ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHAN VÕ THỊ HẠNH THUỶ
THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT
BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Hoài Thu
Hà Nội - 2015
i
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực
hiện trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp lý thuyết, khảo sát tình hình thực tiễn ở
thành phố Đà Nẵng và dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ
Lê Thị Hoài Thu.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là có cơ sở, dựa trên số liệu thống
kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng và Cục
thống kê thành phố Đà Nẵng. Bản luận văn này chưa từng được công bố. Người cam đoan Phan Võ Thị Hạnh Thuỷ
1.1. Khái quát chung về Bảo hiểm xã hội tự nguyện
7
1.1.1. Khái niệm, ý nghĩa Bảo hiểm xã hội tự nguyện
7
1.1.2. Bản chất của Bảo hiểm xã hội tự nguyện
12
1.2. Khái quát chung về pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện
14
1.2.1. Khái niệm pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện
14
1.2.2. Nguyên tắc pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện
16
1.2.3. Nội dung pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện
18
1.2.4. Vai trò pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện
29
Chương 2. Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện và tình
hình thực hiện tại thành phố Đà Nẵng
31
2.1. Thực trạng pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện
31
2.1.1. Về đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện
31
iii
2.1.2. Về các chế độ Bảo hiểm xã hội tự nguyện
34
2.1.3. Về nguồn hình thành quỹ và quản lý quỹ Bảo hiểm xã hội tự
nguyện
3.2.4. Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức,
viên chức trong tổ chức thực hiện Bảo hiểm xã hội tự nguyện
69
3.2.5. Về tổ chức thực hiện
71
3.2.6. Một số kiến nghị khác
74
Kết luận
77
Danh mục tài liệu tham khảo
78
Phụ lục
83
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT - ASXH: An sinh xã hội
- BHXH: Bảo hiểm xã hội
- BHYT: Bảo hiểm y tế 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta
thiểu để được hưởng lương hưu vẫn cao.
Hiện nay, Việt Nam là quốc gia có cơ cấu “dân số vàng”. “Năm 2009,
tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 64 tuổi) là 68,4%, dự báo
đến năm 2049 tỷ trọng này là 64,42%” [27, tr.1-2]. Dân số Việt Nam hiện
nay trên 90 triệu người, số lượng người trong độ tuổi lao động đến tháng 6
năm 2013 có khoảng 53 triệu người [28], [35]. Số lượng người tham gia Bảo
hiểm xã hội tự nguyện tính đến 31/12/2012 chỉ đạt 139.643 người [15, tr.13],
[22, tr.26] tính đến 31/12/2013 số người tham gia BHXH tự nguyện đạt
170.600 người [30], [35], tăng 22% so với năm 2012. Tuy nhiên, số người
tham gia BHXH tự nguyện như vậy còn khá khiêm tốn, chưa tương xứng với
tiềm năng và số lượng người lao động ở các khu vực chính thức và phi chính
thức.
Qua hơn 6 năm triển khai thực hiện Bảo hiểm xã hội tự nguyện đã từng
bước mang lại hiệu quả thiết thực cho người lao động. Tuy nhiên, việc triển
khai BHXH tự nguyện chưa đáp ứng được nhu cầu của người lao động, cũng
như định hướng của Đảng, Nhà nước. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để người
lao động nhận thức được sự cần thiết tham gia BHXH tự nguyện; thể chế,
chính sách, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ quản lý như thế nào để tạo điều
kiện thuận lợi triển khai thực hiện Bảo hiểm xã hội tự nguyện. Xuất phát từ
những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Thực trạng thi hành pháp luật Bảo
hiểm xã hội tự nguyện tại thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ luật học
của mình.
3
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
Luật BHXH ra đời có hiệu lực thi hành từ năm 2007, đối với chế độ
BHXH tự nguyện được áp dụng từ năm 2008. Để chế độ BHXH bắt buộc và
BHXH tự nguyện ngày càng hoàn thiện, phù hợp với người lao động, trong
những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Trong đó
phải kể đến đề tài nghiên cứu khoa học như đề tài cấp bộ: "Nghiên cứu mở
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu lý luận pháp luật về Bảo hiểm xã hội tự nguyện và thực
trạng thi hành pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở thành phố Đà Nẵng.
- Đề xuất các giải pháp để phát triển Bảo hiểm xã hội tự nguyện nhằm
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng.
