i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
…. ….
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Tên đề tài:
SẢN XUẤT KHÁNG THỂ KHÁNG VIRUS
VIÊM GAN VỊT TỪ CHỦNG VIRUS PHÂN
LẬP ĐƯỢC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
CẦN THƠ
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGS.TS HỒ THỊ VIỆT THU LÂM QUANG PHƯƠNG NAM
MSSV: 3102964
LỚP: THÚ Y – K36
Cần Thơ, 2014
ii
iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả trình bày trong luận văn này chính là
nghiên cứu của bản thân tôi. Tất cả số liệu và kết quả hoàn toàn trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây.
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Tác giả luận văn
Lâm Quang Phương Nam
sức khoẻ, thành công và xin nhận nơi tôi lòng biết ơn sâu sắc.
Lâm Quang Phương Nam
v
MỤC LỤC Trang
TRANG PHỤ BÌA i
TRANG DUYỆT ii
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM TẠ iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x
TÓM LƯỢC xii
CHƯƠNG 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.2.2.2 Hoạt hoá tế bào miễn dịch 13
2.2.3 Kháng thể IgY của gà 13
2.2.3.1 Sơ lược về IgY 13
2.2.3.2 Cấu trúc và chức năng 14
2.2.3.3 Đặc tính của IgY 15
2.2.3.4 Tính ưu việt của công nghệ sản xuất IgY trên gà 16
2.2.4 Phương pháp sản xuất kháng thể lòng đỏ trứng (IgY) bằng
cách gây miễn dịch cho gà mái 16
2.2.4.1 Những yếu tố ảnh hưởng tới sự sản xuất IgY 16
2.2.4.2 Hệ thống miễn dịch của gà 17
2.2.4.3 Tách chiết IgY từ lòng đỏ trứng gà 18
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Nội dung nghiên cứu 20
3.2 Phương tiện nghiên cứu 20
3.2.1 Thời gian 20
3.2.2 Địa điểm 20
3.2.3 Đối tượng nghiên cứu 20
3.2.4 Dụng cụ, trang thiết bị và sinh phẩm 20
3.3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.3.1 Phân lập virus và định danh virus viêm gan vịt trên địa bàn
thành phố Cần Thơ 21
3.3.1.1 Phương pháp chọn và xử lý mẫu 21
3.3.1.2 Phương pháp giám định virus bằng RT-PCR 21
3.3.1.3 Phương pháp phân lập virus trên phôi vịt 23
3.3.2 Thí nghiệm chuẩn độ virus viêm gan vịt trên phôi bằng phương
pháp xác định liều gây chết 50% (ELD
50
)
24
viii
DANH MỤC BẢNG
Bảng
Tên bảng Trang
3.1 Thành phần hoá chất sử dụng trong phản ứng RT-PCR chuyển
RNA thành cDNA
22
ELD
50
qua mỗi tuần
40
4.7 Hiệu quả truyền kháng thể trong máu và trứng gà sau khi gây
miễn dịch với liều 10
4
ELD
50
42
4.8 Theo dõi tỉ lệ đẻ của gà qua các tuần thí nghiệm 43
ix
DANH MỤC HÌNH
virus 10
8
ELD
50
40
x
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nguyên văn Nghĩa tiếng việt
AS Amoniumsulphate Muối amoniumsulphate
BHI Brain heart infusion Canh thang nước tim não
cDNA Complement deoxyribo nucleic
acid
Chuỗi deoxyribo nucleic acid bổ
sung
CPE Cytopathic effect Bệnh tích tế bào
DHV-1 Duck hepatitis virus type 1 Virus viêm gan vịt type 1
DHV-2 Duck hepatitis virus type 2 Virus viêm gan vịt type 2
DHV-3 Duck hepatitis virus type 3 Virus viêm gan vịt type 3
DNA Deoxyribo nucleic acid Deoxyribo nucleic acid
DPBS Dulbecco phosphate buffered
saline
Muối đệm phosphate
DEF Duck embryo fibroblast Tế bào xơ phôi vịt
EDTA Ethylen dimine tetra acetic acid Ethylen dimine tetra acetic acid
ELD
Tissue culture infective dose
50%
Liều gây chết 50% tế bào xii
50
và
nhắc lại 2 lần (cách nhau 1 tuần). Kết quả hiệu giá kháng thể
trung bình trong lòng đỏ trứng qua các tuần theo dõi cao tương đương so với
trong máu, và tỉ lệ đẻ của gà trong suốt quá trình thí nghiệm thay đổi không có
ý nghĩa thống kê. Cho thấy việc truyền kháng thể từ máu sang trứng trên gà
mái đẻ có hiệu suất cao, và kháng nguyên virus viêm gan vịt là an toàn và
không ảnh hưởng đến tỉ lệ đẻ khi sử dụng gây miễn dịch cho gà mái đẻ.
