tăng cường chống thất thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh bắc giang - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



TRẦN BÁ KHANG TĂNG CƯỜNG CHỐNG THẤT THU THUẾ TÀI NGUYÊN
VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
KHAI THÁC TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.34.04.10

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Nguyễn Hữu Ngoan
HÀ NỘI - 2015 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên
cứu.
Trước hết, với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn
tới thầy giáo PGS. TS. Nguyễn Hữu Ngoan - người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Bộ môn Kế hoạch đầu tư; các
thầy cô giáo khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn phòng Đào tạo Học viện Nông
nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và
hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Cục thuế tỉnh Bắc Giang; các phòng
nghiệp vụ, chi cục thuế các huyện và chi cục thuế thành phố Bắc Giang đã tạo điều
kiện và hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập phân tích số liệu.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp và bạn
bè - những người đã luôn bên tôi, động viên, giúp đỡ tôi về vật chất cũng như tinh thần
trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày10 tháng 7 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Trần Bá Khang
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục sơ đồ và đồ thị ix

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.2 Phương pháp nghiên cứu 37
3.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu 37
3.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu 38
3.2.3 Phương pháp phân tích 39
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 41
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Thực trạng thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường 42
4.1.1 Phân cấp quản lý 42
4.1.2 Thực trạng cấp giấy phép khai thác khoáng sản 44
4.1.3 Thực trạng xây dựng dự toán thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường 47
4.1.4 Thực trạng kê khai thuế và phí bảo vệ môi trường 52
4.1.4 Thực trạng tính thuế 59
4.1.5 Thực trạng nộp thuế 62
4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thất thu thuế tài nguyên và phí
bảo vệ môi trường 69
4.2.1 Các yếu tố khách quan 69
4.2.2 Các yếu tố chủ quan 76
4.3 Giải pháp chống thất thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường 83
4.3.1 Hoàn thiện chính sách 83
4.3.2 Hoàn thiện công tác tổ chức phân cấp quản lý thu thuế 92
4.3.3 Nâng cao năng lực cho cán bộ thuế 93
4.3.4 Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm thực hiện nghĩa
vụ thuế của người nộp thuế 96
4.4.5 Đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác quản lý thuế 97
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
5.1 Kết luận 99
5.2 Kiến nghị 100
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Bắc Giang 51
4.5 Tình hình kê khai thuế tài nguyên của các đơn vị khai thác khoáng sản
tỉnh Bắc Giang năm 2012 – 2014 53
4.6 Tình hình kê khai phí bảo vệ môi trường của các đơn vị khai thác
khoáng sản tỉnh Bắc Giang năm 2012-2014 56
4.7 Tổng hợp số lượng tài nguyên đất san lấp, đất đá của một số doanh
nghiệp khai thác ở tỉnh Bắc Giang (2012 - 2014) 58
4.8 Bảng giá tính thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 60
4.9 Tổng hợp thu nộp NSNN thuế TN của tỉnh Bắc Giang năm 2012 - 2014 64
4.10 Tổng hợp thu nộp NSNN từ phí BVMT của tỉnh Bắc Giang năm 2012 -
2014 66
4.11 Thực trạng thất thu thuế TN và phí BVMT tại một số doanh nghiệp điều
tra 68
4.12 Đối chiếu chính sách thuế tài nguyên và chính sách khai thác khoáng
sản gắn với bảo vệ môi trường 70
4.13 Giá tính thuế một số loại tài nguyên đất áp dụng ở một số tỉnh 73
4.14 Tổng hợp kết quả đánh giá về mức giá của người nộp thuế và người thu
thuế tài nguyên ở tỉnh Bắc Giang 74
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii

4.15 Kết quả khảo sát đánh giá công tác quản lý của cán bộ ngành thuế đối
với doanh nghiệp 78
4.16 Kết quả kiểm tra về chấp hành thuế TN và phí BVMT 80
4.17 Kết quả khảo sát đánh giá mức độ hiểu biết về các luật thuế, quy trình
nộp thuế của doanh nghiệp khai thác khoáng sản 82
4.18 Kết quả khảo sát đánh giá kênh tiếp nhận thông tin về các chính sách
thuế của doanh nghiệp khai thác khoáng sản 97