- Đề tài làm sáng tỏ những vấn đề lý luận pháp luật về BHXH tự
nguyện, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật BHXH tự nguyện trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng thời gian qua, phân tích những vấn đề pháp luật và thực
tiễn triển khai mô hình bảo hiểm này để đưa ra những kiến nghị, định hướng
và giải pháp thực hiện BHXH tự nguyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
trong thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước về Bảo hiểm xã hội nói chung và Bảo hiểm xã
hội tự nguyện nói riêng.
5
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học
truyền thống như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, diễn giải, quy
nạp những phương pháp trên không sử dụng độc lập mà đan xen và kết hợp
với nhau để làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật
BHXH tự nguyện hiện hành và đánh giá thực trạng pháp luật BHXH tự
nguyện nói chung và việc áp dụng BHXH tự nguyện ở thành phố Đà Nẵng
nói riêng.
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu về thực trạng thi hành pháp luật
VÀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
1.1. Khái quát chung về Bảo hiểm xã hội tự nguyện
1.1.1. Khái niệm, ý nghĩa BHXH tự nguyện
Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành, phát triển từ lâu đời và được
triển khai thực hiện rộng rãi trên thế giới, "chế độ bảo hiểm tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp ra đời lần đầu tiên ở nước Phổ” (Cộng hòa liên bang
Đức). "Đến năm 1850 và năm 1861 các quỹ ốm đau được thành lập ở Đức,
Bỉ. Năm 1883, nước Đức ban hành đạo luật đầu tiên về BHXH” [33]. Khi
mới triển khai thực hiện BHXH, hầu hết các nước thường áp dụng BHXH bắt
buộc cho các đối tượng có nhu cầu và có khả năng tham gia BHXH bắt buộc
(dành cho những người tham gia quan hệ lao động).
Ở Việt Nam BHXH ra đời từ rất sớm. Từ năm 1986, Việt Nam đã thực
hiện chính sách cải cách kinh tế và chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch
hóa tập trung sang cơ chế thị trường, sự đổi mới về cơ chế kinh tế đòi hỏi có
những thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách
BHXH nói riêng. Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ: Nhà nước thực hiện chế độ
BHXH đối với công chức Nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến
khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động. Trong văn
kiện Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ, cần đổi mới chính
sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các
thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ
BHXH ra khỏi ngân sách. Ngay trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
đất nước giai đoạn 2011-2020, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra mục tiêu là
8
“tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng
bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị
tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống” [20, tr.228].
Hiện nay, ở nước ta Bảo hiểm xã hội được thực hiện với cơ chế Nhà nước -
Nhà nước quy định mức đóng góp để hình thành Quỹ BHXH tự nguyện đảm
bảo đủ kinh phí để chi trả cho người tham gia BHXH tự nguyện và xây dựng
các chế độ mà người tham gia BHXH được hưởng (bao gồm điều kiện hưởng,
mức hưởng) nhằm bảo đảm bù đắp rủi ro cho người tham gia BHXH tự
nguyện.
BHXH tự nguyện là loại hình BHXH được xây dựng trên cơ sở tự
nguyện của người lao động với tư cách là người tham gia cũng là người
hưởng BHXH. Giữa loại hình BHXH tự nguyện và loại hình BHXH bắt buộc
có những điểm giống nhau về mục tiêu, bản chất, mục đích hoạt động, sự
hình thành và sử dụng quỹ. Tuy nhiên, BHXH tự nguyện có những điểm khác
so với BHXH bắt buộc đó là mối quan hệ lao động của những người tham gia
BHXH ở hai loại hình này.
Trong những năm qua, cùng với BHXH bắt buộc, việc triển khai
BHXH tự nguyện đã phát huy tác dụng trong việc hỗ trợ người lao động khi
gặp những khó khăn, biến cố trong cuộc sống, trên cơ sở những đóng góp của
người lao động trước khi xảy ra những rủi ro đó. Có thể hiểu một cách khái
quát về Bảo hiểm xã hội tự nguyện như sau:
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước ban
hành để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao
10
động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao
động bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự tự
nguyện đóng góp một phần thu nhập của người lao động, người sử dụng lao
động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình
họ, góp phần bảo đảm an sinh xã hội.
Hoặc có thể nói: Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã
hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và
phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội.
Từ những khái niệm trên đây, có thể thấy rằng người lao động có
được hình thành tư
̀
s ự đóng góp của người lao động và từ sự hỗ trợ của nhà
nước để chi trả các chế độ cho người tham gia BHXH tự nguyện. Quỹ BHXH
phát triển sẽ góp phần tạo nguồn lực tài chính, cung ứng vốn cho việc đầu tư
phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, quỹ BHXH tự nguyện góp phần ổn định tài
chính tiền tệ quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.
