Thực thi pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh thái nguyên - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỒNG ĐỨC DUY
THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ
NGUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỒNG ĐỨC DUY


NGƯỜI CAM ĐOAN
Đồng Đức Duy MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU
Chương 1:KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
TỰ NGUYỆN 6
1.1. Khái niệm về Bảo hiểm xã hội tự nguyện 6
1.2. Pháp luật về Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam 8
1.2.1. Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội tự nguyện 8
1.2.1.1.Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý bảo hiểm xã hội 8
1.2.1.4. Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do ý chí của người tham gia bảo
hiểm 12
1.2.2. Chủ thể trong quan hệ Pháp luật về bảo hiểm xã hội tự
nguyện 13
1.2.2.1. Người thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện 14
1.2.2.3. Người được bảo hiểm xã hội tự nguyện 18
1.2.3. Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện 18
1.2.3.1. Chế độ hưu trí 22
1.2.4.1. Nguồn hình thành 28


3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH
:
An sinh xã hội
BHXH
:
Bảo hiểm xã hội
BHYT
:
Bảo hiểm y tế
HCSN
:
Hành chính sự nghiệp
HĐND
:

Tramg
Bảng 2.1:
Số đối tượng tham gia qua các năm (2009-
2014)

Bảng 2.2:
Thống kê các trường hợp nhận trợ cấp theo
2 chế độ từ 2009 - 2014

Bảng 2.3:
Số thu vào của Quỹ BHXH tự nguyện từ
đóng góp của người tham gia giai đoạn 2009-
2014
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời gian qua đã
mang lại những thành tựu to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất
nước. Tuy nhiên, cuộc sống của người dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn đặc
biệt là dân cư khu vực nông thôn, miền núi: thu nhập thấp, việc làm không ổn
định, hoạt động sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, chịu nhiều
rủi ro do thiên tai. Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những chính sách
an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Tại kỳ họp thứ IX Quốc hội khoá XI
đã thông qua luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực thi hành từ 01/01/2007. BHXH
tự nguyện là một phần của luật BHXH có hiệu lực thi hành từ 01/01/2008.
Sau hơn 5 năm thực hiện, đối tượng tham gia BHXH tự nguyện còn ít, mới có

hình an sinh xã hội ở địa phương, tuy nhiên kết quả đạt được vẫn còn nhiều
mặt hạn chế cần có giải pháp để khắc phục. Bên cạnh đó thì Bảo hiểm xã hội
tự nguyện lại là một vấn đề mới ở Thái Nguyên nên những công trình nghiên
cứu đã được công bố về mảng đề tài này chiếm một phần rất nhỏ chủ yếu là
trong một số lĩnh vực về kinh tế như "Tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội trên
địa bàn thành phố Thái Nguyên, thực trạng và giải pháp" của tác giả Đinh
Văn Sơn (thực hiện năm 2012); " Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện trên
địa bàn Võ Nhai Tỉnh Thái Nguyên" tác giả Nguyễn Thị Lệ Hằng (thực hiện
2014); tuy vậy đây cũng là những nguồn tài liệu tham khảo quý giá bổ trợ cho
tôi hoàn thành được đề tài nghiên cứu của mình. Những bài viết này đã bổ
sung cho tôi một số những kiến thức nhất định về lý luận và thực tiễn của các
vấn đề về BHXH tự nguyện dưới góc nhìn Kinh tế thế nhưng chưa có đề tài
nào trên địa bàn Tỉnh (đặc biêt là đề tài ở lĩnh vực Pháp Luật) đánh giá về tình
hình thực hiện Pháp luật trên thực tiễn ở Tỉnh Thái Nguyên. 3
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung
Đề tài nghiên cứu các giải pháp thực hiện pháp luật về BHXH tự
nguyện của người dân tỉnh Thái Nguyên nói chung và các đối tượng tham gia
BHXH tự nguyện khác nói riêng.
3.2. Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách BHXH ở
Việt Nam và trên thế giới. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật BHXH nói
chung, trong đó đi sâu nghiên cứu đánh giá thực trạng, một số yếu tố liên
quan đến pháp luật BHXH tự nguyện và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả thực thi pháp luật về BHXH tự nguyện trên địa bàn Tỉnh Thái
Nguyên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