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

chức, cá nhân khai thác tài nguyên , chạy đua vì mục đích lợi nhuận mà không
nghĩ tới việc bảo vệ môi trường, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài
nguyên và thực hiện nghĩa vụ với NSNN. Việc chấp hành chính sách thuế tài
nguyên, phí BVMT còn nhiều hạn chế, nhiều DN do chưa hiểu hết chính sách,
nhưng cũng có nhiều DN trốn tránh nghĩa vụ thuế để mưu lợi cho riêng DN mình
dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên của đất nước gây ô nhiễm môi trường
đặc biệt là có một số cá nhân khai thác không có giấy phép gây thất thu cho ngân
sách nhà nước số tiền thuế, phí mỗi năm rất lớn những cá nhân khai thác không
có giấy phép (khai thác lậu) trốn tránh không hề thực hiện nghĩa vụ thuế và phí
bảo vệ môi trường các đơn vị chức năng chưa quản lý được triệt để.
Những năm qua để thực hiện chính sách thuế tài nguyên, UBND tỉnh Bắc
Giang đã chỉ đạo các cấp, các ngành phối hợp cùng ngành Thuế, Tài nguyên và
Môi trường đồng thời ban hành nhiều văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện chính
sách thuế tài nguyên nhằm quản lý các hoạt động khai thác, sử dụng hiệu quả tài
nguyên đối với trên 120 doanh nghiệp được cấp phép khai thác tài nguyên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2

khoáng sản trên địa bàn. Số thu từ thuế tài nguyên, phí BVMT của tỉnh hàng năm
đều tăng trưởng cao so với năm trước. Đặc biệt những năm gần đây số thu thuế
tài nguyên năm 2014 tăng gấp 1,42 lần so với năm 2013. Tuy nhiên, bên cạnh
những mặt tích cực và những thành quả đã đạt được thì việc áp dụng, thực thi
luật thuế tài nguyên khoáng sản vẫn còn nhiều bất cập, số vụ vi phạm luật thuế
tài nguyên ngày càng tăng với số tiền chiếm dụng ngày càng lớn. Việc quản lý
thu thuế tài nguyên và phí (BVMT) trên địa bàn toàn tỉnh còn chưa thống nhất và
đồng bộ nhất là thu trong lĩnh vực khai thác đất đá san nền, đất đá cát sỏi bên
sông, đất sản xuất gạch ngói cơ sở đầu mối thu mua đá cát sỏi không có hóa
đơn chứng từ chứng minh được nguồn gốc thu mua hợp pháp.
Xuất phát từ các vấn đề đã được nêu ở trên tôi thực hiện đề tài: “Tăng
cường chống thất thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường đối với hoạt

Đối tượng nghiên cứu là các giải pháp chống thất thu thuế tài nguyên và phí
bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa
bàn tỉnh Bắc Giang.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu về các loại tài nguyên khoáng sản thuộc đối
tượng đóng thuế, các khoản mục thuế và phí tài nguyên khoáng sản, công tác quản
lý thuế tài nguyên khoáng sản, tình hình thu thuế và các nguyên nhân dẫn đến tổn
thất thuế tài nguyên khoáng sản, các chính sách thuế tài nguyên khoáng sản, các
giải pháp thực thi công tác thu và chống thất thu thuế tài nguyên khoáng sản trên địa
bàn tỉnh Bắc Giang.

Phạm vi về không gian
Tiến hành khảo sát thực trạng thu thuế tài nguyên khoáng sản trên địa bàn
các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Yên Thế, Yên Dũng, Lục Nam, Hiệp Hoà, Tân
Yên, Thành phố Bắc Giang

Phạm vi về thời gian
Thu thập tài liệu trong những năm gần đây (2012-2014) về tình hình triển
khai chính sách thuế tài nguyên và phí BVMT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Thời
gian thực hiện đề tài từ tháng 2/2014 đến tháng 4/2015.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận

