khảo sát sinh trưởng và phát triển của bốn giống ớt ghép trên gốc ớt cà làm kiểng - Pdf 30



TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN QUỐC LÂM

KHẢO SÁT SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA BỐN GIỐNG ỚT GHÉP TRÊN
GỐC ỚT CÀ LÀM KIỂNG Luận văn tốt nghiệp
Ngành: NÔNG HỌC Cần Thơ, 2014

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Cần Thơ, 2014
i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học, với đề tài:

KHẢO SÁT SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA BỐN GIỐNG ỚT GHÉP TRÊN
GỐC ỚT CÀ LÀM KIỂNG

Do sinh viên Nguyễn Quốc Lâm thực hiện.
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp. iii

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư
ngành Nông học với đề tài:

KHẢO SÁT SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA BỐN GIỐNG ỚT GHÉP TRÊN
GỐC ỚT CÀ LÀM KIỂNG


Nơi sinh: Xã Đông Thành, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
Con ông: Nguyễn Văn Hải
Và bà: Nguyễn Thị Bảy
Chỗ ở hiện nay: Tổ 1, ấp Thạnh Lý, xã Đông Thạnh, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh
Long
II. Quá trình học tập
1. Tiểu học
Thời gian: 1999 – 2004
Trường: Tiểu học Đông Thạnh A
Địa chỉ: Xã Đông Thạnh, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
2. Trung học Cơ sở
Thời gian: 2004 – 2008
Trường: Trung học Cơ sở Đông Thạnh
Địa chỉ: Xã Đông Thạnh, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
3. Trung học Phổ thông
Thời gian: 2008 – 20011
Trường: Trung học Phổ thông Bình Minh
Địa chỉ: Tổ 1, khóm 9, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
4. Đại học
Thời gian: 2011 – 2014
Trường: Đại học Cần Thơ
Địa chỉ: Đường 3/2, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
Chuyên ngành: Nông học (Khóa 37)
Ngày tháng… năm 2014 Nguyễn Quốc Lâm


vi

NGUYỄN QUỐC LÂM. 2014. “Khảo sát sinh trưởng và phát triển của bốn
giống ớt ghép trên gốc ớt Cà làm kiểng”. Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Nông học,
khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ. Cán bộ
hướng dẫn: PGS.TS. Trần Thị Ba và ThS. Võ Thị Bích Thủy.

TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện tại nhà lưới nghiên cứu rau sạch khoa Nông nghiệp
và Sinh học Ứng dụng từ tháng 11/2012 – 4/2013 nhằm xác định tỉ lệ sống sau
ghép của 4 giống ớt ghép trên gốc ớt Cà; sinh trưởng, số trái và đánh giá tính
thẩm mỹ của bốn giống ớt ghép trên gốc ớt Cà làm kiểng. Thí nghiệm được bố trí
theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 10 lần lặp lại gồm 4 nghiệm thức (4 giống
ớt ghép/gốc ớt Cà): 1) Thiên ngọc/ớt Cà, 2) Tròn tím/ớt Cà, 3) Hiểm lai 207/ớt
Cà, 4) Trắng tam giác/ớt Cà.
Kết quả cho thấy cả 4 nghiệm thức ghép trong vườn ươm đều có tỉ lệ sống
khá cao (73,2% thời điểm 12 ngày sau khi ghép). Tổ hợp Hiểm lai 207/ớt Cà sinh
trưởng nhanh, cây có dáng cao (43,80 cm) và có đường kính tán rộng (72,55 cm).
Ba tổ hợp còn lại Thiên ngọc/ớt Cà, Tròn tím/ớt Cà và Trắng tam giác/ớt Cà có
chiều cao trung bình (20,48 – 30,83 cm) và đường kính tán từ 61,30 – 67,06 cm.
Số trái trên cây của tổ hợp Thiên ngọc/ớt Cà, Tròn Tím/ớt Cà, Hiểm lai 207/ớt
Cà từ 71 – 73,6 trái/cây, thấp nhất là Trắng tam giác/ớt Cà 51,75 trái/cây. Khi
ghép giống ớt Tròn tím lên gốc ớt Cà, cây ớt ghép cho dáng đẹp nhất được chọn