để dự báo, số liệu này thường là cơ sở để phát hiện ra vấn đề nghiên cứu.
* Phương pháp phân tích thông tin
Tác giả sử dụng phương pháp này dùng để so sánh đối chiếu các chỉ
tiêu thống kê, so sánh sự khác nhau về tình hình tham gia BHXH tự nguyện.
6. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Đề tài "Thực thi pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên" là một đề tài còn mới, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu
trong lĩnh vực Pháp luật về BHXH tự nguyện cụ thể trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên.
Với đề tài này hướng nghiên cứu của tác giả chủ yếu tập trung vào đối
tượng tham gia BHXH tự nguyện, cách thức thực tiễn thực hiện Pháp luật về
mặt văn bản trên cả nước cũng như ở tỉnh Thái Nguyên và làm rõ việc tại sao
chính sách, áp dụng pháp luật về BHXH tự nguyện của nhân dân trên địa bàn
tỉnh vẫn còn thấp. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu đề tài tác giả đề xuất một số 5
giải pháp phát triển việc áp dụng có hiệu quả pháp luật hơn nữa nhằm nâng
cao tỷ lệ người tham gia với mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội tốt hơn cho
người dân, đây cũng là một trong những chính sách an sinh xã hội của Đảng
và Nhà nước.
Kết quả nghiên cứu của đề tài, là tài liệu tham khảo cho chương trình
giảng dạy bậc Đại học và Cao học trong chuyên ngành Luật học, Quản lý kinh
tế. Đồng thời, kết quả nghiên cứu còn là cơ sở để các nhà hoạch định chính
sách tham khảo để đề ra các chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tế.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận
văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát Pháp luật về Bảo hiểm xã hội tự nguyện
Chương 2: Thực tiễn thực hiện Pháp luật về Bảo hiểm xã hội tự nguyện

giảm, bị mất hoặc giúp họ trang trải một phần chi tiêu trong cuộc sống khi
có những biến cố.Và thực chất Bảo hiểm xã hội tự nguyện là quá trình tổ
chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung được tích lũy dần do sự đóng góp
tự nguyện của người lao động nhằm đảm bảo thu nhập để thoả mãn nhu cầu
sinh sống thiết yếu cho người lao động và gia đình họ khi gặp phải những rủi
ro làm giảm hoặc mất thu nhập, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Cùng với
sự phát triển của xã hội, các hình thức bảo hiểm ngày càng phong phú và đa
dạng. Bên cạnh bảo hiểm xã hội còn có các hình thức bảo hiểm dân sự (Hay
còn gọi là các hình thức bảo hiểm thương mại).
Mặt khác, Bảo hiểm xã hội là một trong những nội dung quan trọng của
an toàn xã hội hay an sinh xã hội. Theo định nghĩa của Tổ chức Lao động
Quốc tế (ILO), an toàn xã hội là:
Sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông
qua một loạt các biện pháp công cộng, để đối phó với khó khăn về
kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra 7
bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp
chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con [17].
Qua đây, chúng ta thấy những cơ chế cơ bản của hệ thống an toàn xã hội
bao gồm cả bảo hiểm xã hội (hình thức bắt buộc và tự nguyện), ưu đãi xã hội,
cứu trợ xã hội. Bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng có nội dung gần gũi với bảo
trợ xã hội nhưng bảo hiểm xã hội không đồng nghĩa với bảo trợ xã hội. Bảo
hiểm xã hội tự nguyện có thể được hiểu như sau:
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một hình thức bảo hiểm xã hội do Nhà
nước tổ chức và quản lý hoặc do cộng đồng người lao động tổ chức với sự
tham gia tự nguyện của các thành viên nhằm đảm bảo thu nhập để thoả mãn
nhu cầu sinh sống thiết yếu người lao động và gia đình họ khi gặp phải những
rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.