Dù trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều giác độ khác
nhau, nhưng hiện nay một định nghĩa về thuế theo xu hướng cổ điển vẫn còn
đang được áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế kinh tế thị trường, điển hình là
khái niệm về thuế của Gaston Jeze đưa ra trong Giáo trình Tài chính công (2010).
Dựa vào định nghĩa này và các yêu cầu nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm
tổng quát về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay như sau:
Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa
vụ bắt buộc phải thực hiện theo Luật đối với Nhà nước; không mang tính chất
đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho
các nhu cầu chi tiêu công cộng.
 Khái niệm về phí
Theo Pháp lệnh Phí và lệ phí số 38/2001/PL-UBTVQH10 ngày 28/8/2001:
“Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được tổ chức, cá nhân khác
cung cấp dịch vụ theo quy định trong danh mục phí được ban hành kèm theo
Pháp lệnh”. Hiện hành có 73 loại phí khác nhau thuộc nhiều lĩnh vực như nông
nghiệp, giao thông, tư pháp, tài chính ngân hàng, khoa học công nghệ và môi
trường
Như vậy, khác với thuế Nhà nước đã cung cấp dịch vụ, nên cần thu hồi vốn
đầu tư và chi phí quản lý, Phí liên quan trực tiếp đến lợi ích của người nộp, cơ sở
để thu phí là việc chủ thể được nhận phí đã cung cấp cho chủ thể nộp phí một lợi
ích nhất định thông qua dịch vụ của mình. Ví dụ: hưởng lợi từ dịch vụ thuỷ nông
thì phải nộp thuỷ lợi phí, hưởng lợi từ việc sử dụng cây cầu để qua sông thì phải
nộp phí cầu, v.v
 Khái niệm về thuế tài nguyên và chính sách thuế tài nguyên
Công cụ tài chính là một trong những công cụ quan trọng để quản lý tài
nguyên, trong đó có việc thu thuế đối với hoạt động khai thác TNTN, đó chính
là thuế tài nguyên. Ngoài thuế tài nguyên ra, hiện nay còn có một khoản thu
nữa thu vào từ việc khai thác TNTN đó là phí BVMT, ở các nước trên thế giới
gọi là thuế BVMT.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

động khai thác khoáng sản gây ra, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ và tái tạo cảnh quan môi
trường tại địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng sản.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

 Khái niệm về thất thu thuế tài nguyên khoáng sản
Thất thu thuế tài nguyên khoáng sản là hiện tượng những khoản tiền từ
các tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên
khoáng sản làm giảm thiểu tài nguyên đồng thời gây ô nhiễm môi trường, song vì
những lý do xuất phát từ phía nhà nước, cơ quan thuế hay đối tượng nộp thuế mà
những khoản tiền đó không được nộp vào NSNN.
2.1.2 Các loại thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai
thác tài nguyên khoáng sản
 Về thuế tài nguyên
Theo quy định hiện hành của pháp luật thuế tài nguyên thì đối tượng chịu
thuế tài nguyên là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội
thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, bao gồm vùng biển chồng lấn giữa Việt
Nam và quốc gia liên quan thuộc chủ quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Các loại tài nguyên nhân tạo không thuộc đối tượng chịu thuế tài
nguyên.
Để phục vụ cho mục đích quản lý thuế thì tài nguyên thiên nhiên được phân
thành các nhóm như sau:
- Khoáng sản kim loại: Gồm khoáng sản kim loại đen (sắt, man gan, ti
tan ) và khoáng sản kim loại màu (vàng, đất hiếm, bạch kim, thiếc, won fram,
đồng, chì, kẽm, nhôm ).
- Khoáng sản không kim loại, bao gồm: đất làm gạch, đất khai thác san lấp,
xây dựng công trình, đất khai thác sử dụng cho các mục đích khác; đá, cát, sỏi,
than, đá quý, nước khoáng, nước nóng thiên nhiên.
- Dầu thô
- Khí thiên nhiên

- Được cấu thành trong giá bán tài nguyên mà người tiêu dùng tài nguyên
hoặc sản phẩm được tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên phải trả tiền thuế tài nguyên.
b. Vai trò của thuế tài nguyên
Nhà nước thông qua nhiều công cụ khác nhau để bảo vệ và sử dụng hiệu
quả nguồn lực tài nguyên, trong đó có công cụ tài chính đó là chính sách thuế tài
nguyên. Chính vì thế thuế tài nguyên có vai trò:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9

- Thuế tài nguyên đảm bảo nguồn thu cho NSNN để chi phí cho việc cải tạo
môi trường, đầu tư cơ sở hạ tầng nơi khai thác tài nguyên và các khoản chi khác.
Số thu hàng năm từ thuế tài nguyên của cả nước chiếm trên dưới 10% trong tổng
thu NSNN hàng năm. Đây là nguồn thu quan trọng đối với ngân sách địa phương
để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải tạo môi trường nơi khai thác và đảm bảo an
ninh xã hội địa phưong.
- Thuế tài nguyên là một công cụ để phân phối lại, đảm bảo công bằng xã
hội. Một trong những khuyết tật của kinh tế thị trường là sự phân phối không
công bằng và đi cùng với nó là sự phân hoá giàu nghèo. Rất nhiều các tổ chức, cá
nhân giàu lên nhanh chóng từ việc khai thác tài nguyên. Thuế tài nguyên là chi
phí đầu vào ảnh hưởng tới lợi nhuận của nhà đầu tư, chính vì thế có tác dụng
tham gia điều tiết thu nhập của các nhà đầu tư. Đồng thời NSNN quản lý sử dụng
nguồn thu từ thuế tài nguyên để đầu tư cơ sở hạ tẩng, cải tạo môi trường phục vụ
an sinh xã hội.
- Thuế tài nguyên đảm bảo khoản chi phí đầu vào của quá trình sản xuất
cho nên nó có vai trò điều tiết sản xuất, tiêu dùng. Nếu việc thu thuế tài
nguyên quá cao sẽ khiến các nhà sản xuất kinh doanh tìm các nguyên vật liệu
khác rẻ hơn để thay thế hoặc có thể chuyển hướng kinh doanh. Ngược lại thu
thuế tài nguyên quá thấp các tổ chức cá nhân khai thác sẽ kiếm được nhiều lợi
nhuận dẫn đến tình trạng các nhà đầu tư tập chung vào ngành khai thác tài
nguyên thiên nhiên.

