so sánh khả năng kháng khuẩn của các dòng nha đam (aloe vera) - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN THỊ KIM CÚC

SO SÁNH KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN
CỦA CÁC DÒNG NHA ĐAM (ALOE VERA) Luận văn tốt nghiệp
Ngành: THÚ Y

Cần Thơ, 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại học Cần Thơ, từ
tháng 08/2013 đến tháng 10/2013.
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013 Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Duyệt Bộ môn Duyệt Giáo viên hướng dẫn
Huỳnh Kim Diệu

Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD

ii

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn cô Huỳnh Kim Diệu đã hết lòng hướng dẫn, truyền
đạt kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.
Tôi chân thành cám ơn Quý Thầy/Cô Bộ môn Thú y và Bộ môn Chăn nuôi đã
giảng dạy và truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian học tập qua.
Tôi xin chân thành cám ơn gia đình và bạn bè đã ủng hộ, giúp đỡ và động viên
tôi trong thời gian tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cám ơn chị Trần Thị Ngọc Thanh – học viên cao học khóa
18 ngành Thú y – trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình giúp đỡ và hỗ trợ tôi
trong thời gian thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
iii
MỤC LỤC

3.2.2 Nguyên liệu 29
3.2.3 Thiết bị và hóa chất 29
3.2.4 Vi khuẩn dùng trong thí nghiệm 30
3.3 Phương pháp thí nghiệm 30
3.3.1 Phương pháp thu mẫu Nha đam và chiết xuất 30
3.3.2 Phương pháp tính hiệu suất chiết xuất cao 33
3.3.3 Xác định tính kháng khuẩn 33
3.3.4 Chỉ tiêu theo dõi 36
3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 36
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Hiệu suất chiết xuất cao Nha đam 37
4.2 Kết quả xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) 37
4.2.1 Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao Nha đam dòng 1 37
4.2.2 Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao Nha đam dòng 2 38
4.2.3 Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao Nha đam dòng 3 39
4.2.4 Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao Nha đam dòng 4 40
4.2.5 Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao Nha đam dòng 5 41
4.2.6 Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao Nha đam dòng 6 41
4.3 So sánh nồng độ ức chế tối thiểu MIC của 6 dòng Nha đam 42
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ CHƯƠNG 52 v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Một số đặc tính sinh hóa của Aeromonas hydrophila 22
Bảng 2.2 Một số đặc tính sinh hóa của E. tarda 24

Hình 6. MIC Nha đam 2 trên 2 chủng vi khuẩn 54
Hình 7. MIC Nha đam 3 trên 6 chủng vi khuẩn 55
Hình 8. MIC Nha đam 3 trên 2 chủng vi khuẩn 56
Hình 9. MIC Nha đam 4 trên 6 chủng vi khuẩn 56
Hình 10. MIC Nha đam 4 trên 2 chủng vi khuẩn 57
Hình 11. MIC Nha đam 5 trên 6 chủng vi khuẩn 57
Hình 12. MIC Nha đam 5 trên 2 chủng vi khuẩn 58
Hình 13. MIC Nha đam 6 trên 6 chủng vi khuẩn 58
Hình 14. MIC Nha đam 6 trên 2 chủng vi khuẩn 59
Hình 15. Các dòng Nha đam 60

vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT A. hydrophila
Aeromonas hydrophila
BGA
Brilliant Green Agar
BHI
Brain heart infusion agar
CFU
Colony forming unit
DMSO
Dimethyl sulfoxide
EMB
Eosin Methylene Blue agar
E. coli
Eschesichia coli
E. ictaluri