gia BHXH tự nguyện, đồng thời thể hiện đây là một chính sách BHXH có ý
nghĩa sâu sắc của Nhà nước nhằm tạo cơ hội cho người tham gia đều có thể
được hưởng hai chế độ cốt lõi của BHXH tự nguyện.
1.2. Pháp luật về Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam
1.2.1. Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội tự nguyện
Là một loại hình bảo hiểm xã hội, nên bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng có
những nguyên tắc chung giống như bảo hiểm xã hội bắt buộc, song do có những
đặc trưng riêng nên để đảm bảo việc thực hiện BHXH tự nguyện cũng cần phải
chú trọng các nguyên tắc sau:
1.2.1.1.Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn ảnh hưởng đến nhiều mặt của
đời sống xã hội, nó chứa đựng cả một nội dung kinh tế, nội dung xã hội và nội
dung pháp lý. Để đảm bảo thực hiện hài hoà các nội dung nói trên và đạt được
mục tiêu mà bảo hiểm xã hội đặt ra thì việc thực hiện bảo hiểm xã hội trước
hết là trách nhiệm thuộc về Nhà nước. 9
Vai trò của Nhà nước đã thể hiện thông qua việc Nhà nước giữ vai trò
trực tiếp tổ chức, chỉ đạo và quản lý toàn bộ sự nghiệp bảo hiểm xã hội trong
đó có cả BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc. Trách nhiệm đã thể hiện: Nhà
nước là người trực tiếp tổ chức, chỉ đạo và quản lý toàn bộ sự nghiệp bảo
hiểm xã hội thông qua việc ban hành các quy định pháp luật về bảo hiểm xã
hội và kiểm tra việc thực hiện các quy định đó. Nhà nước tuỳ theo điều kiện
kinh tế xã hội định chính sách quốc gia về bảo hiểm xã hội, nhằm từng bước ở
từng thời kỳ mà quy mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, góp phần ổn
định đời sống cho người lao động và gia đình họ khi người lao động bị suy
giảm khả năng lao động hoặc gặp các rủi ro, khó khăn khác như: chết, tai nạn,
thất nghiệp …
Nguyên tắc này đã được ghi nhận tại Hiến pháp 1992, điều 56. Tuy

ro làm giảm thu nhập trong cuộc sống. Có thể nói nhu cầu về BHXH thuộc về
nhu cầu tự nhiên của con người. Xuất phát từ nhu cầu cần thiết để đảm bảo
cho các tiêu chuẩn hay giá trị cho cuộc sống tối thiểu.
Ý nghĩa xã hội của bảo hiểm xã hội tự nguyện thể hiện ở chỗ người lao
động có quyết định tham gia hay không, chính vì lẽ đó BHXH tự nguyện
được thực hiện với nguyên tắc là không bắt buộc người lao động phải tham
gia, đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu chung hướng tới việc người lao
động ai cũng có cơ hội được hưởng BHXH. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo
cho người lao động làm việc trong bất kỳ thành phần kinh tế nào, bất kỳ loại
hình tổ chức lao động nào. Khi có đủ điều kiện, dấu hiệu phát sinh quan hệ
bảo hiểm xã hội thì đều được hưởng quyền lợi về bảo hiểm xã hội không phân
biệt hình thức pháp lý làm phát sinh quan hệ lao động, giới tính, tuổi tác …
Mặt khác, việc quy định số lượng các chế độ bảo hiểm xã hội hay nói cách 11
khác khả năng khống chế, khắc phục các rủi ro đến đâu còn phụ thuộc vào
điều kiện kinh tế xã hội cụ thể.
1.2.1.3. Đảm bảo sự linh hoạt trong quy định nội dung và thực hiện
chế độ BHXH tự nguyện
Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện thường là những người nông
dân, người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức và người nghèo, đời
sống và thu nhập của họ bấp bênh, không ổn định. Vì vậy, để tạo điều kiện
cho những đối tượng này có đủ điều kiện tham gia BHXH tự nguyện thì các
quy định về BHXH tự nguyện phải linh hoạt. Sự linh hoạt thể hiện rõ nhất ở
các quy định về mức đóng, phương thức đóng, và mức hưởng bảo hiểm Khác
với BHXH bắt buộc, mức đóng được tính trên cơ sở tiền công, tiền lương,
mức đóng trong BHXH tự nguyện thường được tính trên cơ sử mức thu nhập
của người lao động. Người lao động tham gia BHXH tự nguyện thường có
quan hệ lao động không ổn định. Để có một mức thu nhập nhất định trong