đối với môi trường. Phí bảo vệ môi trường góp phần hạn chế sản xuất và tiêu
dùng các sản phẩm gây ô nhiễm; khuyến khích người tiêu dùng sử dụng sản
phẩm thay thế. Từ đó, tiết kiệm cá nhân, tiết kiệm xã hội, giảm ô nhiêm môi
trường, giảm chi phí xử lý ô nhiễm. Nâng cao ý thức BVMT trong đầu tư, sản
xuất và tiêu dùng của các tổ chức, cá nhân; khuyến khích sử dụng năng lượng tiết
kiệm, hiệu quả, giảm bớt các tác động tiêu cực của sản xuất, tiêu dùng đến môi
trường, giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái về môi trường. Hơn nữa, phí bảo vệ môi
trường mang lại nguồn thu nhất định cho ngân sách để đầu tư cải tạo môi trường.
Thay đổi nhận thức của người dân về về vai trò của môi trường là mục tiêu lớn
nhất mà các chính sách hướng tới.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11

d. Chức năng của thuế
tài nguyên
- Thuế tài nguyên là một trong những nguồn thu chung của NSNN để
dùng cho các hoạt động điều tiết xã hội khác nhau;
- Cũng giống như các loại thuế khác, thuế tài nguyên cũng có chức năng
phân phối các nguồn lực; tái phân phối thu nhập; và ổn định nền kinh tế
;
- Thuế tài nguyên là công cụ góp phần ổn định giá, chống lạm phát qua
đó tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho lao động, đồng thời nâng cao đời
sống nhân dân.
2.1.4 Phương pháp tính thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường đối với khai
thác tài nguyên khoáng sản
a. Về thuế tài nguyên
(i) Phạm vi áp dụng chính sách
Chính sách thuế tài nguyên quy định về đối tượng chịu thuế tài nguyên,
người nộp thuế tài nguyên, căn cứ tính thuế, kê khai thuế, nộp thuế, miễn thuế,

Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế
đơn vị tài nguyên và thuế suất thuế tài nguyên.
Việc xác định số thuế tài nguyên phải nộp được tính như sau:
Thuế tài
nguyên
phải nộp
trong kỳ
=

Sản lượng
tài nguyên
tính thuế
x
Giá tính
thuế đơn
vị tài
nguyên
x
Thuế
suất
-
Số thuế tài
nguyên được
miễn, giảm
(nếu có)
Sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng tài nguyên thực tế khai thác có
thể bán ra được trên thị trường. Tuỳ theo tính chất lý, hoá của loại tài nguyên để
xác định theo số lượng, trọng lượng hay khối lượng tài nguyên khai thác trong kỳ
làm căn cứ tính thuế. Sản lượng tài nguyên làm căn cứ tính thuế là sản lượng tài
nguyên khai thác trong kỳ, không phụ thuộc vào hiện trạng và mục đích khai thác

chất lượng Việt Nam.
Giá tính thuế: Giá tính thuế tài nguyên là căn cứ đặc biệt quan trọng để xác
định số thuế phải nộp, ngoài ra còn thể hiện bản chất đặc trưng công tác quản lý
thuế tài nguyên của nước ta hiện nay là giá tính thuế được căn cứ vào giá thị
trường, nên phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của thị trường. Có nghĩa là số thuế
tài nguyên thu được tăng hay giảm phụ thuộc chặt chẽ vào giá bán của loại tài
nguyên đó trên thị trường được người mua chấp nhận thanh toán. Vì vậy, công
tác quản lý thuế cũng phải áp dụng một cách linh hoạt theo sự biến động của thị
trường trong từng thời kỳ để xác định đúng giá tính thuế. Giá tính thuế tài
nguyên là giá bán của một đơn vị tài nguyên tại nơi khai thác, theo nguyên tắc
giá thị trường, không bao gồm thuế giá trị gia tăng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