Thứ ba, BHXH tự nguyện giúp đảm bảo thu nhập cho người lao động
và gia đình họ khi gặp những khó khăn như ốm đau, tai nạn lao động, chết…
Những người tham gia BHXH tự nguyện hầu hết là những người lao động tự
do, thu nhập thường thấp, không ổn định, bấp bênh như: những người nông
dân, kinh doanh, buôn bán nhỏ… khi họ tham gia BHXH tự nguyện sẽ giúp
họ và gia đình họ đảm bảo được phần nào những rủi ro xảy ra trong cuộc
sống.
Thứ tư, BHXH tự nguyện góp phần nâng cao năng suất lao động xã
hội, thúc đẩy sản xuất phát triển. Người tham gia BHXH tự nguyện được đảm
bảo về thu nhập ổn định ở mức độ cần thiết, giúp họ tiết kiệm kinh phí đều
12
đặn để dự phòng khi già yếu, mất sức lao động… Chính vì vậy, BHXH tự
nguyện tạo động lực cho người lao động phấn khởi, yên tâm làm việc, tạo
điều kiện để thu hút các nguồn lực lao động vào nền sản xuất, thúc đẩy sản
xuất phát triển.
Thứ năm, BHXH tự nguyện góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân,
giảm chi ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội. BHXH tự nguyện góp
phần tạo cơ hội để thực hiện trách nhiệm tương trợ cho những khó khăn của
các thành viên khác trong xã hội. Người có thu nhập cao, có năng lực cao hơn
sẽ đóng góp nhiều hơn vào quỹ BHXH, họ trợ giúp cho những người yếu thế
trong xã hội. Những người lao động khi gặp phải rủi ro, họ sẽ nhận được trợ
cấp từ BHXH để cải thiện cuộc sống.
bất trắc, rủi ro xã hội.
- Tính xã hội của BHXH tự nguyện
"Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng,
là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã
hội" [11, tr.2]. Về mặt xã hội, BHXH nói chung và BHXH tự nguyện với mục
tiêu không vì lợi nhuận, mà vì mục tiêu xã hội. Người tham gia BHXH tự
nguyện được chia sẻ rủi ro và được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập
khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động. Quỹ BHXH tự nguyện thực hiện
theo nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” đã góp phần trang trải những rủi ro khi
xảy ra cho người lao động và gia đình họ. Mặc dù người lao động đóng một
khoản tiền nhỏ trong thu nhập của mình, nhưng được bồi hoàn một khoản thu
nhập đủ lớn từ nguồn quỹ BHXH tự nguyện, nhờ đó đã chia sẻ, giúp cho
14
người lao động và gia đình họ trang trải rủi ro khi thu nhập của họ bị giảm
hay bị mất.
Như vậy, về mặt xã hội, BHXH tự nguyện hoạt động không vì mục tiêu
lợi nhuận, là một trong những chính sách xã hội, góp phần thực hiện chính
sách xoá đói giảm nghèo của đất nước, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội, góp phần ổn định đời sống của nhân dân.
Tuy nhiên, giữa bản chất kinh tế và bản chất xã hội của BHXH tự
nguyện đan xen lẫn nhau, không tách rời nhau. Khi nói đến sự bảo đảm kinh
tế cho người lao động và gia đình của họ là đã nói đến tính xã hội của BHXH
tự nguyện, và ngược lại, khi nói đến sự đóng góp một khoản kinh phí nhỏ từ
thu nhập nhưng lại đủ trang trải mọi rủi ro xã hội thì cũng đã đề cập đến tính
kinh tế của BHXH tự nguyện.
1.2. Khái quát chung về pháp luật BHXH tự nguyện
1.2.1. Khái niệm pháp luật BHXH tự nguyện
Bảo hiểm là một trong những phương pháp, công cụ hữu ích có vai trò
những rủi ro khi xảy ra cho bản thân và gia đình. Nhà nước đã đề ra các quy
định về mức đóng, quy định các chế độ của BHXH tự nguyện, điều kiện để
hưởng và mức hưởng để đảm bảo bù đắp những rủi ro cho người tham gia
BHXH tự nguyện. Như vậy, Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một công cụ bảo
đảm tối thiểu để người lao động duy trì và tái tạo khả năng lao động mà
không phải là các khoản chi trả trực tiếp để người lao động chữa bệnh khi ốm
đau, tai nạn, người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù
hợp để được hưởng các chế độ bảo hiểm.