Trypticase Soy Broth
WHO
World Health Organization
viii
TÓM LƯỢC
Nhằm mục đích xác định khả năng kháng khuẩn của các dòng Nha đam
và chọn ra dòng Nha đam có khả năng kháng khuẩn tốt nhất, đề tài: ” So sánh
khả năng kháng khuẩn của các dòng Nha đam (Aloe vera)” trên 8 chủng vi
khuẩn gây bệnh chủ yếu trên gia súc, gia cầm và thủy sản (Salmonella spp,
Staphylococcus aureus, Streptococcus faecalis, Pseudomonas aeruginosa,
Escherichia coli, Aeromonas hydrophila, Edwardsiella tarda, Edwardsiella
ictaluri) được tiến hành. Lá của các dòng Nha đam sau khi được thu hoạch,
sấy khô ở 50
o
C, ngâm chiết trong methanol trong 5 ngày (lần 1 ngâm 3 ngày,
lần 2 và 3 ngâm 1 ngày) và cô quay thu được cao thô dùng để thử hoạt tính
kháng khuẩn bằng phương pháp pha loãng liên tiếp trong thạch để xác định
nồng độ ức chế tối thiểu (MIC). Kết quả thu được: Hiệu suất chiết xuất cao
nhất ở Nha đam 1 (0,86%) và thấp nhất ở Nha đam 6 (0,23%). Cao Nha đam
ức chế tốt nhất trên vi khuẩn E. tarda (512 μg/ml ≤ MIC ≤ 2048 μg/ml), trong
đó Nha đam 2 ức chế tốt nhất và Nha đam 4 ức chế thấp nhất; kế đến là E.
ictaluri và A. hydrophila (1024 µg/ml ≤MIC ≤ 4096 µg/ml), trong đó Nha đam
1 ức chế tốt nhất trên chủng A. hydrophila, Nha đam 1, 5 và 6 ức chế tốt nhất
trên chủng E. ictaluri; tiếp theo là S. aureus, P. aeruginosa và E. coli (2048
µg/ml ≤ MIC ≤ 4096 µg/ml), trong đó trên chủng S. aureus thì Nha đam 4 ức
chế thấp nhất, các dòng còn lại đều ức chế tốt, trên chủng P. aeruginosa thì
Nha đam 2 và 5 ức chế tốt nhất và Nha đam 4 ức chế thấp nhất; Salmonella
spp và S. faecalis là thấp nhất (MIC= 4096 µg/ml). Trong 6 dòng Nha đam thì
Nha đam dòng 5 có khả năng kháng khuẩn tốt nhất với MIC= 2560±287 μg/ml
và thấp nhất ở Nha đam dòng 4 với MIC= 4083±425 μg/ml.

Staphylococcus, Pseudononas aeruginosa, ký sinh trùng và nấm (Agarry et
al., 2005).
Nhằm tìm hiểu thêm về khả năng kháng khuẩn của cây Nha đam. Được sự
đồng ý của Bộ môn Thú y – Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng –
Trường Đại Học Cần Thơ, đề tài: ”So sánh khả năng kháng khuẩn của các
dòng Nha đam (Aloe vera)” được tiến hành.
Mục tiêu đề tài:
Xác định khả năng kháng khuẩn của các dòng Nha đam trên 8 chủng vi khuẩn
gây bệnh phổ biến trên gia súc, gia cầm và thủy sản.
Chọn ra dòng Nha đam có khả năng kháng khuẩn tốt nhất.
2
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Giới thiệu cây Nha đam
2.1.1 Phân loại cây Nha đam
Tên khoa học: Aloe sp.
Thuộc họ Hành tỏi Liliaceae.
Tên khác: Nha đam, tượng đản, du thông, nô hội, lưỡi hổ, hổ thiệt, long tu
(Bình Định).
2.1.2 Mô tả cây Nha đam
Nha đam có nhiều loài có kiểu hình tương đối khác nhau hoặc có thể giống
nhau, sau đây là miêu tả các loài phổ biến ở nước ta.
Nha đam là cây thảo sống nhiều năm, gốc thân có thể hóa gỗ, ngắn, to thô. Lá
Nha đam mọng nước, màu lục, dạng bẹ không có cuống, mọc thành vành rất
khít nhau, dày, hình ba cạnh, mép lá có nhiều răng cưa thô cứng như gai. Lá
cây Nha đam có thể dài 30-50 cm, rộng 5-10 cm và dày 1-2 cm ở phía cuống,
mặt trong lá lõm và ở một số giống có nhiều đốm không đều màu.
Cây Nha đam có cụm hoa dài đến 1m dạng chùm mang nhiều hoa màu vàng
hoặc đỏ, mỗi hoa dài 3-4 cm, hoa nở vào mùa thu và hè. Nha đam có quả nang
hình trứng thuôn, quả non màu xanh, quả già có màu nâu và dai.


