LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy hướng dẫn luận
văn của mình, PGS.TSKH. Nguyễn Trung Dũng trong việc hướng dẫn lựa chọn đề
tài và quá trình thực hiện luận văn này. Sự hiểu biết sâu sắc về khoa học, cũng như
kinh nghiệm của thầy chính là tiền đề giúp tác giả đạt được kết quả này. Trong suốt
quá trình nghiên cứu, thầy đã kiên nhẫn hướng dẫn chi tiết, hiệu chỉnh và kiểm
duyệt tất cả các nội dung của luận văn. Ngoài ra, tác giả cũng xin cảm ơn tới sự
giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy cô khác trong Khoa Kinh tế, trường Đại học Thủy Lợi
như thầy giáo PGS.TS Nguyễn Bá Uân, cô giáo PGS.TS Đặng Tùng Hoa… đã giúp
tác giả hoàn thành luận văn.
Trong quá trình thực hiện, tác giả cũng nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều
đồng nghiệp trong và ngoài đơn vị công tác, những người đã thực hiện trả lời phỏng
vấn khảo sát của tác giả về thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với hoạt
động khai thác than đá ở Việt Nam.
Cuối cùng, để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân
trong thời gian làm luận văn, tác giả cũng rất biết ơn lãnh đạo công ty của tác giả,
đã ủng hộ và tạo điều kiện về thời gian, kinh phí trong quá trình học tập.
Mặc dù vậy, do trình độ, kinh nghiệm và thời gian nghiên cứu còn hạn chế
nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được nhiều ý kiến
đóng góp.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Đinh Thị Thu Trang
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các thông tin,
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1
1.1. Giới thiệu chung về than đá và hoạt động khai thác than đá 1
1.1.1. Khái niệm và phân loại tài nguyên thiên nhiên than đá 1
1.1.2. Công nghiệp khai thác than trên thế giới 3
1.1.3. Ảnh hưởng của hoạt động khai thác than đối môi trường, xã hội trên thế
giới 9
1.2. Giới thiệu về thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường 11
1.2.1. Giới thiệu chung về thuế và phí 11
1.2.2. Thuế tài nguyên thiên nhiên 13
1.2.3. Phí bảo vệ môi trường 18
Kết luận chương 1 21
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN ĐÁ Ở VIỆT NAM 22
2.1. Thực trạng hoạt động khai thác than đá ở Việt Nam 22
2.1.1. Trữ lượng than đá ở Việt Nam 22
2.1.2. Tổ chức quản lý và khai thác than ở Việt Nam 23
2.1.3. Ảnh hưởng của ngành khai thác than đá đối với nền kinh tế, xã hội, môi
trường ở Việt Nam 28
2.2. Thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường ở Việt Nam 36
2.2.1. Sự cần thiết ban hành Luật thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường đối
với hoạt động khai thác than đá ở Việt Nam 36
2.2.2. Thuế tài nguyên ở Việt Nam 38
2.2.3. Phí bảo vệ môi trường ở Việt Nam 42
2.3. Tác động ảnh hưởng của chính sách thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi
trường đến khai thác than đá ở Việt Nam trong thời gian qua 46
3.3.2. Nhóm giải pháp về quản lý thu thuế, phí 73
3.3.3. Nhóm giải pháp hỗ trợ 75
Kết luận chương 3 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT
: Bảo vệ môi trường
EU
: Liên minh Châu Âu
EWG
:
Tổ chức kiểm soát năng lượng Anh
GDP
: Tổng sản phẩm quốc nội
HNX
: Sàn chứng khoán Hà Nội
IEA
: Tổ chức năng lượng quốc tế
OECD
: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
P/E
: Hệ số giá trên thu nhập một cổ phiếu
TKV
Bảng 3.1: Cung và cầu than ở Hoa Kỳ (đơn vị: triệu tấn) 67
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Cân bằng của thị trường tài nguyên thiên nhiên 14
Hình 1.2: Mô hình ảnh hưởng của thuế tài nguyên 17
Hình 1.3: Mô hình xác định phí thải 19
Hình 2.1: Hai phương pháp khai thác than (lộ thiên và dưới lòng đất) 24
Hình 2.2: Ảnh hưởng của khai thác than đến môi trường vịnh Hạ Long 33
Hình 2.3: Tổng hợp ý kiến của người dân về mức thuế đối với than 49
LỜI MỞ ĐẦU
Tài nguyên thiên nhiên là tài sản quý giá do thiên nhiên ban tặng, có vai trò
quan trọng đối với con người. Phần lớn các sản phẩm để phục vụ đời sống sinh hoạt
của con người được sản xuất từ tài nguyên thiên nhiên. Trong điều kiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và quốc tế hoá sâu rộng như hiện nay, nhu cầu sử dụng tài nguyên
cho phát triển kinh tế quốc dân ngày càng trở thành vấn đề cấp thiết đối với mỗi
quốc gia, nhất là các loại tài nguyên quý hiếm, tài nguyên không tái tạo như: dầu
khí, than, đá, Trong đó, than đá là tài nguyên thiên nhiên không tái tạo, là nguồn
năng lượng chủ yếu của loài người.
