BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
i
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các đoạn trích dẫn và số
liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi
hiểu biết của tôi. Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học
Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 7 năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Thanh Sơn
Lê Thanh Sơn
iii
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Các dòng vốn đầu tư của nhà nước, vốn nhà nước vay từ Ngân hàng thế giới và
vốn của các nhà đầu tư tư nhân vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng ở Thành Phố Cần Thơ đã góp
phần làm cho thành phố thay da đổi thịt hằng ngày. Tuy nhiên, giá bồi thường khi nhà
nước thu hồi đất cho người dân để thực hiện dự án có lúc khác nhau, tạo nên sự không
công bằng và dẫn đến khiếu kiện, khiếu nại. Nghiên cứu đã cho thấy có sự không thống
nhất trong việc áp giá bồi thường khi nhà nước phân loại dự án đầu tư và nguồn vốn đầu
tư. Vì vậy để đảm bảo cân bằng lợi ích các bên trong trường hợp nhà nước thu hồi đất,
Nhà nước chỉ thu hồi đất trong các trường hợp hết sức cần thiết và chứng minh được mục
đích thu hồi là vì lợi ích công cộng. Nhà nước cần có cơ chế để đảm bảo được tất cả các
bên có liên quan trong việc thực hiện quy hoạch của nhà nước nói lên tiếng nói và quyền
quyết định một cách công bằng đối với quá trình thực hiện dự án, đồng thời cần loại bỏ
việc phân biệt phân loại đất để xác định giá đất.
DANH MỤC PHỤ LỤC viii
CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4. Tổng quan các bài nghiên cứu trước 3
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ NGUỒN THÔNG TIN 5
2.1 Phương pháp sử dụng để phân tích 5
2.2 Phương pháp thu thập thông tin 6
2.3 Các nguồn thông tin không thể thu thập, dẫn đến những thiên lệch của nghiên cứu 6
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH VÀ NHỮNG PHÁT HIỆN 7
3.1 Mục đích thu hồi và các nguồn vốn đầu tư 7
3.1.1 Thu hồi đất quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng 7
3.1.2 Thu hồi đất vì mục tiêu phát triển kinh tế 7
3.2 Qui trình thu hồi đất 8
PHỤ LỤC 38vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tên Tiếng Anh Tên Tiếng Việt
BTC
Bộ Tài chính
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
LĐĐ Luật đất đai
MARKDC Công ty Nghiên cứu thị trường và phát
triển cộng đồng
NCĐT Nâng cấp đô thị
NĐ Nghị định
OECD Organization for Economic
Co-operation and Development
Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển
PMUCT Ban quản lý dự án nâng cấp đô thị
thành phố Cần Thơ
QĐ Quyết định
QĐTHĐ
Quyết định thu hồi đất
QLDA Quản lý dự án
Hình 3.3: Nơi ở vào tháng 5/2014 của gia đình Ông Dương Văn Dũng 16
Hình 3.4: Khu tái định cư Thới Nhật của dự án do WB tài trợ 17
Hình 3.5: Mối quan hệ giữa cung và cầu về đất đai trên thị trường 20
Hình 3.6: Lớp tập huấn cho các đối tượng liên quan đến vận hành dự án 24
Hình 3.7: Tài liệu tuyên truyền về chính sách xã hội và giải phóng mặt bằng 24
Hình 3.8: Mức độ hài lòng của người dân về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 30 DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 3.1: Các nguyên tắc cơ bản trong khung chính sách OP4.12 10
Hộp 3.2: Khung chính sách cơ bản OP4.12 về tái định cư không tự nguyện 17
Hộp 3.3: Quy trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại của dự án tái định cư nâng cấp đô thị
do Ngân hàng thế giới tài trợ 27
Phụ lục 12: Nội dung từ bướm tuyên truyền đến cộng đồng dân cư khi dự án triển khai. 82
Phụ lục 13: Đơn khiếu nại của bà Huỳnh Thị Thảo Trinh 84
Phụ lục 14: Phản hồi của UBND quận Bình Thủy về đơn khiếu nại của bà Huỳnh Thị Thảo
Trinh 87
Phụ lục 15: Quyết định cưỡng chế thu hồi đất của UBND quận Bình Thủy 90
Phụ lục 16: Báo cáo giải quyết khuyết nại của hộ gia đình của WB 93
Phụ lục 17: Công văn của thủ tướng Chính phủ về việc chấp thuận khung chính sách bồi
thường, tái định cư của WB 115
Phụ lục 18: Báo cáo giám sát của WB 116
1 CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP
1.1 Bối cảnh nghiên cứu
Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương, nằm ở vị trí trung tâm của vùng
Đồng bằng sông Cửu Long. Thành phố Cần Thơ (TPCT) đang hướng tới mục tiêu trở
thành thành phố đồng bằng cấp quốc gia, văn minh, hiện đại, xanh, sạch đẹp, là trung tâm
công nghiệp, trung tâm thương mại – dịch vụ, trung tâm giáo dục đào tạo và khoa học công
nghệ, trung tâm y tế và văn hóa của vùng. Để đạt được mục tiêu đó, TPCT rất quan tâm hỗ
trợ và sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, doanh nghiệp hoạt động sao cho có
hiệu quả nhất (Trần Thanh Mẫn, 2014).