Tùy theo nguồn gốc Nha đam aloin mang tên khác nhau và có cấu tạo
hơi khác nhau. Ví dụ trong Nha đam vùng nam Châu Phi (Aloe des barbades )
thì aloin gọi là barbaloin C
20
H
20
O
8
.
Theo DS Lê Kim Phụng - Giảng viên khoa y học cổ truyền ĐH Y dược TP
HCM, những hoạt chất có trong cây Nha đam:
Polysaccharid: cellulose, glucose, rhamnose, aldopentose, galactose,
xylose, arabinose và acemannan, các chất này có tác dụng kháng khuẩn và
giúp tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể.
Prostaglandin và các axít béo chưa bão hoà như axít gama linolenic,
nhóm chất này có tác dụng giảm sưng, giải dị ứng và làm lành vết thương,
mau lên da non.
Nhiều men tiêu hoá giúp ăn ngon và làm thuốc bổ.
Nhiều acid amin (gồm tối thiểu 23 loại), vitamin (B1, B5, B6, B12, C, A,
E), khoáng tố vi lượng (Ca, P, Cu, Fe, Mn, Mg, Na, K).
4
Nhóm antraglucozit dạng tinh thể, vị đắng có khả năng chống oxy hoá tế
bào, nhuận tràng, giải độc, chống táo bón (aloin, barbaloin, emodin, aloe-
emodin, ester của axít cinnamic, axít hysophanic).
Aloenin Aloeresin A Isobarbaloin
Hình 2.2 Cấu trúc của các hợp chất anthraquinone chính của Aloe vera
(Shelton, 1991)

được chứng mất ngủ, tiêu hóa kém, tuần hoàn kém do trong Nha đam có chứa
nhiều chất bổ dưỡng cung cấp năng lượng cho tế bào.
Trường đại học Oklahoma (Mỹ) đã ứng dụng điều chế kem đánh răng có
chứa dịch chiết Nha đam giúp ngừa chảy máu nướu răng, viêm nướu, giúp
răng chắc khỏe (DS Lê Kim Phụng - Giảng viên khoa y học cổ truyền ĐH Y
dược TP HCM).
Tại Đức, chiết xuất từ lá Nha đam được sấy khô được sử dụng như là thuốc
nhuận tràng và điều trị bệnh trĩ. Ngày nay gel Nha đam là thảo dược được
công nhận rộng rãi ở Mỹ. Nó được sử dụng làm giảm bỏng nhiệt, cháy nắng
và mau lành vết thương (Foster, 1999).
2.1.6 Một số bài thuốc chứa Nha đam
Viên nhuận tràng (xí nghiệp dược phẩm): bột Nha đam 0,08 g, cao mật bò tinh
chế 0,05 g, phenoltalein 0,05 g, bột cam thảo 0,05g, tá dược vừa đủ một viên.
Dùng trị táo bón, khó tiêu, ngày uống 1-2 viên vào bữa cơm chiều. Trẻ em
dưới 15 tuổi không được dùng.
Chữa đái tháo đường: Lá Nha đam 20 g. Sắc uống ngày một thang (có thể
uống sống).
Chữa đau đầu, chóng mặt: Nha đam 20 g, hoa đại 12 g, lá dâu 20 g. Sắc uống
ngày một thang, chia 2-3 lần.
Chữa tiêu hóa kém: Nha đam 20 g, bạch truật 12 g, cam thảo 4 g. Sắc uống
ngày một thang, chia 2-3 lần.