Việt Nam là một nước đang phát triển, nhu cầu năng lượng ngày càng lớn thì
tài nguyên là nguồn lực đóng vai trò quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế đất
nước. Trong đó ngành than là ngành kinh tế trọng điểm của nước ta, cung cấp nhiên
liệu hoạt động cho hầu hết các ngành khác, đặc biệt điện, phân bón, giấy, xi-măng.
Đó là những ngành sử dụng nhiều than nhất trong sản xuất, do đó nguồn cầu về than
trên thị trường hiện đang rất lớn.
Hiện nay ngành than ở Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn. Trữ lượng
than ngày càng ít đi, chất lượng than giảm trong khi nhu cầu về than lại không hề
giảm trong tương lai. Việc phân bổ như thế nào là vấn đề nan giải cho nhà nước
cũng như các doanh nghiệp. Việc thăm dò địa chất cũng gặp nhiều khó khăn về kỹ
thuật, kinh tế cũng như tài năng con người. Bên cạnh đó việc khai thác chế biến
và cơ quan thuế chưa chặt chẽ; hệ thống thông tin về trữ lượng, chủng loại tài
nguyên tại địa phương chưa đầy đủ dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện thu thuế
tài nguyên dẫn tình trạng "chảy máu" tài nguyên than đá, gây thất thu cho ngân
sách, ô nhiễm môi trường gia tăng. Chính vì vậy việc nghiên cứu “Đề xuất một số
giải pháp hoàn thiện chính sách thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường đối với
hoạt động khai thác than đá ở Việt Nam” là một vấn đề mang tính thời sự và cấp
thiết.
Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tác động của chính sách thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi
trường tới hoạt động khai thác than đá ở Việt Nam , từ đó đề xuất giải pháp hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả của chính sách với mục tiêu bảo tồn tài nguyên, bảo vệ
môi trường và phát triển bền vững.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách thuế tài nguyên, phí bảo vệ
môi trường đối với hoạt động khai thác than đá ở Việt Nam. Từ việc phân tích
những khó khăn, bất cập vướng mắc, các nhân tố ảnh hưởng khi thuế tài nguyên,
phí bảo vệ môi trường đi vào hiệu lực, đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục,
nâng cao hiệu quả chính sách thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định trên hai phương diện không
gian và thời gian. Về mặt không gian, là tác động thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi
trường tới hoạt động khai thác than đá ở Việt Nam, về mặt thời gian trong giai đoạn
từ 2005 đến nay.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp thu thập thông tin và phương pháp tổng hợp xử
lý số liệu và phân tích. Phương pháp thu thập thông tin gồm: Thu thập thông tin thứ
cấp là các văn bản pháp luật, quy định về thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường,
thông tin và số liệu về tình hình kinh tế, xã hội; Thu thập thông tin sơ cấp: thông
qua điều tra, phỏng vấn các cán bộ, hộ dân, chuyên gia, thảo luận nhóm. Phương
pháp xử lý số liệu và phân tích gồm phương pháp thống kê mô tả, phương pháp
phân tích so sánh, đối chiếu chính sách thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối
nâu có thể đốt cháy được. Than đá là nguồn nhiên liệu sản xuất điện năng lớn nhất
thế giới, cũng như là nguồn thải khí carbon dioxide lớn nhất, được xem là nguyên
nhân hàng đầu gây nên hiện tượng nóng lên toàn cầu. Than đá được khai thác từ các
mỏ than
lộ thiên hoặc dưới lòng đất (hầm lò).