nóng” trong xã hội và là tiêu điểm của khiếu nại, khiếu kiện. LĐĐ năm 1993 chỉ quy định
thu hồi đất vì mục đích: quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Điều này
dẫn đến vấn đề khi cần đất làm các dự án phát triển kinh tế, chính quyền địa phương gặp
lúng túng, không biết phải áp dụng cơ chế nào. Chính vì lẽ đó, một số trường hợp thu hồi
đất mang tên là lợi ích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng nhưng kỳ thực là vì mục đích
phát triển kinh tế (Phan Trung Hiền, 2013).
LĐĐ năm 2003 đã chỉ ra rõ những điều kiện cụ thể mà nhà nước có thể thu hồi đất
mục đích phát triển kinh tế. Tuy nhiên quy định của luật và các hướng dẫn thi hành LĐĐ
2003 vẫn còn nhiều vấn đề chưa phù hợp, chưa công bằng dẫn đến quá trình thực thi luật
không gặp sự đồng thuận của một số người dân.
Cũng như nhiều địa phương khác, các dự án đầu tư tại TPCT thường được thực
hiện bởi ba nguồn vốn đầu tư: nhà nước, vốn nhà nước vay của Ngân hàng thế giới (WB)
và vốn của các nhà đầu tư tư nhân. Do qui định của luật pháp và chính sách của nhà tài trợ
nên giá bồi thường có lúc khác nhau trên cùng một địa bàn khi nhà nước thu hồi đất, tạo
nên sự không công bằng cho người dân và dẫn đến khiếu kiện, khiếu nại. Vì vậy, tìm hiểu
và phân tích nguyên nhân của sự khác biệt giữa ba chính sách thu hồi đất để tìm tiếng nói
chung trong việc thực hiện quy hoạch của nhà nước là hết sức cần thiết.
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
- Liệu có sự khác biệt trong chính sách và thực tế khi nhà nước thu hồi đất, bồi
thường và tái định cư từ các dự án có nguồn vốn đầu tư từ các nguồn khác nhau (WB, các
dự án từ nguồn vốn Nhà nước và các dự án từ nguồn vốn tư nhân) trên địa bàn TPCT hay
không, và nếu có nguyên nhân và hệ quả của sự khác biệt đó là gì?
- Bài học kinh nghiệm trong thu hồi, bồi thường và tái định cư rút ra cho TPCT.
3 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các văn bản pháp luật liên quan đến việc thu hồi đất tại các
dự án từ ba nguồn vốn đầu tư của: Ngân hàng thế giới, nhà nước và tư nhân, các dự án đã
đai tự nguyện ở Việt Nam; (2) Nghiên cứu về cơ chế xác định giá đất phục vụ bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư tại Việt Nam; (3) Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại
về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam do Đặng Hùng Võ
thực hiện với sự hợp tác của một số chuyên gia làm việc tại BTNMT. Báo cáo đã phân
tích hệ thống pháp luật đất đai của Việt Nam về chuyển dịch đất đai, phân tích thực tế triển
khai việc chuyển dịch đất đai ở Việt Nam và đề xuất những điều chỉnh, đổi mới về cơ chế
chuyển dịch đất đai ở Việt Nam trong đó có việc “… hỗ trợ cần tính toán đủ các thiệt hại
sẽ xảy ra đối với người bị thu hồi đất, cả những thiệt hại không tính được bằng tiền và
những thiệt hại dài hạn nhằm mục tiêu khôi phục lại đời sống, việc làm như trước khi bị
thu hồi đất…”. Kết quả nghiên cứu cho thấy được bức tranh tổng quát về cơ chế của nhà
nước trong việc thu hồi đất và chuyển dịch đất đai ở Việt Nam và hướng đi đảm bảo công
bằng lợi ích các bên trong việc thu hồi đất (Đặng Hùng Võ và đ.t.g, 2011).