6
Chữa viêm loét tá tràng: Nha đam 20 g, dạ cẩm 20 g, nghệ vàng 12 g (tán bột
mịn), cam thảo 6 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần. Nếu ợ chua nhiều,
thêm mai mực tán bột 10 g, chiêu với nước thuốc trên. Uống liên tục 15-20
ngày là một liệu trình.
Chữa táo bón: Lá Nha đam tươi, mỗi ngày ăn 1 lá, hoặc Nha đam 20 g, xay
nhỏ với 0,5 lít nước. Chia uống 2-3 lần trong ngày.
Chữa đau nhức do chấn thương, tụ máu: Lá Nha đam tươi, giã nát đắp vào chỗ

7
Đặc tính sinh hóa
Theo Nguyễn Như Thanh và ctv (1997) mô tả một số đặc tính sinh hóa của
Salmonella spp như sau:
Chuyển hóa đường: mỗi loại Salmonella có khả lên men và chuyển hóa một số
đường nhất định và không đổi.
Phần lớn các loại Salmonella lên men có sinh hơi các nhóm đường glucose,
manitol, mantose, galactose, arabinose.
Một số loài cũng lên men các đường như trên nhưng không sinh hơi như: S.
abortus bovis, S. cholerae suis chủng Kunzendmorf, S. enteritidis, S.
gallinarum, S. newport, S. typhisuis, S.typhi…S. pullorum không lên men
đường mantose, S. cholerae suis không lên men arabinose.
Hầu hết các chủng Salmonella đều sinh khí (S. typhi), sinh ra acid, sử dụng
nitrate như nguồn carbon. Tất cả Salmonella đều không lên men đường
lactose, saccharose (trừ S. arizonae).
Có khoảng 96% Salmonella tiết ra enzyme khử carboxyl với lysine, arginine,
ornithine; đa số Salmonella không phân giải urase, không tan chảy gelatin,
hoàn nguyên nitrate.
Phản ứng H
2
S, MR, catalase dương tính.
Các phản ứng VP, oxidase, indol: âm tính.
Cấu trúc kháng nguyên
Có 2 loại kháng nguyên chính là O và H.
Do có sự khác biệt về phương diện kháng nguyên O nên người ta chia
Salmonella thành 34 nhóm. Mỗi nhóm huyết thanh học gồm một số loài vi
khuẩn có kháng nguyên O được cấu tạo bởi một số thành phần nhất định.
Kháng nguyên H (kháng nguyên lông) là protein nằm trong phần lông của vi
khuẩn, không chịu nhiệt (bị phá hủy ở nhiệt độ 60
o

nuôi cấy kỵ khí. Ngoại độc tố còn tác dụng vào thần kinh và ruột. Ngoại độc
tố có thể chế thành giải độc tố bằng cách trộn thêm 5% formol để ở 37
o
C trong
20 ngày. Giải độc tố tiêm cho thỏ có khả năng trung hòa độc tố của vi khuẩn
(Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997).
Sức đề kháng
Theo Nguyễn Như Thanh và ctv (1997), Salmonella spp có thể tồn tại trong
nước, nước thải, phân gia súc, trong thực phẩm, thức ăn gia súc trong thời gian
lâu, trong nước đá có thể sống 2-3 tháng. Trong phân Salmonella có thể tồn tại
trên 60 ngày.
Salmonella spp đề kháng yếu với nhiệt độ, ở 50
o
C bị diệt sau 1 giờ, 57
o
C bị
diệt sau 30 phút, 70
o
C bị diệt sau 20 phút và ở 100
o
C vi khuẩn bị tiêu diệt
trong 5 phút.
Ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp sẽ diệt được vi khuẩn sau 5 giờ ở nước trong
và 9 giờ ở nước đục. Các chất sát trùng thông thường cũng có thể diệt được vi
khuẩn như: phenol 5% , formol 2% diệt vi khuẩn trong 15-20 phút.

