nghiên cứu thành phần, đặc điểm hình thái và sinh vật học của một số loài bọ trĩ hại rau gia vị có tiềm năng xuất khẩu tại lạng sơn - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



NGUYỄN VÂN ANH
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN, ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ
SINH VẬT HỌC CỦA MỘT SỐ LOÀI BỌ TRĨ HẠI RAU GIA
VỊ CÓ TIỀM NĂNG XUẤT KHẨU TẠI LẠNG SƠN
CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ: 60.62.01.12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HÀ THANH HƯƠNG

HÀ NỘI, NĂM 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

cán bộ Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VII – Lạng Sơn, Trung tâm Giám định
kiểm dịch thực vật – Cục Bảo vệ thực vật đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi hoàn thành khóa học và thực hiện đề tài nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả bạn bè, người thân
và gia đình đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành nghiên
cứu này.

Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Vân Anh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Khái quát tình hình sản xuất rau gia vị ở Việt Nam 4
1.1.2 Khái quát tình hình sản xuất rau gia vị ở Lạng Sơn 5
1.1.3 Vị trí phân loại của bọ trĩ 6

năng xuất khẩu ở Lạng Sơn 34
3.2.1 Loài Caliothrips sp., họ Thripidae, bộ Thysanoptera 34
3.2.2 Loài Megalurothrips sp., họ Thripidae, bộ Thysanoptera 36
3.2.3 Loài Scirtothrips dorsalis Hood, họ Thripidae, bộ Thysanoptera 37
3.2.4 Loài Thrips hawaiiensis Morgan, họ Thripidae, bộ Thysanoptera 39
3.2.5 Loài Haplothrips gowdeyi Franklin, họ Phlaeothripidae, bộ
Thysanoptera 41
3.3 Kích thước các pha phát dục của bọ trĩ Thrips hawaiiensis Morgan nuôi
trên rau kinh giới trong phòng thí nghiệm 43
3.4 Diễn biến mật độ bọ trĩ Thrips hawaiiensis Morgan trên một số rau gia vị
tại Lạng Sơn. 44
3.4.1 Diễn biến mật độ bọ trĩ Thrips hawaiiensis Morgan trên rau tía tô
theo giai đoạn sinh trưởng tại Phường Chi Lăng, Thành phố
Lạng Sơn 44
3.4.2 Diễn biến mật độ bọ trĩ Thrips hawaiiensis Morgan trên rau kinh
giới theo giai đoạn sinh trưởng tại Xã Mai Pha, Thành phố Lạng
Sơn. 45
3.5 Đặc điểm sinh học của loài bọ trĩ Thrips hawaiiensis Morgan hại chính tại
thành phố Lạng Sơn. 47
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

3.5.1 Tập tính của bọ trĩ Thrips hawaiiensis Morgan 47
3.5.2 Thời gian phát dục của loài bọ trĩ Thrips hawaiiensis Morgan trong
phòng thí nghiệm 47
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
1 Kết luận 51
2 Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC 56

3.7 Diễn biến mật độ bọ trĩ Thrips hawaiiensis Morgan trên rau tía tô theo
giai đoạn sinh trưởng tại Phường Chi Lăng, Thành phố Lạng Sơn 44
3.8 Diễn biến mật độ bọ trĩ Thrips hawaiiensis Morgan trên rau kinh giới theo
giai đoạn sinh trưởng tại Xã Mai Pha, Thành phố Lạng Sơn 46
3.9 Thời gian phát dục của bọ trĩ Thrips hawaiiensis Morgan nuôi trên cành
rau tía tô trong phòng thí nghiệm 48
3.10 Thời gian phát dục của bọ trĩ Thrips hawaiiensis Morgan nuôi trên cành
rau kinh giới trong phòng thí nghiệm 49

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii

DANH MỤC HÌNH

STT Tên hình Trang

1.1 Cấu tạo chung từ trứng đến nhộng giả của bọ trĩ 8
1.2 Cấu tạo chung của bọ trĩ trưởng thành họ Thripidae 10
1.3 Vòng đời của bọ trĩ 11
2.1 Ghi nhãn tiêu bản mẫu bọ trĩ 24
3.1 Đặc điểm hình thái của Caliothrips sp. 35
3.2 Đặc điểm hình thái của Megalurothrips sp. 37
3.3 Đặc điểm hình thái của Scirtothrips dorsalis Hood 39
3.4 Đặc điểm hình thái của Thrips hawaiiensis Morgan 41
3.5 Đặc điểm hình thái của Haplothrips gowdeyi Franklin 42
3.6 Diễn biến mật độ bọ trĩ Thrips hawaiiensis Morgan trên rau tía tô theo
giai đoạn sinh trưởng tại Phường Chi Lăng, Thành phố Lạng Sơn 45
3.7 Diễn biến mật độ bọ trĩ Thrips hawaiiensis Morgan trên rau kinh giới
theo giai đoạn sinh trưởng tại Xã Mai Pha, Thành phố Lạng Sơn 46


