Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH VŨ NGỌC QUẾ
NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
CÔNG TÁC QUẢN LÝ BHXH BẮT BUỘC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ ANH TÀI
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu.
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đối với Ban giám hiệu nhà trường,
Phòng QLĐT Sau đại học và các thầy, cô giáo Trường Đại học Kinh tế và
Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện về tinh thần và vật
chất giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học học tập và nghiên cứu.
Có được kết quả này tôi vô cùng biết ơn và bày tỏ lòng kính trọng sâu
sắc đối với PGS. TS. Đỗ Anh Tài, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Bảo hiểm xã hội tỉnh
Thái Nguyên và những người đã cung cấp những số liệu khách quan giúp
tôi đưa ra những phân tích chính xác.
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp và những
người thân trong gia đình đã chia sẻ những khó khăn và động viên tôi hoàn
thành luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2013
Tác giả luận văn Vũ Ngọc Quế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
3.1. Khái quát về cơ quan BHXH tỉnh Thái Nguyên 33
3.2. Thực trạng công tác quản lý BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 37
3.2.1. Quy trình quản lý thu, nộp BHXH 37
3.2.2. Quản lý đối tượng tham gia BHXH 42
3.2.3. Quản lý tiền lương làm căn cứ đóng BHXH 47
3.2.4. Quản lý phương thức đóng và mức đóng BHXH 49
3.2.5. Công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý thu BHXH 50
3.3. Đánh giá công tác quản lý BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 51
3.3.1. Những kết quả đạt được 51
3.3.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 57
3.4. Kinh nghiệm quản lý thu BHXH trên địa bàn một số tỉnh ở nước ta 63
3.4.1. Kinh nghiệm quản lý thu BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La và
thành Phố Đà Nẵng 63
3.4.2. Những bài học rút ra từ kinh nghiệm quản lý thu của các tỉnh bạn
cho BHXH tỉnh Thái Nguyên 67
Chƣơng 4: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO CÔNG
TÁC QUẢN LÝ BHXH BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 68
4.1. Định hướng hoàn thiện công tác quản lý BHXH bắt buộc của toàn ngành 68
4.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý BHXH bắt
buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 72
4.2.1. Mở rộng phạm vi đối tượng tham gia BHXH để tăng thu trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên 72
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
4.2.2. Quy định rõ việc trích nộp BHXH theo tỷ lệ nào đó trên tổng thu nhập
của người lao động thay vì theo mức lương cơ bản như hiện nay 75
4.2.3. Các giải pháp thu hồi nợ đọng BHXH 77
4.2.4. Có cơ chế phối kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan BHXH với cơ quan
thuế cùng quản lý doanh nghiệp 80
4.2.5. Quy định mức phạt vi phạm pháp luật về BHXH thật nặng để NLĐ
và người SDLĐ đều phải chấp hành những quy định về BHXH, vừa
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ Bảng 3.1. Quản lý đối tượng tham gia BHXH giai đoạn năm 2008-2012 44
Bảng 3.2: Tốc độ tăng lao động đóng BHXH giai đoạn 2008 - 2012 tại tỉnh
Thái Nguyên 45
Bảng 3.3: Tổng hợp kết quả rà soát đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2012 46
Bảng 3.4. Tổng hợp quỹ tiền lương đóng BHXH 47
Bảng 3.5. Kết quả thu BHXH tại BHXH tỉnh Thái Nguyên (2008- 2012) 52
Bảng 3.6. Kết quả thu BHXH theo khối loại hình doanh nghiệp 54
Bảng 3.7. Tình hình nợ đọng BHXH từ năm 2008 - 2012 55
Bảng 3.8. Tốc độ tăng giảm liên hoàn tỷ lệ nợ đọng BHXH 55
Bảng 3.9. Lãi phạt chậm đóng BHXH và lãi suất cho vay của Ngân hàng công
thương tỉnh Thái Nguyên 60
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy BHXH tỉnh Thái Nguyên 34
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ bộ máy quản lý thu tại BHXH tỉnh Thái Nguyên 38
Sơ đồ 3.3. Quy trình thu BHXH tại tỉnh Thái nguyên 41
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách xã hội lớn của Đảng và
Nhà nước ta. Nó mang trong mình bản chất nhân văn sâu sắc vì cuộc sống an
bình, hạnh phúc của con người. Trong suốt cuộc đời, mỗi con người sinh ra,
lớn lên, trưởng thành bình thường đều trải qua một quá trình lao động để nuôi
sống gia đình mình và đóng góp một phần vào sự phát triển chung của xã hội.
