Xác định các tác nhân gây bệnh trên cá cảnh biển tại thủy cung Vinpearl, bước đầu thử nghiệm khả năng kháng khuẩn của một số thực vật trên tác nhân gây bệnh cho cá - Pdf 25


TRẦN THỊ KHÁNH MAI

XÁC ĐỊNH CÁC TÁC NHÂN GÂY BỆNH TRÊN CÁ CẢNH
BIỂN TẠI THỦY CUNG VINPEARL
BƯỚC ĐẦU THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN CỦA
MỘT SỐ THỰC VẬT TRÊN TÁC NHÂN GÂY BỆNH CHO CÁ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CƠNG NGHỆ SINH HỌC GVHD:ThS. VĂN HỒNG CẦM
TS. ĐỖ LÊ HỮU NAM
Nha Trang, 07/2013
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN CƠNG NGHỆ SINH HỌC & MƠI TRƢỜNG
 LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 GIỚI THIỆU VỀ CÁ CẢNH BIỂN 3
1.1.1 Đa dạng sinh học cá biển 3
1.1.2 Giá trị kinh tế của cá cảnh biển 3
1.1.3 Một số bệnh thường gặp trên cá cảnh biển 7
1.2 MỘT SỐ HỢP CHẤT TỰ NHIÊN CÓ KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN
TỪ THỰC VẬT 16
1.2.1 Những hạn chế của việc sử dụng thuốc kháng sinh trong việc phòng và
trị bệnh nhiễm khuẩn trên thủy sản 16
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng các hợp chất chiết xuất từ thực vật
trong và ngoài nước 17
1.3 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 19
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 20
CHƢƠNG II: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 21
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 21
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 21
2.2 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 21
2.2.1 Đối tượng chính 21
2.2.2 Các chủng vi khuẩn kiểm định 21
2.2.3 Một số loại thực vật thí nghiệm 21
2.3 DỤNG CỤ - HÓA CHẤT – MÔI TRƢỜNG 22
2.3.1 Dụng cụ thí nghiệm 22
2.3.2 Môi trường và hóa chất 22
2.4 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.4.1 Sơ đồ nghiên cứu tổng quát 23
2.4.2 Phương pháp thu mẫu và phân lập các tác nhân gây bệnh 24
2.4.3 Thí nghiệm xác định độc lực của vi khuẩn và định danh chủng vi khuẩn
đích gây bệnh 26

số cá thể đem thí nghiệm)
McF McFarland
NA Nutrient Agar
R Resistant (Kháng)
S Susceptible (Nhạy cảm)
TCBS Thiosulfate Citrate Bile salts Sucrose

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1. Tổng số cá cảnh biển giao dịch trên toàn cầu trong những năm 1990 4
Bảng 1.2. Các nước xuất khẩu và nhập khẩu cá cảnh biển chính trên thế giới 5
Bảng 3.1. Kết quả cảm nhiễm chủng D1-8 trên cá Khoang cổ đỏ (A. frenatus) 32
Bảng 3.2. Đặc điểm sinh lý và sinh hóa của chủng vi khuẩn D1-8 35
Bảng 3.3. Bảng kết quả xác định kháng sinh đồ của 2 chủng D1-8 và D2-10 36
Bảng 3.4. Kết quả kháng khuẩn của dịch chiết một số loại thực vật 38
Bảng 3.5. Các đặc điểm sinh hóa của chủng D1-8 so sánh với các chủng Aeromonas
phân lập từ một số nghiên cứu 40
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1. Mối quan hệ giữa các yếu tố gây bệnh cho động vật thủy sản 7
Hình 1.2. Mối tương quan giữa vật chủ, môi trường, tác nhân gây bệnh và khả năng
hình thành bệnh 10