người tham gia quyết định. Mức đóng được tính dựa trên cơ sở mức thu nhập
tháng do người tham gia lựa chọn, phương thức đóng theo nhu cầu và khả
năng của bản thân trên cơ sở những khung quy định.Với đối tượng tham gia
bảo hiểm xã hội tự nguyện là hầu hết người lao động không có quan hệ lao
động, cho nên nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện không phải
do nhiều bên đóng góp mà sự đóng góp của chính bản thân người lao động và
khả năng đầu tư phần tiền nhàn rỗi của Quỹ.
Luật Bảo hiểm xã hội 2006 quy định mức đóng và phương thức đóng
bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động cũng thể hiện rõ nguyên tắc tự
do ý chí của người tham gia BHXH tự nguyện như sau: Mức đóng hàng tháng
bằng 16% mức thu nhập của người lao động lựa chọn đóng bảo hiểm xã hội;
từ năm 2010 trở đi, cứ 2 năm một lần đóng tăng thêm 2% cho đến khi đạt
mức đóng là 22%. Cụ thể hơn như sau: 13
- Từ tháng 01/2008 – 12/2009 = 16%
- Từ tháng 01/2010 – 12/2011 = 18%
- Từ tháng 01/2012 – 12/2013 = 20%
- Từ tháng 01/2014 trở đi = 22%
Mức thu nhập làm cơ sở để đóng bảo hiểm xã hội được thay đổi tuỳ
theo khả năng của người lao động ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng mức
lương tối thiểu chung và cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung [20].
Người lao động được chọn một trong các phương thức đóng sau: lựa chọn
hàng tháng hoặc hàng quý hoặc 6 tháng một lần.
Thời điểm phải đóng:
- 15 ngày đầu tháng đối với phương thức đóng hàng tháng.
- 45 ngày đầu quý đối với phương thức đóng hàng quý.
- 03 tháng đầu đối với phương thức đóng 6 tháng một lần.
Trường hợp đã đóng theo phương thức đóng hàng quý hoặc 6 tháng

luật. Các thành viên tham gia quan hệ bảo hiểm xã hội có mối quan hệ mật
thiết với nhau. Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ các bên được đặt trong mối
quan hệ thống nhất với nhau. Song cũng như bất cứ một quan hệ pháp luật
nào, trong quá trình phát sinh, tồn tại các quan hệ bảo hiểm xã hội giữa các
chủ thể không tránh khỏi có sự bất đồng với nhau dẫn đến tranh chấp. Nếu
tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động về bảo hiểm xã hội
thì giải quyết theo quy định về giải quyết tranh chấp lao động Nếu tranh chấp
giữa người lao động, người sử dụng lao động với cơ quan bảo hiểm xã hội thì
giải quyết theo Điều 130, Luật Bảo hiểm Xã hội 2006.
1.2.2.2. Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
Người tham gia bảo hiểm xã hội là người đóng góp phí bảo hiểm xã hội
để bảo hiểm cho mình hoặc cho người khác được bảo hiểm xã hội. Như vậy,
người tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật chủ yếu là người 15
lao động có đủ những điều kiện mà Pháp luật quy định để tham gia BHXH tự
nguyện . Đối tượng áp dụng BHXH theo loại hình BHXH tự nguyện quy định
tại Điều 2 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP và hướng dẫn tại Phần I Thông tư
số 02/2008/TT-BLĐTBXH là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi
đối với nam và từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi đối với nữ, không thuộc diện áp
dụng của pháp luật về BHXH bắt buộc, bao gồm: “Người lao động làm việc
theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng; Cán bộ không chuyên trách
ở cấp xã, ở thôn và tổ dân phố; Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ; Xã viên không hưởng tiền lương, tiền công làm việc trong
hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Người lao động tự tạo việc làm bao gồm
những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản thân;
Người lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó chưa tham
gia BHXH bắt buộc hoặc tham gia BHXH bắt buộc nhưng đã nhận BHXH
một lần; Người tham gia khác. Các đối tượng quy định trên gọi chung là