Nghiên cứu về mô hình điều tiết giá trị tăng thêm từ đất trong quá trình đô thị hóa
tại Đà Nẵng, tác giả Hoàng Thị Hồng Nhung đã cho biết: Đà Nẵng đã đạt được nhiều thành
công khi vừa điều tiết hài hòa giá trị tăng thêm từ đất trong quá trình đô thị hóa vì được đa
số người dân đồng thuận. Nguyên nhân chính của sự thành công là Thành phố Đà Nẵng
thực hiện thu hồi đất theo quy hoạch và tái phân phối lại giá trị tăng thêm cho những người
bị thu hồi đất, khi đó người thu hồi đất không cảm thấy mình bị đứng bên lề của sự phát
triển nên tỉ lệ người bị thu hồi đất đồng tình cao tạo điều kiện cho Đà Nẵng có thể triển
khai nhiều dự án thành công (Hoàng Thị Hồng Nhung, 2013).
5 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ NGUỒN THÔNG TIN
2.1 Phương pháp sử dụng để phân tích
Để đánh giá chất lượng một văn bản quy phạm pháp luật người ta dùng nhiều tiêu
chí để đánh giá. Với sự đa dạng về ý thức hệ, lịch sử và trình độ phát triển các quốc gia
phân tích câu chữ hoặc chú giải, phân tích lịch sử và phân tích phát triển là thường được sử
dụng phổ biến nhất (Nguyễn Ngọc Điện, 2006). Phương pháp phân tích câu chữ không có
nghĩa là phân tích từng câu, từng chữ dựa theo ý nghĩa của từ ngữ được nghi nhận trong từ
điển hoặc trong tập quán. Nghiên cứu và phân tích luật viết dựa vào phương pháp phân tích
câu chữ là hoạt động trí tuệ của nhà chuyên môn đi xuyên qua văn bản quy phạm pháp luật
để nắm bắt ý chí đích thực của người làm luật (Nguyễn Ngọc Điện, 2006, tr74)
Để trả lời được câu hỏi nguyên nhân của sự khác biệt, nghiên cứu sẽ tìm hiểu sự
khác nhau của ba chính sách trên các qui định của pháp luật, động cơ của việc thi hành các
qui định trên và thực tế diễn ra ở TPCT.
Để tìm bằng chứng cho kết quả của sự khác biệt, nghiên cứu sẽ dựa trên các nghiên
cứu trước về các dự án hoặc điều tra khảo sát để đánh giá mức độ hài lòng của các hộ dân
bị ảnh hưởng bởi dự án.
2.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Sử dụng các tài liệu, văn bản pháp lý của nhà nước và TPCT trên công báo, các ấn
phẩm xuất bản của Ngân hàng Thế giới, các tài liệu lưu trữ của Trung tâm phát triển quỹ
đất TP Cần Thơ, các chủ đầu tư.
- Tìm kiếm các thông tin trên mạng Internet.
- Khảo sát một số hộ dân trong các tình huống cụ thể.
2.3 Các nguồn thông tin không thể thu thập, dẫn đến những thiên lệch của nghiên cứu
Trong quá trình thu nhập dữ liệu chúng tôi nhận thấy để giải quyết các vấn đề phát
sinh trong quá trình thu hồi đất, các cơ quan thực thi công vụ thường xuyên báo cáo kết
quả thực hiện lên chính quyền các cấp. Thông thường, các kết luận, chỉ đạo của lãnh đạo
được thông báo bằng kết luận của văn phòng. Đôi khi có những kết luận, chỉ đạo “miệng”
của lãnh đạo các cấp trong quá trình thực hiện quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng
được triển khai thực hiện ngay mà không tìm được những kết luận bằng văn bản hoặc biên
bản cuộc họp.
Với các loại hình dự án không do nhà nước thu hồi đất: Doanh nghiệp tự thoả thuận
với người dân về chi phí bồi thường thì không biết được giá thật sự mà doanh nghiệp đã trả
cho từng hộ gia đình.
ngoài bỏ vốn vào quá trình đầu tư và để có quỹ đất cho xây dựng cơ sở hạ tầng, góp phần
phát triển kinh tế xã hội ở thành phố Cần Thơ.