và nghệ thuật mà còn là hình thức bảo tồn chuyển vị (exsitu conservation) giúp bảo
tồn một số loài quý hiếm có nguy cơ đe dọa cao. Tại thành phố biển Nha Trang, một
số thủy cung nổi tiếng được nhiều người biết đến như Thủy cung Vinpearl, Hồ cá
Trí Nguyên và Bảo tàng Hải Dương học.
Trong những năm gần đây, dịch bệnh trên cá mỗi ngày càng diễn biến phức
tạp và khó kiểm soát. Cá cảnh trong các thủy cung cũng không tránh khỏi các vấn
đề về dịch bệnh. Thủy cung Vinpearl thường phải đối mặt với tình trạng cá trong
các bể thủy sinh chết hàng loạt không rõ nguyên nhân, làm thiệt hại lớn đến doanh
thu của khu du lịch. Xác định nguyên nhân gây bệnh và đề ra biện pháp phòng và
điều trị bệnh là cần thiết.
Hiện nay, kháng sinh đã và đang được sử dụng rộng rãi để phòng và trị
bệnh trên động vật nói chung (Feinman, 1998; Barbosa và Levy, 2000; Blackman,
2002) và trong nuôi trồng thủy sản (Reilly và Kaeferstein, 1997) nói riêng. Tuy
nhiên do việc sử dụng kháng sinh không đúng quy cách, lạm dụng thuốc quá mức
đã gây nên hiện tượng tạo ra và lây lan các dòng vi khuẩn kháng thuốc (Feinman,
1998; Levy, 1998; Witte, 1998), làm giảm hiệu quả sử dụng, tăng khả năng kháng
bệnh của vi khuẩn; ngoài ra còn tác động xấu đến môi trường nuôi và làm giảm sức
sống của cá (Nguyễn Thị Vân Thái và cs., 2003; Mai Văn Tài, 2004; Nguyễn Thị
Vân Thái, 2004).
2

Do đó, trong vòng hai thập kỉ gần đây, xu hướng quay lại sử dụng các sản
phẩm thuốc có nguồn gốc từ thực vật đã trở nên phổ biến hơn, được xem như một
giải pháp có biên độ an toàn cao để phòng và trị bệnh trên động vật thủy sản
(Nguyễn Ngọc Phước và cs., 2007a).
Từ nhu cầu tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, tìm ra cách phòng và điều trị
bệnh cho thủy cung Vinpearl, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Xác định các tác nhân
gây bệnh trên cá cảnh biển tại thủy cung Vinpearl. Bƣớc đầu thử nghiệm khả
năng kháng khuẩn của một số thực vật trên tác nhân gây bệnh cho cá” nhằm
mục đích:

Philippines, Indonesia, Nhật Bản, Úc, đều có ở Việt Nam (Nguyễn Hữu Phụng và
Nguyễn Văn Long, 1994).
1.1.2 Giá trị kinh tế của cá cảnh biển
Mỗi năm, thế giới tiêu thụ khoảng 35 triệu cá cảnh biển, doanh thu đạt được
từ 200 - 330 triệu USD (Larkin và Degner, 2001; Chapman và cs., 2007) và đã cung
cấp được hàng nghìn việc làm cho những người dân ở các nước đang phát triển. Giá
4

trị thương mại của các loài cá cảnh biển phụ thuộc nhiều vào màu sắc và họa tiết
trên cá, cá càng có màu sắc sặc sỡ và sống động thì càng được ưa chuộng trên thị
trường (Ramamoorthy và cs., 2010). Theo thống kê, ước tính khoảng 1,5 – 2 triệu
người trên khắp thế giới đang sở hữu những hồ cá cảnh biển cho riêng mình (Green,
2003), chỉ tính riêng ở Hoa Kỳ đã chiếm hơn 33% với gần 600 nghìn hộ dân có bể
cá cảnh trong nhà (Lewbart và cs., 1999).
Ngành công nghiệp cá cảnh bắt đầu vào những năm 1930 tại Sri Lanka như
một ngành ngư nghiệp xuất khẩu cá cảnh biển quy mô nhỏ (Jonklaas, 1985). Năm
1953 đã mở rộng đến Hawaii (Walsh, 1999) và năm 1957 lan đến Philippines
(Fleras, 1984), các đại lý bắt đầu xuất khẩu cá thông qua đường hàng không. Đến
những năm 1970, nghề xuất khẩu cá cảnh biển đã trở nên phổ biến khắp các quốc
gia nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương.
Vào đầu thập niên 1980, giá trị xuất khẩu cá cảnh biển hằng năm của 40
quốc gia đạt từ 24 - 40 triệu USD (Wood, 1985).
Đến những năm 1990, ngành xuất khẩu cá cảnh biển tiếp tục được mở rộng
và tăng trưởng nhanh (Bảng 1.1). Sản lượng xuất khẩu cá cảnh biển của hơn 45
quốc gia trên thế giới ước tính khoảng từ 14 - 30 triệu cá thể, đạt doanh thu giá trị
bán buôn lên đến 44 triệu USD và giá trị bán lẻ gần 300 triệu USD (Wood, 2001).
Bảng 1.1. Tổng số cá cảnh biển giao dịch trên toàn cầu trong những năm 1990
Năm
1991
1992