1
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi vịt từ lâu được xem là một nghề truyền thống của người dân ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long, đã góp phần to lớn vào sự phát triển chung của
ngành chăn nuôi cả nước và dần dần trở thành ngành sản xuất hàng hoá quan
trọng, góp phần to lớn vào công cuộc xoá đói giảm nghèo cho nông dân. Để
đẩy mạnh chăn nuôi vịt, hàng năm chúng ta đã tiến hành nhập nội nhiều giống
vịt cao sản và nhân chúng ra diện rộng, các giống này có ưu điểm cho năng
suất cao nhưng sức đề kháng với bệnh kém hơn nhiều so với các giống vịt nội
địa. Cùng với hình thức chăn nuôi vịt chạy đồng truyền thống của người dân
Đồng Bằng Sông Cửu Long, vịt được chăn thả trên đồng phải chống chịu trực
tiếp với các điều kiện khắc nghiệt của môi trường và sự đe doạ thường xuyên
của các dịch bệnh nguy hiểm như cúm gia cầm, dịch tả vịt, viêm gan vịt do
virus đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi vịt ở Đồng Bằng
Sông Cửu Long nói chung cũng như trên địa bàn thành phố Cần Thơ nói riêng.
Trong đó đáng kể nhất là bệnh viêm gan vịt do virus.
Bệnh viêm gan vịt do virus là một bệnh truyền nhiễm cấp tính lây lan
mạnh, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi vịt (Nguyễn Xuân Bình, 2002),
bệnh gây chết nhanh vịt con từ 1-7 ngày tuổi và tỷ lệ chết có thể lên đến
Năm 1945 ở Mỹ, Levine và Hofstad quan sát thấy một bệnh lạ xảy ra trên
đàn vịt con một tuần tuổi, vịt chết nhanh sau khi có biểu hiện triệu chứng, vịt
chết có bệnh tích tập trung ở gan, gan sưng to và có xuất huyết lốm đốm. Năm
1949 tại Long Island, Mỹ, Levine và Fabricant lại quan sát thấy một bệnh
tương tự xảy ra trên đàn vịt con trắng Bắc Kinh, đầu tiên là vịt 2-3 tuần tuổi,
sau đó bệnh lây lan ra rất nhanh và gây thiệt hại nghiêm trọng với tỷ lệ chết
lên đến 70-95%. Đến năm 1950, bằng phương pháp nuôi cấy trên phôi gà,
Levine và Fabricant đã chính thức phân lập được virus viêm gan vịt type 1.
Từ năm 1953-1958, bệnh tiếp tục xảy ra trên một vùng khác của Mỹ và
sau đó được phát hiện ở nhiều quốc gia khác trên thế giới như: Anh, Ai Cập,
Ý, Hà Lan, Nga.
Năm 1965 tại Norflok (Anh), việc tiêm phòng vaccin viêm gan vịt type 1
đã được thực hiện, tuy nhiên bệnh viêm gan trên vịt vẫn xảy ra. Sau đó bằng
phương pháp bảo hộ chéo trên vịt con, Asplin đã phân lập được virus viêm
gan vịt type 2. Một thời gian sau trên đàn vịt không thấy xuất hiện bệnh viêm
gan nữa, cho đến năm 1983-1984 thì bệnh lại xuất hiện trên 3 đàn vịt ở
Norflok, Anh với tỷ lệ chết lên đến 50% trên đàn vịt 6-14 ngày tuổi và 30%
trên đàn vịt 3-6 tuần tuổi (Asplin, 1965).
Năm 1969 tại Long Island, Mỹ, bệnh viêm gan vịt đã xảy ra trên đàn vịt
đã tiêm phòng vaccine viêm gan vịt type 1. Bệnh xảy ra nhẹ hơn, với tỷ lệ chết
trên vịt con hiếm khi trên 30% (Toth, 1969). Năm 1979, Haider và Calnek đã
phân lập được chủng virus gây bệnh và đặt tên là virus viêm gan vịt type 3.