1.1.1.2. Quá trình hình thành và phân loại than đá
Theo Báo Dân trí
2
:"Nhìn chung thì than đá đen chất lượng cao sẽ phải mất
hàng triệu năm, nếu không nói là hàng trăm triệu năm để hình thành," Tiến sĩ Judy
Bailey, nhà địa chất học về than tại Đại học Khoa học Trái đất Newcastle cho biết.
1
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Than đá, 15/05/2014, < />dung.html>
2
Bài “Than có còn đang được hình thành?”,02/04/2013, < />duoc-hinh-thanh-714354.htm>
2
“Tiền thân của than đá được gọi là than bùn, vốn là những tàn dư thực vật không
phân hủy hoàn toàn và không bị nén tích tụ lại”. Theo Bailey, ngày nay quá trình
hình thành than vẫn diễn ra. Tuy vậy, than bùn tích tụ rất chậm, trung bình một năm
được khoảng tầm 1mm, mặc dù ở các vùng nhiệt đới quá trình tích tụ xảy ra nhanh
hơn, từ 2mm đến 3mm một năm. Với tốc độ như vậy, sẽ mất khoảng từ 12.000 đến
60.000 năm để hình thành một vỉa than bùn dày 3m.
Sự chuyển đổi từ than bùn sang than đá còn tốn nhiều thời gian hơn. Tàn dư
thực vật thực sự chuyển hóa thành đá biến chất khi than bùn được chôn sâu khoảng
3- 4km dưới trầm tích. Tại độ sâu này, với nhiệt độ tăng trung bình 30 độ C khi
xuống dưới 1km, nhiệt độ sẽ tăng lên quá 100 độ C và gây nên các phản ứng hóa
học, biến than bùn thành than đá.
Than đá thường có màu đen, hiếm hơn là màu đen hơi nâu, có ánh mờ. Than
đá rất giòn. Có nhiều loại than đá khác nhau tuỳ thuộc vào các thuộc tính của chúng.
Khi đem nung không đưa không khí vào (đến 900-1100°C), than sẽ bị thiêu kết
thành một loại cốc rắn chắc và xốp.
Than gầy (hay nửa antraxit) hoàn toàn không bị thiêu kết, không thành cốc,
mà có dạng bột, mức độ biến chất cao nhất cùng với antraxit. Than gầy được dùng
chủ yếu làm nhiên liệu nồi hơi và cho các nhà máy nhiệt điện.
Than khí là loại than có khả năng sản ra một lượng khí thắp lớn. Sử dụng
giống như than gầy.
Than antraxit có màu đen, ánh kim, đôi khi có ánh ngũ sắc. Đây là loại than
không có ngọn lửa, cháy khó và cần thông gió mạnh mới cháy được. Nó có khả
năng sinh nhiệt lớn hơn mọi loại than khác nên được dùng chủ yếu làm nhiên liệu
nhiệt lượng cao. Than không tự bốc cháy nên có thể để chất đống lâu ngày, có độ
bền cơ học cao, không bị vỡ vụn trong khi chuyên chở.
Ngoài ra còn có một số loại than khác (như than bùn ), song giá trị kinh tế
thấp. Mỗi loại than có những ưu, nhược điểm riêng và nhìn chung không thể thay
thế cho nhau được.
1.1.2. Công nghiệp khai thác than trên thế giới
1.1.2.1. Tầm quan trọng của hoạt động khai thác than đá
Trong cơ cấu sử dụng năng lượng, than được coi là nguồn năng lượng truyền
thống và cơ bản. Than được sử dụng rộng rãi trong sản xuất và đời sống. Trước đây,
than được dùng làm nhiên liệu trong các máy hơi nước, đầu máy xe lửa; sau đó,
than được dùng làm nhiên liệu trong các nhà máy nhiệt điện, than được cốc hoá làm
nhiên liệu cho ngành luyện kim. Than đóng vai trò sống còn với sản xuất điện và
vai trò này sẽ còn được duy trì trong tương lai. Theo tổ chức Hiệp hội than đá thế
4
giới (WCA), khoảng 41% lượng điện sản xuất ra trên toàn thế giới là từ nguồn
nguyên liệu này và tỷ lệ này sẽ vẫn được duy trì trong tương lai (dự báo cho đến
năm 2030).