Maldives và Palau là các quốc gia xuất khẩu cá cảnh biển lớn, cung cấp hơn 99%
tổng số cá cảnh biển trên thế giới; trong khi đó Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Hà Lan,
Đài Loan, Nhật Bản, Hồng Kông, Pháp và Đức là các quốc gia nhập khẩu quan
trọng khi chiếm gần 99% tổng sản lượng cá cảnh biển xuất khẩu trên thị trường
(Bảng 1.2) (Wabnitz và cs., 2003).
Cũng theo thống kê từ năm 1997 - 2002, một số loài cá cảnh biển được ưa
chuộng nhất trên thị trường bao gồm: cá hề (Amphiprion ocellaris), cá trinh nữ xanh
(Chrysiptera cyanea), cá rô đá (Dascyllus aruanus), cá thia lá mạ (Chromis viridis),
cá thia đồng tiền ba chấm (Dascyllus trimaculatus), cá đuôi gai vàng (Zebrasoma
flavescens), cá mào gà vện (Salarias fasciatus),…
Bảng 1.2. Các nƣớc xuất khẩu và nhập khẩu cá cảnh biển chính trên thế giới
Nƣớc xuất
khẩu
Tổng số cá
xuất khẩu
Tỷ lệ (%)
Nƣớc nhập
khẩu
Tổng số cá
nhập khẩu
Tỷ lệ (%)
Philippines
1.523.854
43
Hoa Kỳ
3.054.273
60
Indonesia
943.059
26

78.018
2
Pháp
132.439
3
Palau
63.482
2
Đức
119.739
2
Tổng cộng
3.513.281
99
Tổng cộng
5.066.789
99
6

Trong những năm gần đây, Việt Nam cũng bắt đầu nghề đánh bắt và kinh
doanh cá cảnh biển. Từ nguồn cá cảnh tại các tỉnh miền Trung và miền Nam, cá
được xuất khẩu sang một số nước như Nga, Nhật Bản, Hồng Kông, Singapores, Hoa
Kỳ và các nước châu Âu, ước tính hằng năm đem lại doanh thu khoảng 400.000
USD, chiếm khoảng 10% trong tổng doanh thu xuất khẩu cá cảnh của nước ta.
Lợi nhuận thu được từ việc kinh doanh cá cảnh biển rất lớn: trong khi 1 tấn
cá dùng cho thực phẩm chỉ trị giá khoảng 6.000 USD thì 1 tấn cá cảnh biển lên đến
496.000 USD khi xuất khẩu. Các loài cá cảnh biển có giá trị xuất khẩu cao là cá
hoàng đế (50 - 100 USD/con), cá ngựa (30 - 40 USD/con) và một số loài trong
nhóm cá rồng biển có giá đến 10.000 đôla Hồng Kông (Trinh Mai, 2009).
Không chỉ cung cấp cho xuất khẩu, cá cảnh biển còn là mặt hàng giải trí


Hình 1.1. Mối quan hệ giữa các yếu tố gây bệnh cho động vật thủy sản
Bệnh xuất hiện
(Disease)
Vật chủ
(H)
Tác nhân
gây bệnh
(P)
Môi trường
sống (E)
8

a. Vật chủ (Host - H)
Vật chủ là các đối tượng luôn bị các yếu tố ngoại cảnh tác động, có sức đề
kháng hoặc mẫn cảm với các tác nhân gây bệnh.
Cơ thể của vật chủ mang một số đặc điểm có liên quan trực tiếp đến sự xuất
hiện bệnh khi tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh trong điều kiện môi trường bất lợi
(Herdick, 1998) bao gồm: kiểu gen, kích thước, độ tuổi, các giai đoạn phát triển
(LaPatra và cs., 1990) hoặc chế độ dinh dưỡng, tình trạng sinh sản, hành vi và trạng
thái miễn dịch (sức đề kháng) của vật chủ trước những thay đổi của 2 nhân tố còn
lại (Anderson, 1990).
b. Môi trƣờng sống (Enviroment - E)
Đối với động vật thủy sản, chất lượng môi trường sống là chất lượng nước,
bao gồm hàm lượng oxy hòa tan (DO), pH, dòng chảy, nhiệt độ, độ mặn, độ kiềm
tổng số, độ cứng tổng số, độ đục, các khí CO
2
, NH
3
, H