Cho đến nay, theo tổ chức thú y Thế giới OIE (2010), bệnh viêm gan vịt
do virus viêm gan type 1 xảy ra khắp nơi trên Thế giới, còn bệnh viêm gan vịt
gây ra bởi virus viêm gan vịt type 2 chỉ xảy ra ở nước Anh và type 3 chỉ mới
được công bố ở Mỹ.
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Viêm gan vịt do virus đã được Park xác nhận lần đầu tiên tại Hàn Quốc
bằng kính hiển vi điện tử trong huyết thanh và gan vịt bệnh trên hai trang trại
gần thành phố Kwangju từ năm 1985. Vịt dưới 15 ngày tuổi có tỷ lệ tử vong
chủng virus này yếu đi, không gây bệnh cho vịt con (Trần Minh Châu et al.,
1985). Năm 1985, các tác giả Trần Minh Châu, Lê Thu Hồng đã xây dựng qui
trình sản xuất vacxin từ 3 chủng virus vaccine viêm gan vịt nhược độc: TN
(Hungary), E52 (Pháp) và VN (Việt Nam). Theo tác giả thì cả 3 chủng virus
vaccine đều an toàn và có hiệu lực sử dụng khi miễn dịch cho vịt con rồi thử
thách với cường độc thì bảo hộ được 70-100% vịt con (Trần Minh Châu et al.,
1989).
Năm 1984, Lê Thanh Hòa et al., đã nghiên cứu đặc tính sinh học của
virus vaccine viêm gan vịt nhược độc chủng TN của Asplin và ứng dụng quy
trình sản xuất vaccine của Hungary vào Việt Nam. Theo báo cáo của tác giả,
vaccine đạt các chỉ tiêu an toàn và có hiệu lực khi sử dụng.
Nguyễn Văn Cảm et al., (2001), đã nghiên cứu về những biến đổi bệnh
lý viêm gan vịt do virus với mục đích đưa ra một phương pháp chẩn đoán
chính xác bệnh. Kết quả được báo cáo như sau: bệnh tích điển hình về đại thể
chủ yếu là gan viêm, xuất huyết, hoại tử chiếm tỷ lệ 79,66-100%, bệnh tích vi
thể điển hình ở gan có tế bào viêm dạng đơn nhân, xuất huyết, hoại tử, tăng
sinh ống dẫn mật với tỷ lệ là 100%.
Nguyễn Đức Lưu et al., (2002), đã nghiên cứu ứng dụng của kháng thể
kháng virus viêm gan vịt để phòng trị bệnh. Vào tháng 8 năm 2001 Công ty
Han-Vet đã chế tạo được sản phẩm kháng thể viêm gan vịt.
Nguyễn Phục Hưng (2004), nghiên cứu bệnh viêm gan do virus trên các
đàn vịt nuôi ở 10 huyện thuộc 4 tỉnh Hà Nội, Hưng Yên, Hà Tây, Bắc Ninh
cho biết tỷ lệ vịt chết rất cao 45,23% ở vịt 1-7 ngày tuổi, 34,4% ở vịt 8-21
ngày tuổi, 18,9% ở vịt 22-42 ngày tuổi.
4
Nguyễn Phục Hưng (2004), đã nghiên cứu chế tạo vaccine nhược độc
viêm gan vịt được chế từ chủng DH-EG-2000 trên phôi gà đạt được các tiêu
chuẩn về an toàn, thuần khiết và có hiệu lực phòng bệnh cao và có thể sử dụng
vaccine để tiêm thẳng vào ổ dịch đang xảy ra. Năm 2007, Bùi Thanh Khiết đã
kích thước 20-40 nm, không ngưng kết hồng cầu. Virus đề kháng với ether và
chloroform, chịu đựng được sự thay đổi nhiệt độ và các yếu tố môi trường.
Các chủng virus thuộc type này có độc lực cao, gây bệnh nặng với các dấu
hiệu đặc trưng là tiến triển nhanh và tỷ lệ tử vong cao, toàn bộ đàn vịt mắc
bệnh có thể chết trong 3-4 ngày.
Type 2 do Asplin phân lập vào năm 1965, đó là một astrovirus. Virus
type 2 thường gây bệnh trên vịt từ 10 ngày tuổi đến 6 tuần tuổi, virus type 2
chủ yếu được ghi nhận ở châu Âu.