1.1.3 Sâu bệnh hại chính trên ớt 3
1.2 Giống ớt 4
1.2.1 Ớt ăn 4
1.2.2 Ớt kiểng 4
1.2.3 Một số kết quả nghiên cứu ớt kiểng ghép 4
1.3 Kỹ thuật ghép, nguyên lý ghép 5
1.3.1 Khái niệm ghép và cơ sở khoa học của việc ghép cây 5
1.3.2 Mối quan hệ giữa gốc và ngọn ghép 5
1.3.3 Phương pháp ghép rau họ cà ớt 6
1.4 Tình hình sản xuất và giá trị của hoa, cây kiểng 7
1.4.1 Tình hình sản xuất hoa, cây kiểng trên Thế Giới và ở Việt Nam 7
1.4.2 Giá trị của hoa và cây kiểng 8
Chương 2: Phương tiện và phương pháp 9
2.1 Phương tiện 9
2.1.1 Địa điểm và thời gian 9
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 9
2.2 Phương pháp 10
viii

2.2.1 Bố trí thí nghiệm 10
2.2.2 Kỹ thuật canh tác 11
2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 13
2.2.4 Xử lý số liệu 15
Chương 3: Kết quả và thảo luận 16
3.1 Ghi nhận tổng quát 16
3.2 Điều kiện ngoại cảnh 16
3.2.1 Nhiệt độ, ẩm độ không khí trong phòng phục hồi sau ghép 16

Tựa bảng Trang

2.1 Đặc điểm về hình dạng, màu sắc trái của 5 giống ớt thí
nghiệm

9
2.2 Loại phân, lượng phân và thời kỳ bón cho ớt 13
2.3 Thang đánh giá cảm quan tổng thể (kiểu dáng cây, cân
đối cành nhánh, xen kẽ dạng trái và màu sắc trái) của 4
tổ hợp ớt kiểng ghép 13
2.4 Thang đánh giá cảm quan về vị trí trưng bày (treo, để
bàn, đặt trước ngõ) của của 4 tổ hợp ớt kiểng ghép

14
3.1 Tỉ lệ sống (%) sau ghép của 4 tổ hợp ớt ghép qua các
thời điểm khảo sát

19
3.2 Chiều cao gốc (cm) của 4 tổ hợp ớt kiểng ghép qua các
thời điểm khảo sát

20
3.3 Đường kính thân gốc ghép (cm) của 4 tổ hợp ớt ghép
qua các thời điểm khảo sát

21
3.4 Tỉ lệ giữa đường kính gốc ghép và ngọn ghép của 4 tổ


Hình

Tựa hình Trang

2.1 Các giống ớt dùng trong thí nghiệm: (a) Thiên ngọc, (b)
Tròn tím, (c) Hiểm lai

207, (d) Trắng tam giác và (e) Ớt Cà

11
2.2 Các bước thực hiện trong kỹ thuật ghép nối ống cao su: (a)
chuẩn bị cắt gốc ghép, (b) cắt bỏ ngọn của gốc ghép, (c) cắt
rời ngọn ghép, (d) gắn ống cao su vào ngọn ghép, (e) ấn
ngọn ghép có ống cao su vào gốc ghép và (f) cây ớt đã ghép
xong

17
3.1 Nhiệt độ (
o
C) và ẩm độ (%) không khí trong phòng phục hồi
sau ghép ngày 19/12/2012

17
3.2 Cường độ ánh sáng (1.000 lux) trong và ngoài nhà lưới
nghiên cứu rau sạch trong ngày nắng 21/12/2012


27

xi

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

ĐHCT: Đại học Cần Thơ
NN & SHƯD: Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng
NSKGh: Ngày sau khi ghép
NSKT: Ngày sau khi trồng
1