157.010
17,3
3
Trung Quốc
114.500
12,6
4
Ấn Độ
92.445
10,2
5
Úc
78.500
8,6
6
Nam Phi
48.750
5,4
7
Ukraina
34.153
3,8
8
Kazakhstan
31.279
3,4
9
Ba Lan
14.000
1,5
1.1.2.3. Tình hình khai thác và tiêu thụ than trên thế giới
Công nghiệp khai thác than xuất hiện tương đối sớm và được phát triển từ
nửa sau thế kỉ XIX. Sản lượng than khai thác được rất khác nhau giữa các thời kì,
giữa các khu vực và các quốc gia, song nhìn chung, có xu hướng tăng lên về số
lượng tuyệt đối. Trong vòng 50 năm qua, tốc độ tăng trung bình là 5,4%/năm, còn
cao nhất vào thời kì 1950 - 1980 đạt 7%/năm. Từ đầu thập kỉ 90 đến nay, mức tăng
giảm xuống chỉ còn 1,5%/năm. Mặc dù việc khai thác và sử dụng than có thể gây
hậu quả xấu đến môi trường (đất, nước, không khí ), song nhu cầu than không vì
thế mà giảm đi.
5
Bài “TKV: Một số ý kiến về phát triển thị trường than Việt Nam”, 28/03/2014,
< />viet-nam.html> 6
Các khu vực và quốc gia khai thác nhiều than đều thuộc về các khu vực và
quốc gia có trữ lượng than lớn trên thế giới. Sản lượng than tập trung chủ yếu ở khu
vực châu á- Thái Bình Dương, Bắc Mỹ, Nga và một số nước Đông Âu. Các nước
sản xuất than hàng đầu là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Ôxtrâylia, Nga, chiếm tới
2/3 sản lượng than của thế giới. Nếu tính cả một số nước như Nam Phi, CHLB Đức,
Ba Lan, CHDCND Triều Tiên thì con số này lên đến 80% sản lượng than toàn
cầu.
Công nghiệp khai thác than ra đời trước tiên ở Anh vào đầu thế kỉ XIX. Sau
đó, người ta tìm thấy nhiều than ở Hoa Kỳ, Ấn Độ, Canada. Vì thế các quốc gia này
lần lượt dẫn đầu về sản lượng than khai thác được của thế giới. Sau chiến tranh thế
giới thứ hai, hàng loạt bể than khổng lồ đã được phát hiện ở Êkibát, Nam Yacút,
Đônbát (Liên Xô cũ), ở Ba Lan, Đông Đức. Trong nhiều năm, Liên Xô dẫn đầu về
sản lượng than. Từ sau năm 1990 do những biến động về chính trị và kinh tế nên
sản lượng than ở Đông Âu và Liên Xô cũ bị giảm sút. Từ thập niên 90 của thế kỷ
XX, việc tìm ra những mỏ than lớn ở Trung Quốc đã giúp nước này đứng đầu thế
Mỹ
1.039,20
16,2
3
Ấn Độ
478,2
7,5
4
Úc
393,9
6,2
5
Nga
314,2
4,9
6
Nam Phi
269,4
4,2
7
Đức
201,9
3,2
8
Indonesia
174,8
2,7
9
Ba Lan
145,8
5,4
5
Indonesia
443
5,7
6
Nga
354
4,5
7
Nam Phi
259
3,3
8
Đức
197
2,5
9
Ba Lan
144
1,8
10
Kazakhstan
126
1,6
Nguồn:
8
Dựa vào Bảng 1.2 và Bảng 1.3, ta thấy sản lượng khai thác tăng nhanh nhất ở
châu Á, trong khi đó châu Âu khai thác với tốc độ giảm dần. Các nước khai thác
khu vực Đông Nam Á. Theo đó, 10 nước thành viên ASEAN với nhu cầu tiêu thụ
năng lượng lớn gấp đôi trung bình thế giới sẽ phải sử dụng tới 49% năng lượng từ
than năm 2035, tăng so với 31% năm 2011. "Than đá trở thành sự lựa chọn nhiên
liệu vì sự sẵn sàng và chi phí hợp lý trong khu vực", Maria Van der Hoeven, giám
đốc điều hành của IEA mới phát biểu tại Băng Kok "Sự khác biệt giá các loại nhiên
liệu tiếp tục dẫn tới sự ưa thích dùng than hơn khí đốt để thu lợi nhuận cao, nguồn
năng lượng chủ yếu khu vực Đông Nam Á sẽ chủ yếu lấy từ nguồn than đá."