5
Type 3 do Toth phân lập năm 1969, là một picornavirus nhưng không có
mối quan hệ với virus viêm gan vịt type 1.
Type 3 có độc lực thấp nên vịt bị bệnh thường có tỷ lệ chết không quá
30%.
2.1.5 Đặc tính sinh học của virus viêm gan vịt
Virus gây viêm gan vịt là những hạt virus rất nhỏ, có thể xuyên qua
màng lọc Reckefeld và Seitz EK, có hình cầu, là loại virus không có vỏ ngoài
kích thước từ 20-40nm với capside gồm 32 capsomere và là một RNA virus.
Không có trung hòa chéo giữa virus viêm gan vịt với huyết thanh kháng
virus viêm gan của người và của chó.
Virus không có khả năng gây ngưng kết hồng cầu của gà, vịt, cừu, ngựa,
chuột lang, thỏ lợn,… Virus không ngưng kết hồng cầu khỉ khi thí nghiệm ở
pH 6.8-7 và ở nhiệt độ 4
o
C, 24
o
C, 37
o
C.
2.1.5.1 Sức đề kháng
vịt biến dị (Sandhu, 1988).
2.1.6 Truyền nhiễm học
2.1.6.1 Loài mắc bệnh
Theo Nguyễn Xuân Bình (1995), bệnh viêm gan vịt do virus viêm gan
vịt type 1 gây ra chỉ xảy ra trên vịt con, với tỷ lệ mắc bệnh có thể lên đến
100%, tỷ lệ chết tùy theo lứa tuổi: vịt dưới 1 tuần tuổi tỷ lệ chết đến 95%, 1-3
tuần tuổi tỷ lệ chết 50%, đối với vịt 4-5 tuần tuổi tỷ lệ chết không đáng kể.
6
Theo OIE (2010), virus viêm gan vịt type 1 gây bệnh chủ yếu trên vịt con
dưới 6 tuần tuổi, nhạy cảm nhất là vịt dưới 3 tuần tuổi. Vịt trưởng thành không
có biểu hiện lâm sàng, cũng như giảm sản lượng trứng khi bị nhiễm virus.
Ngoài ra, virus có thể gây bệnh cho ngan, ngỗng. Vịt trưởng thành và các
loài gia cầm khác không mắc bệnh. Một số loài vịt hoang dã khác như le le, vịt
trời là những loài vật mang trùng, những loài vật này khi di cư có thể mang
virus đi xa hàng km, chúng bài thải virus theo phân vào nguồn nước và làm
lan truyền bệnh (Hồ Thị Việt Thu và Nguyễn Đức Hiền, 2012).
2.1.6.2 Đường xâm nhập, cách lây lan và cơ chế sinh bệnh
Trong tự nhiên bệnh thường lây qua thức ăn, nước uống và chất bài tiết
của vịt. Virus viêm gan vịt có sức đề kháng khá mạnh với ngoại cảnh nên các
yếu tố lây truyền gián tiếp như con người, dụng cụ chăn nuôi, máy ấp bị nhiễm
trùng trở thành nhân tố truyền bệnh nguy hiểm.
Trong ổ dịch lưu hành, vịt bệnh, vịt khỏi bệnh mang trùng là nguyên
nhân trực tiếp làm dịch phát sinh. Thời gian mang trùng của vịt rất dài, vịt
khỏi bệnh và vịt đã nhiễm virus có thể mang virus từ 8-10 tuần, có khi lâu
hơn.
Virus xâm nhập vào cơ thể qua niêm mạc đường tiêu hóa, hô hấp hoặc
qua vết thương rồi vào máu. Virus theo máu đến các cơ quan, phủ tạng và tập
trung nhiều nhất ở gan. Dưới tác động của virus quá trình trao đổi chất ở gan
bị rối loạn, lượng glycogen trong gan giảm thấp, lượng lipid tăng cao do quá
chảy nước mắt, tăng tiết urat, vịt chết do co giật cấp tính, vịt bị nhiễm bệnh
thường chết với tỷ lệ 10-50%, vịt trưởng thành không mắc bệnh.
Bệnh do virus viêm gan vịt type 3 gây ra chỉ xảy ra trên vịt con. Triệu
chứng bệnh giống như do virus viêm gan vịt type 1 gây ra, tỷ lệ mắc bệnh và
tỷ lệ chết hiếm khi vượt quá 30%.