16
1.2.2. Nguyên tắc pháp luật BHXH tự nguyện
BHXH là một trong những chính sách an sinh xã hội của mỗi quốc gia.
Việc thực hiện chính sách BHXH đều tuân theo những nguyên tắc nhất định.
Nguyên tắc BHXH là những quy định nhằm đảm bảo cho các hoạt động
BHXH diễn ra bình thường, đạt được mục tiêu mong muốn của nó.
BHXH tự nguyện là một trong những bộ phận cấu thành nên BHXH, vì
vậy BHXH tự nguyện tuân thủ theo những nguyên tắc chung của BHXH và
tuân theo những nguyên tắc riêng. Những nguyên tắc chung của BHXH được
tổng hợp từ những văn bản của tổ chức lao động quốc tế (ILO) về BHXH và
từ những chính sách của các quốc gia có hệ thống an sinh tiên tiến trên thế
giới. Theo đó, nguyên tắc chung BHXH cụ thể như sau:
Thứ nhất, BHXH tự nguyện được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của
người tham gia. Đây là một trong những nguyên tắc đặc trưng của BHXH tự
nguyện. Nguyên tắc này thể hiện sự tự nguyện của người lao động có quyền
tự do lựa chọn tham gia hoặc không tham gia BHXH tự nguyện. Họ có quyền
được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng BHXH tự nguyện phù hợp với
thu nhập của mình. Phí đóng BHXH tự nguyện dựa hoàn toàn vào sự đóng
góp của người lao động mà không có sự đóng góp nào khác của người sử
dụng lao động. Nguyên tắc này xuất phát từ đối tượng của loại hình BHXH tư
trong quan hệ BHXH tự nguyện. Người lao động đóng BHXH ở mức thấp thì
đương nhiên chỉ nhận được trợ cấp thấp; muốn được hưởng trợ cấp BHXH
cao, điều đương nhiên người lao động sẽ phải đóng phí cao hơn. Nếu người
tham gia BHXH đóng phí BHXH thấp mà hưởng trợ cấp BHXH cao, sẽ ảnh
hưởng đến an toàn của quỹ BHXH và tính lâu dài của chính sách BHXH sẽ
không co
́
khả năng thực thi. Hiện nay nước ta đang ở trong tình trạng bội chi
ngân sách, nhà nước cần có những chính sách phù hợp để đảm bảo sự an toàn
của quỹ BHXH, đảm bảo quyền lợi của người tham gia BHXH tự nguyện.
18
Người lao động tham gia BHXH tự nguyện thường có thu nhập không
ổn định, bấp bênh nên không thể có mức đóng ổn định, họ có thể tạm ngừng
đóng BHXH tự nguyện không cần có lý do. Vì vậy, người lao động có quyền
tự chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với khả năng của họ. Mức
hưởng BHXH tự nguyện cần đa dạng hơn và cần được tính toán trên cơ sở
mức đóng, thời gian tham gia BHXH. Quy định mức hưởng BHXH tự nguyện
như vậy mới đảm bảo cân đối được lợi ích của người tham gia bảo hiểm và
đảm bảo cân đối nguồn quỹ BHXH tự nguyện.
Thứ ba, đảm bảo liên thông giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.
Mục đích chung của loại hình BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện là
đảm bảo an sinh xã hội cho người tham gia. Thông thường, người tham gia
BHXH bắt buộc được hưởng nhiều chế độ hơn người tham gia BHXH tự
nguyện. Trên thực tế, tùy thuộc vào tính chất và đặc điểm của quan hệ lao
động mà người lao động có thể có thời gian tham gia BHXH bắt buộc vừa có
thời gian tham gia BHXH tự nguyện. Pháp luật Việt Nam đã quy định khá chi
tiết về việc chuyển đổi giữa hai loại hình bảo hiểm này và người lao động
trong cùng một thời điểm chỉ có thể tham gia đóng BHXH bắt buộc hoặc
BHXH tự nguyện. Sự liên thông giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện
bảo hiểm cho mình hoặc cho người khác được BHXH. Theo quy định của
pháp luật Việt Nam, chủ thể tham gia BHXH là người sử dụng lao động,
người lao động và trong chừng mực nào đó có cả nhà nước. Tuy nhiên hiểu
theo nghĩa rộng thì người sử dụng lao động cũng có thể là người gián tiếp
tham gia BHXH tự nguyện.