Tham gia BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của
quy trình làm việc, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động và nhân
dân khi tham gia BHXH, BHYT.
Xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy; nâng cao năng lực chỉ đạo và tổ
chức thực hiện của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là trình độ
chuyên môn và ý thức, trách nhiệm phục vụ nhân dân.
Nhiệm vụ thu BHXH, BHYT được toàn ngành xác định là đầu vào hết
sức quan trọng để hình thành và phát triển quỹ BHXH, BHYT đáp ứng được
khả năng chi trả các chế độ BHXH.
Trong những năm qua tài chính ngành BHXH Việt Nam đã được đánh
giá ổn định, nhưng theo dự báo có thể sẽ mất cân đối trong những năm tiếp
theo do xu hướng tuổi thọ của người lao động ngày càng nâng cao, tỷ lệ thu
BHXH còn thấp do đó cần những giải pháp để khắc phục những khó khăn,
vướng mắc trong công tác quản lý BHXH bắt buộc. Là người cán bộ trực tiếp
thực hiện công tác BHXH, với mong muốn nghiên cứu thực trạng công tác
quản lý BHXH bắt buộc trên địa bàn đồng thời đề xuất, đóng góp một số kiến
nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trong thời gian tới, vì vậy tôi
lựa chọn đề tài: "Những giải pháp nâng cao chất lƣợng công tác quản lý
BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên" làm luận văn tốt nghiệp
của mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác quản lý BHXH bắt buộc trên địa
bàn đồng thời đề xuất, đóng góp một số kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần
nâng cao chất lượng công tác quản lý BHXH bắt buộc của ngành BHXH nói
chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng, đáp ứng mục tiêu an sinh xã hội do
Đảng và Nhà nước đặt ra.
2.2. Mục tiêu cụ thể
từ đó nảy sinh những vấn đề xã hội. Xã hội loài người càng phát triển thì
những vấn đề xã hội cũng càng ngày phức tạp hơn. Mỗi chế độ chính trị - xã
hội khác nhau có những vấn đề xã hội mang tính chất riêng nhưng cũng có
những vấn đề xã hội mang tính chất chung, đều phải giải quyết không chỉ vấn
đề xã hội hiện tại mà còn phải giải quyết hàng loạt vấn đề mà xã hội cũ để lại
cũng như giải quyết những vấn đề của tương lai. Công cụ điều chỉnh các vấn
đề xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng, đó chính là những chính sách xã hội.
Chính sách xã hội được biểu hiện là công cụ của Nhà nước được thể
chế hoá nhằm tác động vào mối quan hệ xã hội, thực hiện công bằng xã hội,
bình đẳng xã hội, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người. Để giải
quyết các vấn đề xã hội cần phải đề ra các chính sách xã hội phù hợp với điều
kiện kinh tế, xã hội. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI năm (1986) đã đặt
đúng vị trí và tầm quan trọng của vấn đề chính sách xã hội trong chiến lược
phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Nghị quyết nêu rõ: “Chính sách xã hội
bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt,
giáo dục văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc Coi
nhẹ chính sách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội”.
Chính sách xã hội luôn gắn với hệ thống chính trị- xã hội. Mỗi chế độ
chính trị đều phát triển những chính sách xã hội phù hợp với điều kiện lịch sử
của mình. Ở nước ta hiện nay, chủ thể đặt ra các chính sách xã hội là Đảng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với sự
tham gia tư vấn của các tổ chức chính trị- xã hội, như: Mặt trận Tổ quốc,
Tổng Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Liên hiệp các hội Khoa học- kỹ
thuật, đại biểu cho giới trí thức, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Liên hiệp Thanh
niên. Chính sách xã hội bao quát nhiều lĩnh vực hoạt động rộng lớn của xã
hội, những lĩnh vực hoạt động đó lại liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau
BHXH là chế độ pháp lý bảo vệ quyền lợi người lao động thông qua việc
giải quyết mọi chính sách do pháp luật quy định đối với người tham gia BHXH.
