeniomorpha. Các lớp còn lại tương tự như phân loại của Pechenik (2000)
và Ruppert & Barnes (1994). Như vậy theo Barnes et al (2000) thì ngành
động vật thân mềm được chia thành 8 lớp. Sử dụng hệ thống phân loại
Mollusca theo Barnes (1994) và Pechenik (2000) trong đó các loài ốc nước
ngọt khảo sát nằm trong lớp Gastropoda theo sơ đồ sau:
12 Hình 2.1: Hệ thống phân loại của động vật thân mềm Mollusca theo Barnes et
al., Lymnaea, 2000
13
Ngành Mollusca được chia làm 8 lớp, mức độ quan trọng khác nhau. Lớp quan
trọng nhất trong các loài động vật thân mềm là Gastropoda, bao gồm hơn 80%
loài động vật thân mềm còn sống đến nay.
Fed G. Thompson (2004), đã lập bảng phân loại ngành Mollusca ở Florida.
2.3 Sơ lược về lớp chân bụng (Gastropoda)
Gastropoda theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là chân ở mặt bụng. Gastropoda là
lớp lớn nhất trong ngành Mollusca, bao gồm khoảng 40-75 ngàn loài ốc (snail)
và ốc sên (slug) còn tồn tại trên trái đất. Gastropoda cũng là lớp thích nghi cao
nhất trong ngành Mollusca, chúng không chỉ có số lượng loài lớn mà còn có
sự phân bố rộng ở nhiều môi trường khác nhau như sông, hồ, biển sâu và sống
phù du trong nước. Ngoài ra, Gastropoda còn phân bố trên cạn như trên mặt
đất, trên cây và cả ở sa mạc. Phương thức sống và tập tính ăn của chúng cũng
đa dạng, ăn thức ăn lơ lủng, ăn thực vật, ăn động vật, ăn chất lắng tụ ở nền đáy
và sống ký sinh.
Ở một cá thể ốc điển hình, cơ thể gồm khối nội tạng (visceral mass) chứa tất
cả cơ quan nội tạng nằm phía trên của chân. Khối nội tạng thường được bảo vệ
bởi một vỏ cuộn (coiled univalve shell), hình dạng vỏ rất đa dạng. Tùy từng cá