MỞ ĐẦU

Ngày nay xã hội ngày càng phát triển, ngoài nhu cầu về ăn, mặc thì nhu
cầu về mặt tinh thần ngày càng được con người quan tâm, chú trọng hơn.
Trong đó cây kiểng dùng trang trí trong nhà là đối tượng được nhiều người
chọn lựa và ngày càng phổ biến. Ngoài những loại cây kiểng thông thường
thì cây ớt kiểng ghép là đối tượng mới có thể đáp ứng phần nào nhu cầu thẩm
mỹ của người tiêu dùng, phong phú thêm cho sắc màu cuộc sống. Đã có
nhiều đề tài nghiên cứu về cây ớt kiểng ghép trên gốc ớt Thiên ngọc, Hiểm
xanh, Hiểm trắng… bên cạnh đó ớt Cà cây cho sinh trưởng mạnh, phân tán
đều, dạng trái và màu sắc trái đẹp cũng có thể được dùng làm gốc ghép để
cho cây ớt kiểng ghép với tán đều, cây cao trung bình phù hợp với nhiều vị

hóa rồi trồng ở Châu Âu, Ấn Độ cách đây hơn 500 năm. Trong đó loài ớt
C.chinense có nguồn gốc từ lưu vực sông Amazôn (
_peppers /Species /C_Chinense).
* Phân bố: Theo Võ Văn Chi (2005), ớt được trồng nhiều ở các nước
châu Phi, khu vực Đông và Nam châu Á. Theo nghiên cứu của Mai Thị
Phương Anh (1999) ớt ngọt được trồng nhiều ở châu Âu, châu Mỹ và một
vài nước ở châu Á; ớt cay được trồng phổ biến ở Ấn Độ, châu Phi và các
nước nhiệt đới khác (Đường Hồng Dật, 2003).
* Phân loại: Theo Bosland (1996) có năm loài ớt thuần hóa là
C.annuum, C.baccatum, C.chinense, C.frutescens và C.pubescens từ 22 loài
hoang dại. Ớt cay trái to, dài và ớt ngọt thuộc về loài C.annuum (Mai Thị
Phương Anh, 1999). Ớt kiểng nhiều màu sắc, có nhiều dạng trái khác nhau
thường dùng trang trí, không cay thuộc loài C.chinense (
wiki/Ớt).
* Công dụng của cây ớt: Theo Mai Thị Phương Anh (1999) ớt là loại
cây vừa được dùng làm rau tươi, vừa được dùng làm gia vị. Trong ớt chứa
nhiều loại vitamin, đặc biệt là vitamin C, nhiều nhất trong các loại rau. Ngoài
ra ớt còn được dùng làm thuốc, chúng có tác dụng là kích thích tiêu hóa, trị
cảm lạnh, thấp khớp, sốt rét, lá ớt dùng đắp trị mụn nhọt (Nguyễn Mạnh
Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007). Đặc biệt có một số loài ớt còn dùng
làm kiểng vì có hình dạng và màu sắc trái độc đáo (Eshbaugh, 1993).
1.1.2 Điều kiện ngoại cảnh
* Ánh sáng: Ớt là cây ưa ánh sáng ngày ngắn. Nếu thời gian chiếu sáng
trong 9–10 giờ sẽ kích thích sinh trưởng, tăng sản phẩm khoảng 21–24% và
tăng chất lượng trái. Trời âm u sẽ hạn chế sự đậu trái, giảm năng suất (Mai
Thị Phương Anh, 1999). Theo Đường Hồng Dật (2003), ớt cần nhiều ánh
sáng cho sinh trưởng và phát triển, thiếu ánh sáng nhất là vào thời điểm ra
hoa cây sẽ bị giảm tỉ lệ đậu trái.
đất. Theo khuyến cáo của Trung tâm rau châu Á, lượng phân bón như sau: 200
kg N:150 kg P
2
O
5
:150 kg K
2
O/ha (trích dẫn bởi Võ Thị Bích Thủy, 2000). Cây
ớt rất nhạy cảm với triệu chứng thiếu canxi, biểu hiện là thối đít trái hay còn gọi
là mày ốc. Vì vậy cần phải bón lót vôi bột và bổ sung thêm Cloruacanxi (CaCl
2
)
nồng độ 2–4 % phun trên lá định kỳ từ 7–10 ngày/lần từ lúc trái non phát triển.
1.1.3 Sâu bệnh hại chính trên ớt
* Nhện đỏ (Tetranychus sp): Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen
(2011), thành trùng nhện đỏ hình bầu dục, thân rất nhỏ khoảng 0,4 mm. Cả ấu
trùng và thành trùng nhện đỏ đều hút chích mô của lá cây làm cây bị mất màu
xanh và có màu vàng và sau cùng lá sẽ bị khô đi. Nhện đỏ rất khó trị vì rất nhỏ
và thường sống ở gần gân lá, nhện tạo lập quần thể rất nhanh nên mật số tăng
nhanh và nhiều. Có thể sử dụng các loại thuốc trừ nhện nhưng phải để ý đến quần
thể thiên địch.
* Sâu ăn tạp (Spodoptera litura Fab): Ở vườn ươm, cây con hay ruộng ớt
mới trồng, sáng thăm đồng thấy cây con bị cắn ngang thân hay ăn trụi lá; ở ruộng
ớt đã tốt, thấy lá bị ăn còn trơ cành, đó là do sâu ăn tạp phá hoại. Sâu ăn thủng lá
có hình dạng bất định, hoặc cắn đứt cây con sau đó sâu chui vào sống trong đất
ẩn dưới các kẻ nứt hay rơm rạ phủ trên mặt đất (Mai Văn Quyền và ctv., 2000).
4