+ Dưới góc độ chính trị
BHXH được hiểu là sự liên kết giữa Đảng, nhà nước, chủ sử dụng lao
động với quần chúng nhân dân lao động để thực hiện mục tiêu “Dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
+ Dưới góc độ kinh tế
BHXH được hiểu đó là sự phân phối quỹ BHXH tập trung được đóng
góp của các bên tham gia BHXH nhằm đảm bảo thu nhập ổn định đời sống
cho người lao động và gia đình họ khi mất hoặc giảm sút sức lao động do tuổi
già, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp hoặc chết.
Từ khái niệm trên ta thấy BHXH là nhu cầu cần thiết khách quan của
con người và vì thế BHXH là một bộ phận rất quan trọng trong chính sách xã
hội của mỗi quốc gia.
1.1.2. Các dạng BHXH
Ở nước ta đang hình thành hai loại hình BHXH và bảo hiểm thương
mại, cần phân biệt sự giống và khác nhau giữa hai loại hình BHXH và bảo
hiểm thương mại.
Như ta đã nêu ở trên: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ
nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm vì ốm
đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hưu trí hoặc
chết, thông qua việc sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
tham gia BHXH nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của người lao
động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
Bảo hiểm thương mại là sự bảo đảm bù đắp những tổn thất hoặc thiệt
hại do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra về tài sản (nhà xưởng, hàng hóa, công
trưng cơ bản của BHXH là:
- Là loại bảo hiểm cho người lao động trong và sau quá trình lao động;
- Các rủi ro của người lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, mất việc làm già yếu (mất sức lao động), chết làm người
lao động bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập. Họ không có nguồn thu nhập khác
bù vào để ổn định cuộc sống. Đây là một đặc trưng cơ bản của BHXH.
Quỹ BHXH được hình thành do sự đóng góp của người sử dụng lao
động, người lao động, nhà nước hỗ trợ và nguồn khác. Số tiền mà các bên
đóng góp được tập trung vào một quỹ riêng không nằm trong ngân sách Nhà
nước do tổ chức BHXH Việt Nam thống nhất quản lý để chi trả các chế độ trợ
cấp và hoạt động quản lý BHXH.
BHXH đảm bảo cho người lao động khi gặp rủi ro liên quan đến các
vấn đề như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, già yếu.
Người tham gia BHXH được trợ cấp một khoản tiền nhằm bù đắp nguồn thu
nhập bị giảm hoặc mất để ổn định cuộc sống của bản thân và gia đình. Quyền
được hưởng trợ cấp phụ thuộc vào nghĩa vụ đóng góp, mức đóng góp và mức
hưởng BHXH đều có liên quan đến thu nhập của người được BHXH.
Các hoạt động của BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật.
Nhà nước bảo hộ cho các hoạt động BHXH bằng cách định ra chính sách
quốc gia về BHXH; quy định quyền hạn trách nhiệm các bên tham gia BHXH
cho phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước.
BHXH được áp dụng rộng rãi và thống nhất trong cả nước đối với các đối
tượng là cán bộ công nhân viên chức, người lao động trong các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế có sử dụng lao động hợp đồng 3 tháng trở lên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
1.2.1. Chế độ BHXH
Các chế độ BHXH từ xưa đến nay, ở tất cả các nước trên thế giới, đều có
mục đích chung là giúp đỡ những người tham gia BHXH giải quyết những khó
Và ngày 15/07/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 45 quy định về
BHXH đối với quân sự (quân đội, công an). Trong 2 nghị định của Chính phủ
có quy định về hình thành quỹ BHXH trên cơ sở thu BHXH bao gồm người
sử dụng lao động đóng 15% quỹ tiền lương và người lao động đóng 5% tiền
lương hàng tháng. Quỹ này được sử dụng để chi cho 5 chế độ trên. Quỹ
BHXH được bảo tồn, tăng trưởng và được Nhà nước bảo hộ.