9
Salmonella có thể sống trong thịt ướp muối nồng độ 29% được 4-8 tháng ở
nhiệt độ 6-12
o

10
2.2.2 Vi khuẩn Staphylococcus aureus (S. aureus)
Staphylococcus aureus thuộc họ Micrococcaceae, giống Staphylococcus gồm
có: Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis, Staphylococcus
saprophyticus (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997).
Đặc điểm vi khuẩn
Còn gọi là tụ cầu khuẩn, đây là loại vi khuẩn sinh mủ điển hình, phân bố rộng
rãi trong tự nhiên, chúng thường ký sinh trên da và niêm mạc. Tụ cầu khuẩn
gồm nhiều cầu khuẩn tạo thành hình giống như chùm nho, đường kính 0,7-1
μm, bắt màu Gram dương, không di động, không sinh nha bào, không có vỏ
nhầy và lông (Lưu Hữu Mãnh, 2010).
Staphylococcus gây bệnh thường có khả năng gây tiêu huyết, làm đông đặc
huyết tương, tiết enzyme ngoại bào và nội độc tố gây ngộ độc thức ăn
(Nguyễn Thanh Bảo, 1993).

Hình 2.5 Vi khuẩn S. aureus trên
môi trường thạch máu
(www.microbiologyinpictures.com)

Hình 2.6 Vi khuẩn S. aureus
(school.omoide.nu)
Đặc tính nuôi cấy
Đây là loại vi khuẩn hiếu khí hoặc yếm khí không bắt buộc, nhiệt độ thích hợp
từ 32-37
o
C, pH từ 7,2-7,6. Dễ mọc trên các môi trường nuôi cấy thông thường.
Trong môi trường nước thịt: sau khi cấy 12-24 giờ, nước thịt đục có màng.
Trên môi trường thạch sau 24 giờ, tụ cầu khuẩn phát triển thành khuẩn lạc
tròn, đục, đường kính khoảng 2-4 mm, có sinh sắc tố.
Trong huyết tương thỏ: S. aureus làm đông huyết tương (Lưu Hữu Mãnh,

Men làm tan tơ huyết (fibrinolysin): tụ cầu khuẩn sinh ra men này phát triển
trong cục máu đông làm vỡ cục máu thành mảnh nhỏ di chuyển gây tắc các
mao mạch.
Men làm đông huyết tương (coagulase): men này có thể làm đông huyết tương
của người và thỏ, chúng tác động lên globulin trong huyết tương tạo thành các
cục máu đông trong tĩnh mạch. Ngoài ra nó còn có tác động lên fibrinogen,
chất này gắn vào vi khuẩn tạo thành lớp vỏ xung quanh giúp vi khuẩn tránh
được hiện tượng thực bào.
Men hyaluronidase: men này thủy phân acid hyaluronic là chất cơ bản của mô
liên kết tạo điều kiện cho vi khuẩn khuyếch tán.

12
Sức đề kháng
S. aureus đề kháng kém với các tác nhân lý, hóa, bị tiêu diệt trong vòng 30
phút đến 1 giờ ở nhiệt độ 70
o
C, khi đun sôi ở 100
o
C vi khuẩn chết sau 1-2
phút. S. aureus dễ bị tiêu diệt bởi các loại thuốc sát trùng thông thường, nhưng
đề kháng với sự khô và đóng băng. Ở nơi khô ráo tụ cầu khuẩn sống từ 4-5
tháng. S. aureus trong mủ khô có khả năng đề kháng cao hơn, có thể sống
trong mủ khô nhiều tuần (Lưu Hữu Mãnh, 2010).
Tính kháng thuốc
Ngày nay S. aureus đã đề kháng với nhiều loại kháng sinh khác nhau, gây khó
khăn rất nhiều cho công tác điều trị (Nguyễn Thanh Bảo, 1993).
Theo Lê Kinh Duệ và Nguyễn Thị Lai (2006): 100% nhạy cảm với
vancomycin, 96,6% nhạy cảm với acid fucidic, 93,3% nhạy với gentamycin,
73,3% nhạy với cephalotin, 63,3% nhạy với oxacillin và chỉ có 56,7% nhạy
với erythromycin.