Xu hướng này hỗ trợ Indonesia, nước xuất khẩu than nhiệt hàng đầu thế
giới.Indonesia sẽ nâng sản lượng lên gấp đôi tính đến năm 2035, tuy nhiên khí thải
dẫn tới biến đổi khí hậu cũng sẽ tăng với tốc độ tương đương, IEA dự báo nguyên
nhân chính do đốt than thải khí các bon gấp đôi so với khí đốt thiên nhiên. IEA cho
biết chi phí sử dụng than cho điện sẽ thấp hơn 30% so với khí đốt tại Đông Nam Á,
khi mà giá than lên mức 80 USD/tấn thì khí đốt thiên nhiên sẽ lên 10 USD/1 triệu
đơn vị nhiệt Anh. Hiện tại giá than nhiệt tiêu chuẩn châu Á là 78,3 USD/tấn, trước
đó, ngày 9/8/2013 giá còn xuống 76,1 USD/tấn, thấp nhất kể từ 2009.
Tại Hội nghị thượng đỉnh EU (22/5/2013), dự kiến đến năm 2035, EU phải
nhập tới 70% nhu cầu than và Ấn Độ sẽ sớm trở thành nước tiêu thụ năng lượng lớn
thứ 4 thế giới sau Hoa Kì, Trung Quốc, Nhật Bản. Do đó, vấn đề an ninh năng
lượng nói chung và năng lượng than nói riêng trên thế giới ngày càng trở lên cấp
bách.
1.1.3. Ảnh hưởng của hoạt động khai thác than đối môi trường, xã hội trên thế
giới
Môi trường toàn cầu đang phải đối mặt với muôn vàn thách thức từ biến đổi
khí hậu. Sự nóng lên của Trái đất, ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất… đang dần
đẩy con người tới bước đường diệt vong. Nguyên nhân không đâu khác, chính là vì
hoạt động sản xuất, vắt kiệt nguồn tài nguyên của chính chúng ta. Trong đó, điển
hình là việc khai thác và sử dụng quá mức than đá - một trong những loại nhiên liệu
hóa thạch phổ biến nhất…
10
trong khai thác than là nguyên nhân chính gây ra mưa axit.
11
Đối với không khí, các nhà máy sản xuất sử dụng than chính là nỗi khiếp sợ
kinh hoàng. CO2 thải ra từ những ống khói lớn chính là nguyên nhân làm Trái đất
nóng lên một cách nhanh chóng. Nguy hiểm hơn, sự ô nhiễm này là hung thủ gây ra
bệnh hô hấp cũng như cái chết cho hàng triệu người trên thế giới. Mỗi năm ở Trung
Quốc, khoảng 1 triệu người tử vong vì ô nhiễm không khí do khói bụi công nghiệp
có liên quan tới sử dụng than đá.
Không chỉ gây hại tới thiên nhiên mà chính con người chúng ta cũng trở
thành nạn nhân của việc khai thác than quá mức. Bụi than và các hóa chất độc hại
nhiễm vào nguồn nước, đất canh tác, không khí khiến cuộc sống của những người
dân xung quanh các mỏ than hết sức nghèo khổ, đói kém. Những người lao động
trong những mỏ than cũng chịu số phận tương tự. Hàng ngày, họ phải làm việc
nhiều giờ đồng hồ trong môi trường độc hại, thiếu ánh sáng, không khí và tiềm ẩn
nhiều nguy cơ tai nạn bất ngờ như sập hầm mỏ. Có người thậm chí còn phải ngủ
ngay trên công trường khai thác.
Tại mỏ than Sukhodolskaya-vostochnaya, Ukraine ngày 29/07/2011, it nhất
18 thợ mỏ đã thiệt mạng và hơn 20 người khác mất tích sau một vụ nổ xảy ra tại đây
mà nguyên nhân chính là hàm lượng khí metan tích tụ trong hầm quá lớn
6
. Những
mỏ than tư nhân hay của thổ phỉ chính là nơi lưu giữ rất nhiều lao động trẻ em. Vì
nghèo đói, rất nhiều đứa trẻ đã phải từ bỏ niềm vui cắp sách tới trường để đi làm
kiếm thu nhập nuôi sống gia đình. Theo ước tính của tổ chức Impulse, có khoảng
5.000 mỏ than tư nhân tại Jaintia Hills, Ấn Độ và có ít nhất 70.000 lao động trẻ em
làm việc ở đây. Đối với các em, thu nhập ít ỏi từ mỏ than hấp dẫn hơn việc đi học,
bất chấp những tác hại sức khỏe mà các em phải đối mặt.