Từ tháng 01 năm 2007, chế độ chính sách BHXH được hoàn thiện và
có tính pháp lý cao, đó là Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006 của
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với 6 chế độ BHXH:
chế độ trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề
nghiệp; chế độ hưu trí; chế độ trợ cấp tử tuất và chế độ bảo hiểm thất nghiệp
(riêng chế độ bảo hiểm thất nghiệp thực hiện từ tháng 01 năm 2009). Theo
quy định hiện hành thì người sử dụng lao động đóng góp 17% tổng quỹ lương
cấp bậc chức vụ và các phụ cấp khác (nếu có) người lao động đóng góp 6%
tiền lương của bản thân, Nhà nước bảo trợ một phần để đảm bảo thực hiện các
chế độ BHXH với người lao động.
1.2.2. Tài chính của BHXH
Lợi ích thiết thực của người tham gia bảo hiểm (dù theo loại hình bảo
hiểm bắt buộc hay tự nguyện) là được cơ quan BHXH trợ cấp kịp thời, nhằm
bù đắp một phần thu nhập bị giảm sút hoặc mất đi do gặp rủi ro. Do vậy,
nhiệm vụ của cơ quan BHXH là phải có nguồn tài chính để sẵn sàng đáp ứng
kịp thời nhu cầu của mọi người được bảo hiểm.
Nguồn tài chính của BHXH còn phải để trang trải các chi phí quản lý
bộ máy từ trung ương đến địa phương. Nguồn tài chính đó cần phải vững
chắc và đều đặn. Các ngành kinh tế xã hội phải phát triển, tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạt động của cơ quan BHXH, phải luôn đảm bảo có một lượng dự trữ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
có thể ứng phó những tình huống đột xuất, như dịch bệnh lan tràn, số người
một quốc gia muốn phát triển được thì GDP bình quân đầu người phải đạt
khoảng 1.000USD/năm trở lên. Trong điều kiện này khả năng mở rộng
BHXH cho người lao động sẽ tỷ lệ thuận với mức tăng trưởng của GDP bình
quân đầu người. Ở Việt Nam qua nghiên cứu cho thấy: Để người lao động có
thể tham gia BHXH, người lao động phải có thu nhập ổn định bình quân ở
mức 1.500.000 đồng/tháng trở lên.
Hai là: Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ phải có lãi sau
khi đã trừ chi phí để tái sản xuất và tham gia các khoản đóng góp với Nhà
nước trong đó có BHXH.
Ở Việt Nam, trong những năm qua mức thu nhập và chi tiêu của các hộ
dân cư ở các vùng miền từ thành thị đến nông thôn đều tăng so với thời kỳ
đầu những năm 90 của Thế kỷ XX. Thu nhập bình quân đầu người tăng
khoảng 3,1 lần, khu vực thành thị tăng 5 lần và khu vực nông thôn tăng 2,7
lần so với năm 1993. Đây là yếu tố quan trọng để có thể vận động người dân
tham gia.
- Điều kiện pháp lý:
Đây là điều kiện liên quan đến việc ban hành và quản lý Nhà nước đối
với BHXH là tạo ra hành lang pháp lý, chính sách cho BHXH. Đây cũng là
yếu tố quan trọng then chốt, giúp cho hệ thống BHXH có được cơ sở vững
chắc để tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và phục vụ tốt hơn
cho người lao động. Ở đây, các nội dung BHXH cần được thể chế hoá trong
pháp luật BHXH và trong các ngành luật có liên quan.
Ngoài ra, phải tiếp tục thể chế hoá chính sách và pháp luật về BHXH
cho phù hợp với từng loại đối tượng tham gia BHXH, đảm bảo cơ chế quản lý
BHXH phải rõ ràng, thông thoáng, đúng luật và tạo điều kiện thuận lợi cho
người tham gia bảo hiểm, có như vậy, mới thu hút được đông đảo đối tượng
tham gia và thực hiện BHXH.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
13
cho số ít” góp phần tạo ra tinh thần tương trợ giúp đỡ giữa các nhóm người
lao động.
Người lao động hàng tháng chỉ phải trích một tỷ lệ nhỏ từ thu nhập của
mình đóng góp cho quỹ BHXH, nhưng với số đông người tham gia sẽ có một số
tiền đủ lớn, đủ trang trải cho những người không may mắn rủi ro. Nhờ đó mà
BHXH đã tạo ra sự đoàn kết tương trợ và gắn kết lợi ích của các bên tham gia.