2.1.8 Bệnh tích
2.1.8.1 Bệnh tích đại thể
Vịt chết thường có tư thế đặc biệt (opisthotonus) và bệnh tích tập trung ở
gan: gan viêm, xuất huyết, sưng, nhũn, dễ bị nát khi ấn nhẹ.
Trên bề mặt gan có hiện tượng xuất huyết lan rộng, không có ranh giới.
Các nốt xuất huyết bằng đầu đinh ghim, màu đỏ, đôi khi nhỏ li ti tràn lan khắp
bề mặt gan, các nốt xuất huyết cũng có thể được quan sát ở cả mặt dưới của
gan. Bên cạnh những điểm xuất huyết còn thấy những đám tụ máu nhỏ, hoặc
những đám màu vàng nhạt do tổ chức gan bị thoái hoá.
Ngoài các bệnh tích ở gan còn có các bệnh tích khác thường gặp là: cơ
tim nhợt nhạt, màng bao tim và túi khí bị viêm, thận tụ huyết nhẹ, lách hơi
sưng.
Trong trường hợp kế phát salmonella thì lách sưng to. Gan có thêm
những điểm hoại tử lấm tấm màu vàng xám (Hồ Thị Việt Thu và Nguyễn Đức
Hiền, 2012).
2.1.8.2 Bệnh tích vi thể
Các biến đổi bệnh tích vi thể rất phức tạp. Những biến đổi trong thể cấp
tính bao gồm thay đổi đầu tiên là hoại tử tế bào gan, ống dẫn mật tăng sinh dãn
rộng, đồng thời tăng sinh các tế bào viêm và xuất huyết xảy ra với các mức độ
khác nhau. Theo Farbricant (1957), thì các vịt con không chết có sự tái sinh
các tế bào nhu mô gan.
Sau khi tiêm virus viêm gan vịt type 1 vào xoang niệu mô của phôi vịt từ
10-14 ngày tuổi, khoảng 24-72 giờ sau thì phôi chết. Phôi chết có biểu hiện
xuất huyết dưới da, gan xuất huyết có nhiều điểm hoại tử.
Gây nhiễm virus viêm gan vịt type 1 cho vịt ở 6 tuần tuổi bằng đường
nhau.
Bệnh phẩm chủ yếu được dùng để chẩn đoán bệnh là gan vịt. Nghiền
bệnh phẩm với dung dịch PBS (Phosphate Buffer Saline) tỷ lệ 1/5, xử lý
chloroform 5% trong vòng 10-15 phút ở nhiệt độ phòng để diệt tạp khuẩn. Sau
đó tiến hành phân lập virus viêm gan vịt.
- Nuôi cấy virus viêm gan vịt type 1:
+ Dùng phôi vịt 10-14 ngày tuổi, sau khi tiêm huyễn dịch bệnh phẩm vào
xoang niệu mô, virus sẽ giết chết phôi trong khoảng 24-72 giờ với bệnh tích
xuất huyết dưới da toàn thân, gan phôi xuất huyết, phôi phù tích nước, kích
thước phôi nhỏ hơn bình thường.
9
+ Dùng phôi gà 8-10 ngày tuổi tiêm huyễn dịch bệnh phẩm vào xoang
niệu mô, sau 8-10 ngày phôi chết. Phôi chết này có bệnh tích còi cọc, da xuất
huyết, phù phôi, gan sưng đỏ hoặc hơi vàng.
+ Dùng vịt con 1-7 ngày tuổi, tiêm huyễn dịch virus dưới da hoặc tiêm
bắp. Sau khi tiêm khoảng 18-48 giờ, thường dưới 24 giờ vịt có biểu hiện triệu
chứng lâm sàn và chết với bệnh tích đặc trưng của virus viêm gan vịt type 1, tỉ
lệ chết 90-100%.
+ Dùng môi trường tế bào một lớp gan phôi vịt sau khi cấy huyễn dịch
bệnh phẩm, virus sẽ gây hoại tử tê bào: tế bào co tròn, hoại tử, tạo vệt tan có
đường kính gần bằng 1mm.
- Nuôi cấy virus viêm gan vịt type 2:
+ Dùng phôi vịt 10-14 ngày tuổi, gây nhiễm qua xoang niệu mô, trên môi
trường này, virus nhân lên hạn chế, sau 6-10 ngày mới phát hiện được sự
nhiễm virus của phôi: phôi còi cọc hoại tử gan, gan phôi có màu xanh. Virus
thuộc type này không nhân lên được trong môi trường tế bào một lớp của vịt,
gà.