S. faecalis tương đối khó nuôi cấy, vi khuẩn chỉ mọc trong các môi trường có
đầy đủ chất dinh dưỡng như môi trường nước thịt, môi trường có óc và tim,
hoặc các môi trường có huyết thanh hay hồng cầu. Vi khuẩn tăng trưởng mạnh
trong điều kiện có CO
2
, riboflavin, pantothenic acid… (Nguyễn Thanh Bảo,
1993).
Trong môi trường lỏng: sau 24 giờ nuôi cấy môi trường phía trên trong suốt và
ở đáy ống nghiệm có cặn do vi khuẩn hình thành các chuỗi và các chuỗi này
không gãy, dần dần tạo thành hạt và bông rồi lắng xuống đáy ống nghiệm.
Môi trường thạch thường: khuẩn lạc nhỏ, tròn, lồi, bóng, màu hơi xám.
Trên môi trường thạch máu, liên cầu khuẩn có 3 dạng dung huyết. Dung huyết
α: khuẩn lạc được bao quanh bằng một vòng màu xanh nhạt, tương đối hẹp.
Đây là dạng dung huyết không hoàn toàn, chỉ có một phần hồng cầu bị tiêu.
Dung huyết β: bao quanh khuẩn lạc là một vòng trong suốt, rộng 2-4 mm. Đây
là hiện tượng dung huyết hoàn toàn, không còn hồng cầu ở xung quanh khuẩn
lạc. Dung huyết γ: màu thạch xung quanh khuẩn lạc vẫn nguyên vẹn. Trong
trường hợp này hồng cầu không bị tiêu (Warren Levinson, 2004).
Đặc tính sinh hóa
S. faecalis có khả năng lên men đường glucose, lactose, saccarose, salixin,
tehalose, không lên đường mannitol, inulin.
Các phản ứng idol, H
2
S, catalase: âm tính.
Vi khuẩn không làm đông vón huyết tương (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997).

14
Cấu trúc kháng nguyên
S. faecalis có cấu trúc kháng nguyên rất phức tạp, có rất nhiều loại kháng
nguyên đã được tìm thấy ở các S. faecalis, tuy nhiên có 2 loại kháng nguyên

thể trở nên độc và tác động gây bệnh, một mình hay kết hợp với những loại vi
khuẩn khác (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977).
Trong phòng thí nghiệm, thỏ là động vật thí nghiệm dễ cảm thụ nhất. Nếu tiêm
S. faecalis dưới da thỏ, sẽ thấy áp xe tại nơi tiêm. Nếu tiêm vi khuẩn vào tĩnh

15
mạch hay phúc mạc, thỏ sẽ chết nhanh do nhiễm trùng huyết. Ngoài ra có thể
dùng chuột nhắt để gây bệnh (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997).
Trong tự nhiên liên cầu khuẩn ở khắp nơi trên cơ thể người và động vật, bình
thường chúng hiện diện ở họng và ruột, một số liên cầu khuẩn có khả năng
gây bệnh cho người và động vật. Ở động vật, liên cầu khuẩn thường gây nên
những chứng mưng mủ, viêm vú, viêm phổi, viêm ngoại tâm mạc (Nguyễn
Như Thanh và ctv, 1997).
Đường xâm nhiễm
Theo Trần Thị Phận (2004), Streptococcus sống chủ yếu ở đường sinh dục heo
nái, khi sinh sản sức đề kháng giảm, đường sinh dục heo dễ bị tổn thương nên
tạo cơ hội cho liên cầu khuẩn phát triển và xâm nhập gây viêm. Ngoài ra, vi
khuẩn tồn tại ở ngoài môi trường còn xâm nhiễm vào đường sinh dục trong lúc
đẻ khó.
Theo Trần Tiến Dũng và ctv (2002), sản dịch là môi trường tốt cho vi khuẩn
phát triển, các loại vi khuẩn gây nhiễm trùng sau khi đẻ thường là
Staphylococcus và Streptococcus, phát triển gây ra quá trình sinh mủ trong cơ
quan sinh dục khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút.
2.2.4 Vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa (P. aeruginosa)
Pseudomonas aeruginosa là trực khuẩn mủ xanh có độc lực thấp, thuộc lớp
Gamma Proteobacteria, loài Pseudomonas, còn có tên gọi khác là
Pseudomonas pyocyaneus, Bacterium pyocyaneum. Chúng thường được tìm
thấy trong quá trình mưng mủ ở bò, heo hoặc các vết thương nhiễm trùng ở
người (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977).
Đặc điểm vi khuẩn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status