8 Không có một ranh giới rõ ràng giữa nguồn vốn đầu tư mà căn cứ vào loại hình dự
án đầu tư. Nếu các dự án đầu tư theo điều 36, NĐ 181/2004 và điều 34,35,36,37,38,39,40
NĐ84/2007 thì Nhà nước sẽ tiến hành thu hồi, ngược lại thì chủ đầu tư tự thỏa thuận với
chủ đất.
Nhà đầu tư tư nhân có thể tham gia cả hai loại dự án trên, nghĩa là nếu thuộc vào
nhóm dự án do nhà nước thu hồi (khoản 2, điều 36, NĐ 181/2004), họ sẽ được áp dụng qui
trình nhà nước thu hồi, kể cả biện pháp cưỡng chế. Ngược lại, họ sẽ phải tự thoả thuận với
người dân. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề cập đến các nhà đầu tư tư nhân phải tự thoả
thuận với người dân để có mặt bằng thực hiện dự án đầu tư.
3.2 Qui trình thu hồi đất
Nhà nước chỉ thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng. Riêng đối với trường hợp thu hồi đất vì mục tiêu phát triển
kinh tế, xã hội, nhà nước chỉ thu hồi trong những trường hợp cụ thể theo điều 36 của NĐ
181/2004 và điều 34,35,36,37,38,39,40 NĐ84/2007.
Hình 3.1: Quy trình thu hồi đất theo NĐ 69/2009/NĐ-CPNguồn: Chính phủ, 2009
9 Theo quy trình trên, ta thấy nhà nước đã được luật pháp cho phép có quyền thu hồi
đất và tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ thi hành quyết định của chính quyền các cấp. Nếu
không chấp hành thì nhà nước sẽ dùng quyền lực của nhà nước để cưỡng chế thu hồi.
thời chính quyền cũng sẽ ban phát cho người dân bằng các chính sách hỗ trợ. Tuy nhiên,
các văn bản pháp luật chưa ghi nhận việc người dân bị thu hồi đất, di chuyển chỗ ở, tái
định cư là do nhà nước, vì vậy việc bồi thường là điều tất nhiên, bồi thường phải thỏa
đáng để ít nhất quyền lợi của người dân được bảm đảm không bị kém hơn trước khi thu hồi
đất. Ngược lại, cụm từ “hỗ trợ” chỉ được dùng khi nào được cho thêm và có thêm
quyền lợi.
Trong trường hợp các dự án mà WB tài trợ phải thu hồi đất đai, làm ảnh hưởng đến
cuộc sống của người dân, tất cả những người bị ảnh hưởng sẽ được WB yêu cầu chính
quyền địa phương thống nhất bồi thường theo khung chính sách OP4.12 để về bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư (WB, 2001). Nguồn: WB, 2005
Bên cạnh đó, cũng là dự án do nhà nước đầu tư, nhà nước cũng phải thu hồi đất
nhưng vì thiếu vốn, nhà nước vay của WB thì việc sử dụng vốn vay phải theo các nguyên
tắc bồi thường của WB: “Chương trình đền bù, tái định cư và khôi phục cuộc sống phải
góp phần cải thiện, hoặc ít nhất là duy trì được mức sống cho người bị ảnh hưởng như
trước khi có dự án và phải bảo đảm có sự tham gia của họ trong các lợi ích của dự án”
(WB, 2009). Nguyên tắc mà WB đưa ra dù rất đơn giản nhưng hàm ý rất sâu sắc rằng
quyền tài sản, quyền sống của mỗi cá nhân, hộ gia đình được tôn trọng và họ có quyền
* Nguyên tắc bồi thường đối với các dự án WB đầu tư tại TP Cần Thơ
Nguyên tắc của dự án được áp dụng theo Khung chính sách đã được thông qua năm 2003 và một số
nội dung chính thể hiện như sau:
1. Tất cả những người bị ảnh hưởng bởi dự án sẽ có quyền lợi được đền bù và/hoặc hỗ trợ
khôi phục cuộc sống không phụ thuộc vào tình trạng pháp lí về quyền sử dụng đất.