+ Dùng vịt con 1-7 ngày tuổi, tiêm huyễn dịch bệnh phẩm vào dưới da
hoặc tiêm bắp. Sau khi tiêm 2-4 ngày vịt chết, tỷ lệ chết 20%.
chứng chết, 80-100% vịt thí nghiệm sống.
Phản ứng trung hoà còn được sử dụng để chẩn đoán virus viêm gan vịt
type 2, type 3 (OIE, 2000).
Ngoài ra còn dùng phản ứng bảo hộ chéo để phân biệt virus viêm gan vịt
type 1, type 2, type 3: tiêm huyết thanh miễn dịch viêm gan vịt type 1, type 2
cho vịt 2-4 ngày tuổi. Sau 3 ngày công cường độc phân lập được virus
(Gough, 1985).
2.1.9.4 Chẩn đoán phân biệt
Chẩn đoán phân biệt là phương pháp dựa vào dịch tễ học, triệu chứng
lâm sàng và bệnh tích của bệnh để phân biệt với các bệnh khác. Cần phải chẩn
đoán phân biệt viêm gan vịt do virus với các bệnh sau:
- Bệnh dịch tả vịt (duck plaque): vịt mắc bệnh viêm gan do virus
thường dễ nhầm với bệnh dịch tả vịt, vì vậy trước tiên cần phân biệt hai bệnh
này. Bệnh dịch tả vịt thường xảy ra ở mọi lứa tuổi với các triệu chứng điển
hình như: sưng đầu, liệt chân, liệt cánh, đặc biệt là có hiện tượng đi ngoài phân
trắng. Mổ khám thấy đường ruột có hiện tượng viêm xuất huyết.
- Bệnh phó thương hàn vịt (duck salmonellosis): Vịt mắc bệnh phó
thương hàn (do salmonella) thường có biểu hiện: vịt gầy, đi ngoài phân trắng,
vịt giảm đẻ, vỏ trứng mỏng và dễ vở. Quan sát bệnh tích thấy: chưa tiêu hết
lòng đỏ trứng ở vịt con; gan, thận, lách sưng và xung huyết; ở vịt lớn thường
bị viêm buồng trứng, dịch hoàn, trứng non teo và dị hình. Vi khuẩn
Salmonella có thể nuôi cấy phân lập được trong phòng thí nghiệm trên các môi
trường thạch thông thường và bệnh này có thể điều trị bằng kháng sinh.
- Chứng nhiễm độc aflatoxin: Chứng nhiễm độc aflatoxin có bệnh tích
gần giống với bệnh viêm gan do virus trên vịt nhưng đặc biệt không có hiện
tượng lây lan trong đàn. Bệnh tích chủ yếu là: xoang bụng và xoang bao tim
tích nước, gan sưng có màu nhợt nhạt, thận và lách xuất huyết. Kiểm tra tổ
chức học thấy tổ chức nhu mô gan và thận bị phá huỷ nghiêm trọng.
2.1.9.5 Chẩn đoán bệnh bằng phương pháp giám định phân tử
a) Kỹ thuật PCR
nâng lên 68-72
0
C (thường là 72
0
C) trong vài chục giây đến vài chục phút, để
tổng hợp các sợi DNA bổ sung-sản phẩm PCR dưới xúc tác của enzyme
DNA-polymerase.
Sau mỗi chu kỳ các điểm bám cho các đoạn mồi lại xuất hiện trên các sợi
DNA mới, các sợi này được dùng để làm khuôn cho các chu kỳ tiếp theo, đến
chu kỳ cuối cùng nhiệt độ được duy trì ở 72
0
C/5-10 phút, để cho tất các các
đoạn DNA mới được tổng hợp xoắn lại hoàn toàn tạo nên sản phẩm PCR.