Nhưng theo quy định của pháp Luật thì tài nguyên khai thác trong tháng
phải được kê khai thuế nộp thuế vào tháng tiếp theo, không phụ thuộc vào việc
tài nguyên khai thác đã được bán ra, còn để trong kho, hay đưa vào quy trình sản
xuất tiếp theo. Đối với loại tài nguyên khai thác và bán ra ngay thì giá tính thuế
tài nguyên được xác định theo giá bán. Vấn đề đặt ra là loại tài nguyên khai thác
lên, nhưng chưa bán ra mà đưa vào quy trình sản xuất sản phẩm khác, hoặc phải
qua chế biến, hoặc do năng lực quản lý của người khai thác không hạch toán, xác
định được giá tính thuế tài nguyên, nên không có căn cứ để xác định giá tính thuế
tài nguyên thì việc quản lý thu thuế tài nguyên thực hiện như thế nào. Để giải
quyết vấn đề này, đảm bảo việc kê khai, nộp thuế vào NSNN phải được kịp thời,
đúng thời hạn, Pháp Luật Thuế tài nguyên (Quốc hội 2009, 1990, 1998) đã có
những quy định đối với từng trường hợp cụ thể như sau:
+ Trường hợp xác định được giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên: Giá tính
thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên khai thác chưa bao gồm
thuế giá trị gia tăng không phân biệt địa bàn tiêu thụ và được áp dụng làm giá tính
thuế cho toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong tháng có cùng phẩm cấp,

với từng loại tài nguyên quy định tại Biểu thuế suất thuế tài nguyên ban hành
kèm theo Nghị quyết 928/2010/UBTVQH12 ngày 19/04/2010 của Uỷ Ban
thường vụ Quốc hội.
(v) Miễn giảm thuế
Tài nguyên thiên nhiên là tài sản quốc gia và ngày càng có nguy cơ cạn
kiệt, cần phải khai thác sử dụng tiết kiệm, hiệu quả. Vì vậy không khuyến khích
khai thác sử dụng tài nguyên bằng chính sách miễn, giảm thuế. Việc miễn, giảm
thuế tài nguyên chỉ được áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt, bất khả
kháng, khi thực hiện chủ quyền an ninh quốc gia hoặc đáp ứng theo tập quán sinh
sống của dân cư, thực hiện các mục tiêu chung của xã hội. Cơ sở kinh doanh xác
định điều kiện miễn, giảm thuế, xác định số thuế tài nguyên miễn, giảm, chịu
trách nhiệm về số liệu kê khai. Một số trường hợp miễn, giảm thuế tài nguyên cụ
thể như sau:
Người nộp thuế tài nguyên gặp thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ gây tổn
thất đến tài nguyên đã kê khai, nộp thuế thì được xét miễn, giảm thuế phải nộp
cho số tài nguyên bị tổn thất; trường hợp đã nộp thuế thì được hoàn trả số thuế đã
nộp hoặc trừ vào số thuế tài nguyên phải nộp của kỳ sau.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16

Miễn thuế tài nguyên đối với tổ chức, cá nhân khai thác hải sản tự nhiên.
Miễn thuế tài nguyên đối với tổ chức, cá nhân khai thác cành, ngọn, củi, tre, trúc,
nứa, mai, giang, tranh, vầu, lồ ô do cá nhân được phép khai thác phục vụ sinh
hoạt.
Miễn thuế tài nguyên đối với tổ chức, cá nhân khai thác nước thiên nhiên
dùng cho sản xuất thuỷ điện của hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất phục vụ sinh
hoạt.
Miễn thuế tài nguyên đối với tổ chức, cá nhân khai thác nước thiên nhiên
dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp; nước thiên nhiên
do hộ gia đình, cá nhân khai thác phục vụ sinh hoạt.

chế biến khoáng sản trên địa bàn để quy định tỷ lệ quy đổi từ số lượng khoáng
sản thành phẩm tiêu thụ ra số lượng khoáng sản nguyên khai làm căn cứ tính phí

Trích đoạn Quá trình phát triển thuế tài nguyên ở Việt Nam Kinh nghiệm chống thất thu thuế tài nguyên ở một số tỉnh trong Bài học kinh nghiệm rút ra từ các tỉnh cho Bắc Giang Phương pháp thu thập tài liệu Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status