2. Chương trình đền bù, tái định cư và khôi phục cuộc sống phải góp phần cải thiện, hoặc ít
nhất là duy trì được mức sống cho người bị ảnh hưởng như trước khi có dự án dự án và
phải bảo đảm có sự tham gia của họ trong các lợi ích của dự án.
nước hỗ trợ thu hồi theo mục đích sử dụng đất để chỉnh trang, phát triển khu đô thị và khu
dân cư nông thôn.
Như vậy, về tổng quan có thể thấy có sự khác nhau về mặt chính sách giữa ba
nguồn vốn đầu tư: Đối với việc thu hồi đất sử dụng vốn ngân sách, nhà nước có rất nhiều
văn bản để hướng dẫn thực hiện một cách chi tiết. Đối với dự án sử dụng nguồn vốn vay
của WB, chính quyền chấp nhận áp dụng khung chính sách của OP4.12 nếu như các chính
sách của Việt Nam không tương đồng hoặc không đáp ứng được tiêu chuẩn của WB. Còn
các dự án tư nhân tự đầu tư thì trên lý thuyết nhà nước không can thiệp, nhà nước chỉ tạo
khung pháp lý là cho doanh nghiệp được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất và
nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất tự do rồi sau đó được phép chuyển mục đích sử
dụng theo quy hoạch của nhà nước. Tuy nhiên, nhà nước cũng có thể hỗ trợ thu hồi đất
bằng vài động tác đơn giản là lồng ghép vào mục đích nào đó và gắn với khung quy định
luật cho phép thu hồi. Để thống nhất trong quá trình phân tích, so sánh, trong nghiên cứu
12 này, chúng tôi tạm gọi các nguồn vốn tư nhân chỉ ứng với các dự án mà nhà đầu tư tư nhân
phải tự thoả thuận với người dân.
Hình 3.2: Tóm tắt các khác biệt giữa 03 chính sách theo văn bản qui định
Nội dung sự
khác biệt
Vốn nhà nước Vốn ngân hàng thế giới Vốn tư nhân
Mục tiêu của
các chính sách
- Chủ yếu đền bù cho đất và tài
sản bị thiệt hại
- Không đề cập đến nhu cầu của
những nhóm người dễ bị tổn
thương nhất, đặc biệt các nhóm
dân tộc thiểu số.
hỗ trợ
Tự thoả thuận với
từng hộ gia đình.
Phương thức
xác định giá bồi
thường
- Đền bù cho đất bị mất theo giá
sát với giá thị trường do UBND
qui định để đảm bảo tương thích
với quyền lợi và giá chuyển đổi
quyền sử dụng đất ở địa
phương.
- Người bị ảnh hưởng không
hợp lệ có thể được xem xét hỗ
trợ tùy từng trường hợp.
- Đất đổi đất hoặc bằng tiền
mặt theo giá thay thế.
- Người bị ảnh hưởng không
hợp lệ (đến sinh sống trong
vùng dự án sau ngày giới
hạn) sẽ không được đền bù
và/hoặc hỗ trợ khôi phục
cuộc sống.
Hai bên có quyền tự
thỏa thuận về giá.
Nhà nước phê duyệt
phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái
định cư làm cơ sở
tính giá thành.
13 Tham vấn và
công bố thông
tin
Có rất nhiều qui định về chia sẻ
thông tin và công bố thông tin.
Nhưng hiệu quả hoạt động thấp.
Tham gia vào vi
ệc lập
kế hoạch và thực hiện, đặc
biệt xác nhận các tiêu
chuẩn đủ điều kiện bồi
thường và hỗ trợ, và tiếp
cận cơ chế giải quyết khiếu
nại
Khiếu nại và
cơ chế giải
quyết khiếu nại
Cùng là đơn vị ra quy
ết định
về bồi thường, tái định cư và
giải quyết khiếu nại ban đầu
Qui trình giải quyết khiếu
nại thuận lợi cho người khiếu
nại. Có thể khiếu nại nhiều
1
(UBNDTPCT, 2010).
Như vậy đại diện các hộ dân rất khiêm tốn so với số lượng thành viên hội đồng.