cá chẽm (cá vược) nuôi lồng ở Songkhla, Thái Lan đã chết khi lượng oxy hòa tan
vào ban đêm giảm xuống còn 1,3 mg/l do môi trường nước bị nhiễm bẩn.
Vì vậy, bất kỳ sự biến động nào của các yếu tố môi trường trong tự nhiên
hoặc trong nuôi trồng cũng đều có thể khiến các hoạt động sống bình thường của cá
bị rối loạn, làm cơ thể mất đi sự cân bằng dẫn đến khả năng thích nghi với môi
trường giảm hoặc tạo điều kiện thuận lợi để các tác nhân gây bệnh phát triển và tấn
công vào các cá thể cá (Trung tâm giống thủy đặc sản, 2012).
Theo đó, sự hiểu biết và cách thức quản lý tốt môi trường sẽ là chìa khóa để
nuôi trồng thành công động vật thủy sản nói chung và cá cảnh biển nói riêng
(Warren, 1983).
c. Tác nhân gây bệnh (Pathogen-P)
Tác nhân gây bệnh là các yếu tố hữu sinh gây bệnh cho động vật thuỷ sản,
được chia thành 3 nhóm chính:
- Nhóm tác nhân gây bệnh truyền nhiễm: virus, vi khuẩn, nấm.
- Nhóm tác nhân gây bệnh ký sinh: giun sán, giáp xác, nhuyễn thể, nguyên
sinh động vật, đỉa cá,
- Nhóm địch hại: côn trùng, cá dữ, thực vật, rong tảo độc,
Tùy theo sức đề kháng của vật chủ và độc tính của các tác nhân gây bệnh
mà thời gian ủ và phát bệnh sẽ khác nhau ở từng loài, như có thể dao động từ 2 - 3
10

ngày đối với bệnh Columnaris (Becker và Fujihara, 1978) hoặc thậm chí kéo dài
đến nhiều tháng đối với bệnh thận cá hồi (Bacterial Kidney Disease) do vi khuẩn
Renibacterium salmoninarum gây ra (Fryer và Sanders, 1981).
d. Mối tƣơng quan giữa 3 yếu tố vật chủ (H), môi trƣờng sống (E) và
tác nhân gây bệnh (P)
Trong trường hợp hội đủ cả 3 yếu tố trên thì động vật thủy sản nói chung và
cá cảnh biển nói riêng mới có thể mắc bệnh, nếu thiếu 1 trong 3 nhân tố trên thì cá
sẽ không bị mắc bệnh.
Nếu cá có mang mầm bệnh nhưng môi trường nuôi thuận lợi cho cá và bản


1.1.3.2 Những bệnh thƣờng gặp trên cá biển
a. Bệnh do vi khuẩn
Bệnh do vi khuẩn gây ra trên cá biển rất đa dạng về tác nhân bao gồm 5
nhóm chính (Sindermann, 1990):
- Nhóm vi khuẩn Gram âm: Vibrio, Pseudomonas, Aeromonas,
Pasteurella gây xuất huyết và nhiễm trùng huyết trên cá; được xem là tác nhân quan
trọng và chính yếu nhất.
- Nhóm vi khuẩn Gram dương: Steptococcus spp. và Renibacterium
salmoninarum gây nhiễm trùng cục bộ hoặc toàn thân cá.
- Vi khuẩn Mycobacterium và Nocardia.
- Vi khuẩn kỵ khí (Eubacterium) gây nhiễm trùng toàn thân.
- Myxobacteria (Flexibacter) gây thối vây và mang, loét da.
Một số bệnh thường gặp trên cá biển do vi khuẩn gây ra:
i. Bệnh thối vây (Fin Rot)
Bệnh do 3 chủng vi khuẩn thuộc nhóm Gram âm là Aeromonas,
Pseudomonas và Vibrio gây ra. Bệnh thường xảy ra khi chất lượng nước trong bể
nuôi bị ô nhiễm (Bullock và Snieszko, 1975; Ziskowski và Murchelano, 1975;
Minchew và Yarbrough, 1977).
Cá bị nhiễm bệnh sẽ có các biểu hiện như: bơi chậm, đầu vây xuất hiện
những đốm hoại tử nhỏ, chán ăn, phân cá có hiện tượng tạo thành sợi. Bệnh tiến
triển tương đối chậm; nhưng nếu không điều trị kịp thời, vây và đuôi cá sẽ cụt dần
khiến cá bơi lội khó khăn, bỏ ăn, phần thân viêm tấy, phù nề; sau khoảng từ 5 - 7
ngày cá sẽ chết.
ii. Bệnh lao cá (Fish tuberculosis)
Bệnh do vi khuẩn Mycobacterium bacteria gây ra, chủng vi khuẩn này
có vùng phân bố rất rộng, chúng có mặt trong môi trường nước mặn lẫn nước ngọt.
12