bàn làm việc và phòng khách (Nguyễn Thị Cẩm Hồng, 2013). Theo Nguyễn
Đăng Khoa (2013) thì tỉ lệ sống sau ghép của tổ hợp của bốn giống ớt (ớt Cà,
Sừng vàng, Thiên ngọc, Tròn tím) ghép trên gốc ớt Hiểm trắng khá cao trung
bình (76%) ở giai đoạn 12 ngày sau khi ghép và trong đó tổ hợp ớt Cà/Hiểm
trắng sinh trưởng mạnh nhất, tán cây rộng, trái phân bố đều thích hợp đặt trước
ngõ và tổ hợp Thiên ngọc/Hiểm trắng với dáng cây thấp, bé được chọn trưng bày
ở vị trí để bàn làm việc.
5

1.3 KỸ THUẬT GHÉP, NGUYÊN LÝ GHÉP
1.3.1 Khái niệm ghép và cơ sở khoa học của việc ghép cây
* Khái niệm ghép: Ghép là một trong những phương pháp nhân giống vô
tính được thực hiện bằng cách đem gắn một bộ phận của cây giống (gọi là cành
ghép) sang một cây khác (gọi là gốc ghép), thông qua việc áp sát các mô phân
sinh ngang (tượng tầng) để tạo nên một cây mới mà vẫn giữ được đặc tính của
giống ban đầu (Phạm Văn Côn, 2007). Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong
(2011), ghép cành, ghép mắt là một phương pháp đem cành hay mầm nhánh cây
mẹ có nhiều ưu điểm như phẩm chất tốt, năng suất cao,… gắn sang gốc một cây
khác để tạo thành một cá thể mới thống nhất. Gốc ghép thông qua bộ rễ, có chức
năng lấy dinh dưỡng trong đất để nuôi toàn bộ cây mới còn phần ghép có chức
năng sinh trưởng và tạo sản phẩm (Vũ Khắc Nhượng và ctv., 2007).
* Cơ sở khoa học của việc ghép cây: Theo Trần Thế Tục (1998), trong
quá trình ghép tượng tầng của gốc ghép và ngọn ghép tiếp xúc với nhau, nhờ sự
hoạt động và tái sinh của tượng tầng mà gốc ghép và ngọn ghép gắn liền nhau.
Sau khi được gắn liền các mô mềm chỗ tiếp xúc giữa gốc ghép và ngọn ghép do
tượng tầng sinh ra phân hóa thành các hệ thống mạch dẫn do đó nhựa nguyên và
nhựa luyện giữa gốc ghép và ngọn ghép lưu thông nhau được.