Cuối cùng duy trì ở nhiệt độ 4
0
C để bảo quản sản phẩm. Kết quả, sau n
chu kỳ của phản ứng, đoạn DNA ban đầu được “nhân lên” với số lượng rất
lớn, theo lý thuyết sẽ có 2
n
bản sao các phản ứng DNA mạch kép nằm ở giữa
hai đoạn mồi. Ví dụ: sau 30 chu kỳ số lượng sản phẩm PCR sẽ là: 2
30
=
1.073.741.824 bản sao của một đoạn DNA ban đầu (Lê Thanh Hòa, 2006).
b) Kỹ thuật RT-PCR
Kỹ thuật RT-PCR (phản ứng PCR ngược) là phản ứng nhân lên (khuếch
đại) một đoạn giới hạn của khuôn RNA, bao gồm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: tổng hợp đoạn cDNA (DNA bổ sung) từ sợi RNA làm
khuôn nhờ enzyme phiên mã ngược (reverse transcriptase enzyme), còn gọi là
giai đoạn chuyển mã ngược (RT - reverse trancription).
trứng đem ấp sẽ tạo được miễn dịch thụ động cho vịt con. Ở vịt con hàm
lượng kháng thể thụ động sẽ giảm dần trong 2 tuần sau khi nở. Ở vịt mẹ hàm
lượng kháng thể phải đạt hiệu giá 1/64 trong phản ứng ngưng kết hồng cầu thụ
động hoặc 1/32 trong phản ứng trung hòa mới có thể bảo hộ cho vịt con khỏi
mắc bệnh (Asplin, 1958).
2.1.10.2 Miễn dịch chủ động
Là loại miễn dịch thu được khi con vật bị mắc bệnh nhưng có đủ sức để
chống lại bệnh và khỏi bệnh hoặc là miễn dịch mà vịt có được sau khi tiêm
vaccine. Những vịt sống sót sau khi mắc bệnh đều có miễn dịch chắc chắn với
virus của type gây bệnh. Tạo miễn dịch chủ động cho đàn vịt bằng cách sử
dụng các loại vaccine nhược độc và vaccine vô hoạt. Vaccine sau khi vào cơ
thể sẽ đi đến các cơ quan miễn dịch như hạch, lách, tổ chức lympho dưới niêm
mạc kích thích cơ thể sinh ra kháng thể đặc hiệu.
Trong kháng thể dịch thể chống virus viêm gan vịt type 1 thì kháng thể
7S nhiều hơn kháng thể 19S. Vịt được tiêm vaccine có thể tạo được miễn dịch
chủ động chống lại bệnh. Sử dụng vaccine nhược độc viêm gan vịt tiêm cho
vịt 2-3 ngày tuổi và tiêm nhắc lại bằng vaccine vô hoạt vào thời điểm 22 tuần
tuổi sẽ tạo được lượng lớn kháng thể trung hòa (Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị
Lan Hương, 2004).
2.2 Kháng thể từ lòng đỏ trứng
2.2.1 Sự tấn công của virus
Virus là loại vi sinh vật nhỏ nhất chỉ gồm có nhân DNA hoặc RNA với
vỏ bọc cho nên hoàn toàn phải sống bên trong tế bào vật chủ và nhờ bộ máy
sao chép của tế bào ấy mà sinh sôi nảy nở. Vỏ của chúng thường có những
chất ái tính với các receptor đặc hiệu sẵn có trên bề mặt tế bào.
Virus có những tính chất độc đáo riêng là chúng có thể xâm nhập vào mô
mà không gây ra một đáp ứng viêm, chúng có thể nhân lên trong tế bào suốt
đời sống cơ thể vật chủ mà không gây tổn thương tế bào, đôi khi chúng cản trở
một số chức năng đặc biệt của tế bào mà không gây biểu hiện bên ngoài, cũng
13
này có tầm quan trọng đặc biệt trong đáp ứng miễn dịch (Campbell et al.,
1995). Như vậy, các kháng thể gắn với một virus hoặc một vi khuẩn có thể
liên kết với đại thực bào và khởi động hiện tượng thực bào. Các tế bào lympho
NK (Natural Killer) có thể thực hiện chức năng giải độc tế bào và ly giải các
vi khuẩn bị gắn kết với các kháng thể.
2.2.3 Kháng thể IgY của gà
2.2.3.1 Sơ lược về IgY
IgY là một globulin miễn dịch được mô tả lần đầu tiên vào năm 1893 khi
Klemperer chủng ngừa gà để sản xuất kháng thể và phát hiện nồng độ kháng
thể trong lòng đỏ trứng gà cũng tương đương trong máu. Khi Klemperer phát
hiện globulin miễn dịch gà vào cuối năm 1900, ông đã đặt tên chúng là IgG.
Hơn 70 năm sau đó, Leslie và Clem đã đổi tên globulin miễn dịch này thành