Cá bị nhiễm vi khuẩn này trong giai đoạn đầu rất khó phát hiện vì bệnh

Cryptocaryon irritans gây ra. Loài ký sinh trùng này có khả năng lây nhiễm rất cao
và thường gây tử vong cho cá trong vòng từ 3 đến 5 ngày.
Biểu hiện bệnh: Vào thời kỳ đầu, ngoài sự xuất hiện của các đốm trắng,
vây bị sờn; cá còn tăng tiết nhớt do hay chà sát cơ thể vào các vật xung quanh nhằm
loại bỏ sinh trùng ra khỏi da. Vào giai đoạn sau, cá bỏ ăn, lờ đờ và thường nằm dưới
đáy hồ; khi ký sinh trùng xâm nhập vào sâu bên trong cơ thể phá hủy các tế bào
mang màu sắc làm cá bị mất màu. Khi đó, cá sẽ dễ bị vi khuẩn và vi nấm cơ hội
xâm nhập vào và gây bệnh thông qua các vết thương khiến cá chết nhanh hơn.
ii. Bệnh đốm đen (Black Ich)
Bệnh do một hay hay nhiều chi của lớp giun dẹp (Turbellarian) gây ra,
với 2 chi Paravortex và Piscinquilinus subcutaneous được biết đến là nguyên nhân
chính (Syromiatnikova, 1949). Theo nghiên cứu của Justine và cs. (2009), bệnh
thường lây lan giữa các cá thể cá cùng thuộc một loài với nhau.
Các loài giun dẹp này sẽ tấn công vào da và mang của cá. Một khi chúng
bắt đầu ăn sâu vào cơ thể cá sẽ làm xuất hiện những điểm chấm đen như hạt muối
trên da và màng vây. Các vết lở loét này có thể gây nhiễm trùng dẫn đến viêm và
xuất huyết trên da, gây nhiễm trùng thứ cấp do các vi sinh vật cơ hội tấn công.
14

iii. Bệnh lở loét do nhiễm Uronema marinum (Terry, 2007)
Uronema marinum là ký sinh trùng đơn bào có tiêm mao, được tìm thấy
thường xuyên trên cá bị suy yếu. Đặc biệt, sau khi được vận chuyển trong thời gian
tương đối dài (24 - 48 giờ), môi trường sẽ tích tụ nhiều chất thải, pH và hàm lượng
oxy hòa tan bị giảm đáng kể, cá suy yếu dần và trở thành vật chủ lý tưởng để
Uronema marinum xâm nhập và gây bệnh.
Khi xâm nhập vào cơ thể cá, Uronema marinum sẽ tấn công vào cơ và
các cơ quan nội tạng, phá hủy tế bào hồng cầu và các tế bào khác. Trong giai đoạn
đầu của bệnh, cá trở nên khó chịu, thở nặng nề và hay chà sát vào đáy bể. Khi bệnh
tiến triển, vảy cá sẽ bị bong ra và các vết tụ máu dần xuất hiện dưới da. Đến giai
đoạn cuối, các vết tụ máu sẽ phát triển thành các vết loét sâu và làm chết

ii. Bệnh hoại tử tuyến tụy
Bệnh do virus Birnavirus (Infectious Pancreatic Necrosis Virus - IPNV)
gây ra. Đối với cá nước mặn, virus này gây bệnh ở tỷ lệ thấp, nhưng hậu quả mà
virus gây ra không hề nhỏ trong điều kiện nuôi. Theo khảo sát trên 30.000 cá biển
ngoài tự nhiên thu từ Scotland thì chỉ có khoảng 0,15% tổng số cá là dương tính với
IPNV (Wallace và cs., 2005).
16