gia BHXH mới chỉ đạt khoảng 10,577 triệu người tham gia BHXH, trong đó
có 10,437 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, có khoảng 0,14 triệu người
tham gia BHXH tự nguyện. Trong số này còn có một lượng vô cùng lớn người
lao động chưa được tham gia bảo hiểm xã hội [9]. Đây là lực lượng vô cùng lớn
muốn tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, vì cùng với bảo hiểm xã hội bắt
buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện tạo điều kiện cho mọi người lao động tích
luỹ một phần thu nhập khi còn trẻ để đảm bảo ổn định cuộc sống khi về già,
góp phần an sinh xã hội. Thậm chí những người đang thực hiện bảo hiểm xã
hội bắt buộc cũng có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện vì trong quá
trình tổ chức, thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng khó xác định được
người nào đang tham gia hay không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Lao động làm việc trong các doanh nghiệp có quan hệ lao động,
không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc: Những người làm 17
công ăn lương theo hình thức hợp đồng lao động dưới 3 tháng;
- Lao động làm việc trong các đơn vị không có quan hệ lao động, có
nguyện vọng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Những đối tượng này bao gồm tất cả mọi người lao động không thuộc
diện bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tuy nhiên, để có căn cứ xây dựng các chế độ
bảo hiểm xã hội phù hợp với nhu cầu và khả năng tham gia đóng góp bảo
hiểm xã hội tự nguyện của từng loại hình, cần phải nghiên cứu các đặc điểm
của từng ngành nghề, tính chất và mức độ thu nhập của các loại hình lao
động. Vì vậy, trong số các loại hình lao động không thuộc diện bảo hiểm xã
hội bắt buộc bao gồm:
- Lao động tiểu thủ công nghiệp;
- Lao động buôn bán dịch vụ;
- Lao động nông nghiệp;
- Lao động tự do, lao động cá thể [20].

thống nhất với nhau. Đơn vị sử dụng lao động đóng bảo hiểm cho người lao
động, người lao động đóng bảo hiểm cho cơ quan bảo hiểm. Cơ quan bảo
hiểm thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động.
1.2.3. Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện
Các chế độ BHXH tự nguyện là các quyền lợi mà người tham gia tự
nguyện được hưởng khi có đủ các điều kiện bảo hiểm phát sinh.
Việc xác định đối tượng tham gia, xác định các chế độ BHXH tự
nguyện thuộc nhu cầu tham gia và trình độ quản lý rủi ro của từng nước. Tuy
nhiên, việc xây dựng và thực hiện các chế độ BHXH tự nguyện ở các quốc
gia đều dựa vào các quy định của Công ước số 102 về các chế độ của BHXH
đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO) thông qua ngày 28/6/1952 và điều
kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia.
Theo quy định của ILO trong Công ước 102, để đảm bảo mức tối thiểu,
thì trong BHXH các nước thành viên cần lựa chọn ít nhất là ba trong chính

Trích đoạn Tăng cường tính linh hoạt cho các quy định về BHXH tự Ban hành văn bản hướng dẫn Luật BHXH Kiến nghị một số biện pháp tổ chức thực hiện pháp luật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status