Trước ghép 1–2 tuần cần tiến hành vệ sinh vườn cây gốc ghép và tăng
cường chăm sóc để cây có nhiều nhựa, tượng tầng hoạt động tốt; chọn cành, mắt
ghép tốt: Cành ghép được lấy từ vườn chuyên lấy cành ghép hoặc trên vườn sản
xuất với những cây mang đầy đủ đặc tính của giống muốn nhân giống (Phạm
Văn Côn, 2007).
* Kỹ thuật ghép nối ống cao su: Dùng dao lam cắt ngọn ghép xiên 1 góc
30
o
so với phương thẳng đứng của cây ở vị trí lá thật đầu tiên. Tương tự cắt ngọn
ghép ở vị trí lá mầm cũng thành lát xiên 1 góc 30
o
. Dùng ống cao su hoặc ống
nhựa lồng vào ngọn ghép rồi lồng ống cao su hoặc ống nhựa có mang theo ngọn
ghép vào gốc ghép đã cắt vát sao cho vết cắt của ngọn và gốc ghép tiếp xúc với
nhau. Thao tác ghép cần nhanh, chính xác, được tiến hành ở nơi râm mát, khuất
gió, gần phòng bảo quản (Trần Thị Ba, 2010).
* Chăm sóc sau ghép: Cây ghép cần chuyển ngay vào phòng bảo quản và
điều chỉnh điều kiện phòng ở nhiệt độ 27–29
o
C, độ ẩm không khí 90% (sao cho
không có nước đọng trên lá, cường độ ánh sáng yếu). Thời gian bảo quản là 7–10
ngày. Trong điều kiện phòng bảo quản đơn giản: gồm vòm che bằng nilon trắng,
lưới đen phía trên (3–5 lớp) giảm cường độ ánh sáng, nền phòng được trải ni lông
để đựng nước tạo độ ẩm, giá đặt cây cần cao hơn mặt nước. Trong ngày đầu sau
khi ghép, thường xuyên phun nước cho cây để cây luôn tươi (chỉ phun mù, rất ít
trên lá, không phun nhiều làm cho nước dính vào vết ghép). Từ ngày thứ 2, thứ 3
trở đi tưới nước cho cây bằng bình bom có vòi phun nước mịn. Trong 3 ngày đầu
sau khi ghép, cây ghép phải được che mát để có ánh sáng nhẹ. Từ ngày thứ 4
tăng dần ánh sáng, đến ngày thứ 7 cho cây sống trong điều kiện đủ sáng. Khoảng
12–15 ngày sau khi ghép có thể đem cây đi trồng. Khi trồng cần chú ý không vun