Khi bị nhiễm virus, cá có các biểu hiện như: chán ăn, tối sẫm màu ở phần
sau cơ thể (đuôi), đầu sưng, bụng phình to, dị hình và xuất huyết ở các vây. Nếu mổ
cá sẽ thấy tụy, dạ dày, thực quản bị xuất huyết và lở loét. Sau một thời gian cá sẽ trở
nên mất phương hướng, hôn mê và chết. Hình 1.6. Bệnh hoại tử tuyến tụy do virus IPNV gây ra trên cá hồi [9]
1.2 MỘT SỐ HỢP CHẤT TỰ NHIÊN CÓ KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN
TỪ THỰC VẬT
1.2.1 Những hạn chế của việc sử dụng thuốc kháng sinh trong việc phòng và
trị bệnh nhiễm khuẩn trên thủy sản
Kháng sinh được hiểu là tất cả các chất hóa học xác định có nguồn gốc sinh
học, bán tổng hợp hoặc tổng hợp, không có bản chất enzyme, có khả năng kìm hãm
sự phát triển hoặc tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh ngay ở nồng độ thấp (Prescott
và cs., 2005) một cách có chọn lọc (Singleton và Sainsbury, 1999).
Từ khi được phát hiện đến nay, kháng sinh đã và đang được sử dụng rất
rộng rãi, từ phòng và trị bệnh cho con người (Arnold, 2009), đến dùng trong thuốc
thú y (Feinman, 1998; Barbosa và Levy, 2000; Blackman, 2002) và trong nuôi trồng
thủy sản (Reilly và Kaeferstein, 1997). Tuy nhiên, để tăng hiệu quả trị bệnh người
nuôi đã kết hợp nhiều loại kháng sinh với nhau, mặt khác còn lạm dụng thuốc quá
mức ngay trong cả việc phòng bệnh nên đã gây ra hiện tượng kháng thuốc và lây lan
tính kháng thuốc giữa các chủng vi khuẩn, khiến cho việc điều trị bệnh ngày càng

18

Cannabiriolic từ Cannabinnacea với nồng độ 10 - 15µg/ml có khả năng tiêu diệt vi
khuẩn Gram (+), vi khuẩn gây bệnh lao ở người. Tại Thái Lan, Direkbusarakom và
cs. (1997) đã thử nghiệm hai loài thực vật gồm ổi (Psidium guajava) và mướp đắng
(Momordica charatina) có khả năng ức chế được một số chủng vi khuẩn Vibrio spp.
Tiếp đó, Rahman và cs. (2009) đã tiến hành thử nghiệm khả năng kháng khuẩn đối
với 3 chủng vi khuẩn Aeromonas hydrophila, Pseudomonas fluorescens và
Edwardsiella tarda phân lập từ cá Thái bạc (Barbonymus gonionotus) của tỏi
(Allium sativum), nghệ (Curcuma longa L.) và bồng bồng hay còn gọi là bàng biển
(C. gigentia).
Ở Ấn Độ, Velmurugan và Citarasu (2003) đã nghiên cứu khả năng kháng
khuẩn của các dịch chiết từ một số loại thực vật như lá cây cà ri (Murraya koenigii),
phá cố chỉ (Psoralea corylifolia) và u sung cây gỗ sồi (Quercus infectoria) đối với
chủng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus và Vibrio harveyi
phân lập từ tôm trắng Ấn Độ (Fenneropenaeus indicus) bị bệnh.
1.2.3.2 Tại Việt Nam
Với diện tích tự nhiên trên 331.212 km
2
trải dài từ 8
O
30’ - 22
O
22’ vĩ độ Bắc
và 102
O
10’- 109
O
20’ kinh độ Đông từ Trung Quốc ở phía Bắc đến vịnh Thái Lan ở
phía Nam, cùng với nền khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm đã tạo nên cho Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status