BHXH là một chính sách xã hội quan trọng của mỗi quốc gia, vì nó liên
quan đến đời sống của đông đảo người lao động. Vì vậy, quản lý BHXH là
nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động của hệ thống BHXH. Quản lý BHXH có
hai bộ phận, đó là quản lý Nhà nước về BHXH và quản lý hoạt động sự
nghiệp BHXH.
Quản lý Nhà nước về BHXH xuất phát từ chức năng xã hội của Nhà
nước. Việc quản lý này thực hiện trên các nội dung sau:
- Quản lý toàn bộ hệ thống BHXH trên phạm vi quốc gia: thực hiện
hoạch định các chính sách vĩ mô về BHXH: xây dựng và ban hành các chế
định về chế độ BHXH phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước
trong từng giai đoạn cụ thể.
- Xây dựng luật BHXH, ban hành các văn bản pháp qui và văn bản
dưới luật để thực hiện pháp luật về BHXH thống nhất trong phạm vi cả nước.
- Định hướng các hoạt động BHXH: xem xét và quy định hình thành
các loại hình BHXH hợp lý.
- Thực hiện việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sự nghiệp
BHXH: xử lý các vi phạm, các tranh chấp xảy ra về BHXH.
Để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về BHXH, đòi hỏi phải có
bộ máy quản lý. Ở nước ta hiện nay quản lý về BHXH được giao cho Bộ Lao
động- Thương binh và Xã hội. Giúp cho việc quản lý hệ thống BHXH có Hội
đồng quản lý. Trong Hội đồng quản lý có các đại diện của Nhà nước, đại diện
của người lao động, người sử dụng lao động và đại diện lãnh đạo cơ quan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
16
các mối quan hệ xã hội, tạo đà cho phát triển kinh tế. Vì vậy, nếu Nhà nước
có chính sách hợp lý, tiến bộ, sẽ tạo ra động lực phát triển kinh tế.
- BHXH thực hiện tình đoàn kết cộng đồng tạo sự giúp đỡ lẫn nhau,
tăng cường tính tương thân tương ái
BHXH có tính bắt buộc về nguyên tắc, song vẫn đảm bảo tính tự
nguyện về lợi ích. Hàng tháng, người lao động chỉ phải trích nộp một tỷ lệ
nhỏ từ thu nhập đóng quỹ BHXH, nhưng với số lượng lớn người tham gia sẽ
có một khoản tiền lớn đủ trang trải cho những người bị rủi ro cho họ. Nhờ
vậy, BHXH đã tạo ra sự đoàn kết, tương trợ và gắn kết lợi ích của các bên
tham gia. Việc người lao động đóng BHXH có ý nghĩa về mặt tâm lý đáng kể,
một mặt xoá bỏ những nhận thức sai lệch về BHXH, coi BHXH là một sự ban
ơn, bao cấp mặt khác nhắc nhở ý thức trách nhiệm của người tham gia.
Ý nghĩa quan trọng nhất của BHXH là ở chỗ người may mắn đóng
BHXH để trợ giúp cho những người rủi ro. Vì vậy, việc người lao động phải
đóng BHXH có tầm quan trọng trong việc củng cố tình đoàn kết cộng đồng.
Ở nước ta hiện nay, đối tượng được BHXH chỉ mới là cán bộ công nhân
viên chức Nhà nước, lực lượng vũ trang, những người lao động trong các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có sử dụng lao động. Trong khi đó
những người lao động tự do, làm việc theo mùa vụ, những người sản xuất nông
nghiệp chưa được BHXH. Đây lại là lực lượng lao động chiếm một tỷ lệ cao
hơn 80% dân số. Mặc dù một số năm qua, phạm vi đối tượng BHXH đã được
mở rộng, nhưng mới chỉ thực hiện bảo hiểm được khoảng 15% tổng số lao
động. Đây quả là một con số còn khiêm tốn. Chỉ khi, BHXH được áp dụng cho
mọi người kinh doanh, mọi người lao động thì ý nghĩa đoàn kết mới được phát
huy triệt để, sâu rộng.
Tóm lại, sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng xã hội là một
trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội, góp phần hoàn thiện
những giá trị nhân bản, đảm bảo cho sự phát triển xã hội một cách lành mạnh.
yếu. Nếu ốm đau, tai nạn, sinh con phải nghỉ việc và không có lương cuộc