Kim Lý, 2005). Năm 2003, giá trị xuất khẩu hoa kiểng đạt khoảng 30 triệu USD,
thu nhập từ hoa kiểng trong cả nước ước tính đến 1.000 tỉ đồng (Đặng Phương
Trâm, 2005).
Trong những năm gần đây, sản xuất hoa, cây kiểng đã được mở rộng khắp
các tỉnh trên cả nước, các vùng sản xuất mới còn được đầu tư các loại hoa mới và
quy trình kỹ thuật tiên tiến nên năng suất và thu nhập trên đối với diện tích cao
hơn vùng truyền thống từ 2–3 lần (Đặng Văn Đông, 2008). Với phong trào chơi
cây kiểng cổ thụ, bonsai thì các cây có trái đẹp, chín bền trên cây lại được các
nhà trồng cây ưa chuộng (Trần Hợp, 1998). Theo Phạm Văn Duệ (2005), một số
nhà vườn ở nước ta có sáng tạo trồng và điều chỉnh cây ăn trái thành cây kiểng
lưỡng dụng, vừa có thể trang trí, vừa làm thực phẩm.
1.4.2 Giá trị của hoa và cây kiểng
Hoa kiểng là loại cây nông nghiệp đặc biệt cung cấp cho con người các sản
phẩm mang tính nghệ thuật (Đặng Phương Trâm, 2004).
* Giá trị tinh thần xã hội: Theo Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga
(2007), hoa là tượng trưng của cái đẹp, là nguồn cảm giác ngọt ngào của cuộc
sống. Hoa và cây kiểng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tâm linh của con
người; ở nhiều nơi trên Thế Giới, trong nghi thức lễ hội hoặc lễ nghi của quốc
8

gia, hoa như một thông điệp thể hiện tâm tư tình cảm của con người (Nguyễn
Bảo Toàn, 2004). Hoa kiểng làm cho con người hướng thiện, nhân hậu, dịu dàng.
Sự thưởng thức cái đẹp của hoa kiểng làm cho người ta cảm thấy cuộc đời như
đẹp tươi, phấn chấn hơn (Đặng Phương Trâm, 2005).
* Giá trị thẩm mỹ: Theo Đặng Phương Trâm (2005) sự có mặt của hoa,
cây kiểng có ý nghĩa rất cao về thẩm mỹ. Trước hết vì hoa kiểng đẹp là tinh túy
và muôn hình muôn vẻ. Người ta yêu chuộng hoa cảnh vì những lý do khác nhau

Ứng dụng (NN & SHƯD), trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT)
* Thời gian: Tháng 11/2012 – 04/2013
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
* Giống: sử dụng giống ớt Hiểm lai 207 do công ty Việt Nông phân phối và
ớt Kiểng có nguồn gốc từ địa phương (Bảng 2.1)
+ Gốc ghép: Ớt Cà, cây cao trung bình, nhiều cành nhánh cho tán xòe
rộng, trái tròn, chỉ địa, trái non có màu trắng, giai đoạn già chuyển sang màu
cam, lúc chín có màu đỏ.
+ Ngọn ghép: ớt Thiên ngọc, ớt Tròn tím, ớt Hiểm lai

207 và ớt Trắng
tam giác.
Bảng 2.1 Đặc điểm về hình dạng, màu sắc trái của 5 giống ớt thí nghiệm.
Giống ớt Dạng trái Hướng trái Màu sắc trái từ non đến chín
Thiên ngọc Tròn Chỉ thiên Trắng ngả vàng – cam – đỏ
Tròn tím Tròn Chỉ thiên Tím – cam – đỏ
Hiểm lai 207 Dài Chỉ thiên Xanh – cam – đỏ
Trắng tam giác Tam Giác Chỉ thiên Trắng ngả vàng – cam – đỏ
Ớt Cà Tròn Chỉ địa Trắng ngả vàng – cam – đỏ
(Tên các giống ớt được gọi theo hình dạng trái và tên giống của công ty)
* Nhà lưới, phòng phục hồi sau ghép
* Giá thể: Tro trấu, đất, xơ dừa.
* Dinh dưỡng: KCl, NPK 16–16–8 +13S, NPK 20–20–15, Kina–01,
Tomato, Phù sa Ri II, Phù sa Ri V, Phân cá, Cabona.
* Thuốc trừ sâu, bệnh: Vertimec 1.8EC, Diony 75EC, Biffiny 70WP,
Nazomi 50WDG, Actara 25WG, Marthian 90SP, Ridomil Gold 68WG, Nissorun
5EC.
* Dung cụ khác: Khay ươm cây con (28 cm x 50 cm x 5 cm), ly nhực tròn
trồng cây con (9 cm x 12 cm), chậu nhựa trồng cây cây sau ghép (15 cm x 15 cm
x 20 cn), ống cao su, dao lam, cồn 90
(a)