Mặc khác, Các thành viên của hội đồng ngoài hộ gia đình bị ảnh hưởng đều là viên chức
làm việc ở các phòng ban thuộc UBND huyện quản lý, nếu là đảng viên thì thuộc huyện uỷ
quản lý, chỉ khác nhau là họ công tác ở những vị trí khác nhau, hay nói cách khác là có
“vai diễn” khác nhau. Đối với các đại diện cho các hộ dân lại không phải do các hộ dân bị
thu hồi bầu chọn mà mà do UBND và Mặt trận tổ quốc xã, phường, thị trấn nơi có đất
thuộc phạm vi dự án giới thiệu. Do đó, tiếng nói của người đại diện các hộ dân trong vùng
ảnh hưởng của dự án có nguy cơ không đại diện được cho đa số hộ dân bị ảnh hưởng bởi
dự án, nếu người đại diện lại là đối tượng được hưởng lợi khi dự án được triển khai thì
tiếng nói càng có nguy cơ không mang lại lợi ích cho tập thể.
Các dự án đầu tư có nguồn vốn từ WB thực chất là các dự án do nhà nước đầu tư
nên thực hiện theo qui trình mà pháp luật đã ban hành. UBND TPCT thành lập Ban quản
lý dự án nâng cấp đô thị thành phố Cần Thơ (PMUCT) để đại diện cho TPCT quản lý các
dự án do WB tài trợ với trách nhiệm là tham mưu cho UBND TPCT thực hiện các dự án do
WB tài trợ đúng luật pháp Việt Nam và các điều ước mà Việt Nam đã ký kết với WB.
Tức là vẫn có Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quận, huyện do lãnh đạo
UBND quận, huyện làm Chủ tịch Hội đồng, chỉ khác là vị trí phó chủ tịch hội đồng là đại
diện của Ban quản lý dự án nâng cấp đô thị thành phố Cần Thơ
2
(UBND-QNK, 2013). Vì
có một vài điểm khác biệt về chính sách nên mỗi dự án phải lập một kế hoạch hành động
riêng, có giới hạn về thời gian gồm các nội dung như chiến lược tái định cư, mục tiêu, ảnh
hưởng, quyền lợi, khảo sát kinh tế - xã hội, khung chính sách, khung pháp lý, biện pháp
giảm thiểu các ảnh hưởng, khu tái định cư, bồi thường, phục hồi thu nhập, sắp xếp thực
hiện tái định cư, kế hoạch tái định cư, tham vấn và tham gia, khiếu nại, giám sát và đánh
giá, kế hoạch phát triển cho người dân bản xứ (WB, 2014). Khi đó, phần nào pháp luật
Việt Nam giống WB thì áp dụng chung, điều khoản nào không phù hợp với khung chính
sách của WB thì áp dụng theo khung của WB. Tức là Hội đồng phải xem xét theo tiêu
3.4.1.2. Điều kiện tiên quyết về tái định cư
LĐĐ năm 2003 quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ
sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất
đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Khi nhà nước thu hồi đất thì căn cứ vào cơ
sở pháp lý để xác định giá trị đền bù một cách sòng phẳng với nguồn thu từ đất. Các quy
định mang tính nhân văn cao nhưng thiếu quy định hướng dẫn thực hiện cũng như cơ chế
để bảo đảm các quy định trên được thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để. Ví dụ: Điều 42
LĐĐ năm 2003 xác định “khu tái định cư phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn
nơi ở cũ”. Hướng dẫn thi hành LĐĐ, NĐ 197/2004/NĐ-CP lại hướng dẫn theo hướng
“Khu tái định cư phải được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ đảm bảo đủ điều kiện cho
người sử dụng đất tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ” (Điều 35). Như vậy khái niệm “điều kiện
phát triển” của Luật đã được hướng dẫn thành điều kiện “cơ sở hạ tầng đồng bộ” và khó
hiểu, rất dễ vận dụng theo nhiều cách khác nhau. Mặc khác, việc không qui định khu tái 3
Phụ lục 8
4
Phụ lục 11
16 định cư phải có trước khi thu hồi đất của người dân nên khi nhà nước thu hồi đất người dân
phải ở tạm bợ, nếu dự án thi công chậm tiến độ thì người dân càng khổ sở hơn
Hình 3.3: Nơi ở vào tháng 5/2014 của gia đình Ông Dương Văn Dũng
Nguồn: Tác giả chụp vào tháng 5/2014 tại huyện Vĩnh Thạnh
VD: Gia đình Ông Dương Văn Dũng ngụ tại Ấp Qui Lân 5, xã Thạnh Quới, huyện
Vĩnh Thạnh, Thành Phố Cần Thơ. Trước khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng Cụm tuyến