1.2. Giới thiệu về thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường
1.2.1. Giới thiệu chung về thuế và phí
được làm; cơ chế cưỡng chế)
2. Khuyến khích cạnh tranh khả thi và hiệu quả (chống độc quyền)
3. Chỉnh sửa các ngoại ứng
4. Đảm bảo ổn định kinh tế và tăng trưởng (tăng trưởng ổn định, mức giá ít
thay đổi)
5. Cung ứng hàng hóa công cộng(và các loại hàng hóa & dịch vụ tư nhân
hoạt động không hiệu quả như giáo dục, y tế …)
6. Điều chỉnh những kết quả không mong muốn của thị trường (Phân phối lại
thu nhập, hạn chế những hàng hóa xã hội không mong muốn …)
13
Qua đó chúng ta thấy thuế có tác động lớn đến toàn bộ quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của một quốc gia, đồng thời thuế là một bộ phận rất quan trọng cấu
thành chính sách tài chính quốc gia. Mỗi một Luật thuế đều có mục đích riêng. Tuy
nhiên, đa số các sắc thuế có tên gọi không phản ánh đúng mục đích sử dụng, mà
thường phản ánh đối tượng tính thuế.
1.2.1.2. Giới thiệu về phí
Phí là khoản thu mang tính chất bù đắp chi phí thường xuyên hoặc bất
thường như phí về xây dựng, bảo dưỡng, duy tu của Nhà nước đối với những hoạt
động phục vụ người nộp phí. Phí được ban hành đưới dạng Nghị định, Quyết định
của chính phủ; Quyết định của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ; Nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
Lệ phí, phí chỉ có tác dụng tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Hơn nữa,
việc tạo nguồn này không phải dùng đáp ứng nhu cầu chi tiêu mọi mặt của Nhà
nước, mà trước hết dùng để bù đắp các chi phí hoạt động của các cơ quan cung cấp
cho xã hội một số dịch vụ công cộng như: dịch vụ công chứng, dịch vụ đăng ký
quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản, dịch vụ hải quan
Hình thức lệ phí, phí và công trái nói chung mang tính tự nguyện và có tính
Thuế tài nguyên là một phần trong hệ thống thuế tổng quát chung, có tác
động ảnh hưởng đến thu nhập doanh nghiệp. Hệ thống thuếđược thiết kế cho các
ngành công nghiệp tài nguyên thường gồm thuế thu nhập trực tiếp của một tài
8
ThS. Đào Văn Khiêm và Ths. Bùi thị Thu Hòa, "Phân tích về đánh thuế tài nguyên thiên nhiên”, Khoa Kinh
tế,Trường Đại học Thủy Lợi, Hà Nội
< />nguyen-thien-nhien&catid=15:bao-tp-chi&Itemid=196>
15
nguyên nói chung, các kiểu thuế gián tiếp khác gồm các loại thuế bán hàng và thuế
tiêu thụcũng như thuế xuất, nhập khẩu và thuế đặc biệt được thiết kế riêng cho
ngành công nghiệp tài nguyên.
Đối với trường hợp các loại thuế tài nguyên đặc biệt, chính xác là cần phải
đánh thuế tô kinh tế (rent) toàn bộ và cao hơn các mức được ẩn ý trong các loại thuế
thu nhập chung. Có hai lý do biện minh cho điều này. Một lý do là
dựa-vào-hiệu
quả cho rằng tô kinh tế của tài nguyên là khôngbị bóp méo. Một lý do khác là quyền
sở hữu các tài nguyên phải được chuyển một cách trọn vẹn về khu vực công cộng
chứ không phải về các công dân tư nhân, vì chúng thể hiện cho các món quà mà tự
nhiên ban tặng cho nền kinh tế chứ không phải là một phần thưởng cho nỗ lực kinh
tế của ai đó. Điều này có thể được nhìn nhận như một
lý do về công bằng.
Có ba phương pháp khá lý tưởng để chính phủ thu hồi một phần tô kinh tế
trong khu vực công.
Phương pháp thứ nhất là tính một khoản thuế cho tô kinh tế. Thuế tô kinh tế
lý tưởng là loại thuế đánh vào các luồng tiền thực của các công ty tài nguyên. Đối
với các công ty tài nguyên không-hồi sinh, cơ sở tính thuế sẽ bao gồm tất cả các
doanh thu trên cơ sở tiền mặt trừ đi tất cả chi phí hiện thời và chi phí vốn bao gồm