(b)
(d)
(e)

(c)
11

2.2.2 Kỹ thuật canh tác:
* Chuẩn bị cây ghép:
Hạt được ngâm trong dung dịch Nyro (liều lượng 1ml/ 5 lít nước) trong 2
giờ, sau đó cấy vào đĩa petri, phun nước vừa đủ ẩm, đặt vào thùng xốp. Sau 3 – 5
ngày hạt vừa nứt mầm thì gieo ra khay (28 lỗ), sâu 1 cm, tưới nước vừa đủ ẩm và
chăm sóc cây con. Giá thể đất, tro (mỗi loại 5 lít) kết hợp phân dơi (15 g) và 15 g
NPK 20–20–15 trộn đều. Gốc ghép ớt Cà gieo trước ba ngọn ớt kiểng (Tròn tím,
Thiên ngọc, Trắng tam giác) ghép 7 ngày và ngọn ớt Hiểm lai 207 gieo cùng
ngày với ớt Cà. Tiến hành chăm sóc cây con bằng cách tưới nước vừa đủ ẩm cho
cây và tưới dung dịch dinh dưỡng phù sa Ri V kích thích cho cây con ra rễ. Gốc
ghép được 27 ngày tuổi trồng sang ly nhựa với hỗn hợp giá thể đất, xơ dừa theo
tỉ lệ 10 lít đất : 5 lít xơ dừa và 200 g phân dơi.
Cây con được che lưới đen (giảm 50% ánh sáng) vào những buổi trưa nắng
gắt để làm cường độ ánh sáng và nhiệt độ giúp cây con sinh trưởng tốt.
Khi gốc ghép được 45 ngày, tiến hành ghép nối ống cao su (1 gốc ghép với
1 ngọn). Ở giai đoạn này ớt Hiểm lai 207 đã tượng nụ.


Hình 2.2 Các bước thực hiện trong kỹ thuật ghép nối ống cao su: (a) chuẩn bị cắt gốc
ghép, (b) cắt bỏ ngọn của gốc ghép, (c) cắt rời ngọn ghép, (d) gắn ống cao su vào
ngọn ghép, (e) ấn ngọn ghép có ống cao su vào gốc ghép và (f) cây ớt đã ghép
xong.

* Điều kiện phòng phục hồi:
Gồm vòm che bằng nilon trắng, lưới đen phía trên (3 – 5 lớp) giảm cường
độ ánh sáng, nhiệt độ 27 – 29
o
C, độ ẩm không khí 90% (sao cho không có nước
đọng trên lá, cường độ ánh sáng yếu).
Cây ghép đặt trong phòng phục hồi 3 ngày. Ngày thứ 4 – 6 cho cây ghép ra
nắng vài giờ trong ngày (sáng sớm đến khoảng 9 giờ và 15 giờ đến tối), sau đó
tăng dần để cây thích nghi từ từ với điều kiện ngoài trời.
Cây ghép được 14 ngày trồng ra chậu.
* Giai đoạn trồng chậu:
Chuẩn bị giá thể: Hỗn hợp giá thể được trộn theo tỉ lệ 2 đất và 1 phần tro
trấu (10 lít đất + 5 lít tro trấu), 40 g phân dơi, 25 g NPK, 25 g phân vi sinh.
Trồng cây: Trồng lúc chiều mát, sau khi trồng tưới phân hữu cơ Phù sa Ri
V kích thích ra rễ, rãi Diazan 10H phòng ngừa côn trùng trong đất. Cố định vết
ghép bằng cây trúc nhỏ để tránh gió làm gãy vết ghép.

(c)
(e)
(f) (d)
(b)
(a)

Trích đoạn Chiều cao cây ớt ghép Đường kính thân gốc ghép
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status