Để góp phần vào việc giữ vững thị trường EU đối với xuất khẩu rau gia vị
tiềm năng, đồng thời chứng minh việc phát hiện có hay không loài bọ trĩ đối tượng
kiểm dịch thực vật của EU trên rau gia vị tại Việt Nam nói chung, Lạng Sơn nói
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

riêng, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần, đặc điểm
hình thái và sinh vật học của một số loài bọ trĩ hại rau gia vị có tiềm năng xuất
khẩu tại Lạng sơn”.
2. Mục đích và yêu cầu
2.1 Mục đích:
Trên cơ sở điều tra, xác định thành phần bọ trĩ hại rau gia vị xuất khẩu và
nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài bọ trĩ chủ yếu, bước đầu đề
xuất biện pháp phòng trừ góp phần quản lý chúng một cách hợp lý.
2.2 Yêu cầu:
- Xác định thành phần bọ trĩ hại rau gia vị có tiềm năng xuất khẩu tại địa
điểm nghiên cứu.
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái của các loài bọ trĩ hại rau gia vị xuất khẩu.
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài bọ trĩ gây hại chủ yếu
trên rau gia vị tại vùng nghiên cứu.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
EU là thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam với kim ngạch thương
mại 2 chiều là trên 29 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang EU là trên 20
tỷ USD. EU trở thành thị trường xuất khẩu số 1 của Việt Nam vượt qua Trung
Quốc, Nhật Bản và Mỹ.
Tuy nhiên, hiện nay tình hình xuất khẩu rau quả Việt Nam sang EU đang có
dấu hiệu giảm sút. Trong năm 2012, xuất khẩu rau quả tăng trưởng chậm lại do
vướng mắc các quy định về chất lượng của các nước nhập khẩu, đạt xấp xỉ 829 triệu
USD, chỉ tăng 33,4% so với năm 2011. Đặc biệt đối với thị trường EU, việc xuất
khẩu rau quả Việt Nam xuất hiện nhiều khó khăn mới do có nhiều lô hàng xuất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Khái quát tình hình sản xuất rau gia vị ở Việt Nam
Tại Việt Nam, trong ba năm 2007 – 2010, diện tích, năng suất vầ sản lượng
rau tăng dần. Năm 2007, diện tích cả nước là 706.479 ha, năng suất 15,69 tấn/ha,
sản lượng 11.084,655 tấn; năm 2008 diện tích tăng lên 722.580 ha, năng suất 15,93
tấn/ha, sản lượng 11.510,77 tấn; năm 2009, diện tích tăng lên 735.335 ha, năng suất
16,12 tấn/ha, sản lượng 11.855,067 tấn.
Rau gia vị đã được trồng từ rất lâu ở nước ta, tuy nhiên sản xuất rau gia vị
theo hướng tập trung, hàng hóa mới được phát triển ở các vùng trồng rau lớn. Ở Hà
Nội và ngoại thành có một số vùng trồng rau gia vị nổi tiếng như các xã Tây Tựu,
Minh Khai, Phú Diễn (Từ Liêm), Thanh Trì, Đông Dư (Gia Lâm), Tân Minh
(Thường Tín) từ lâu đã được coi là vùng chuyên canh rau gia vị với diện tích lớn.
Bình quân mỗi ngày các vùng trồng rau này cung cấp hàng tấn rau gia vị cho các thị
trường lớn như Hà Nội, Hà Nam, Bắc Ninh, Hòa Bình,
Xã Đông Dư, Gia Lâm là vùng trồng rau gia vị nổi tiếng với nhiều chủng loại
như: hành tỏi, mùi tàu, mùi ta, tía tô, kinh giới, bạc hà, rau răm, húng quế, húng
láng, ngổ, Từ những năm 90 của thế kỷ trước, Đông Dư đã có xu hướng quy
hoạch phát triển vùng rau gia vị theo hướng sản xuất hàng hóa. Hiện nay, cả xã có
hơn 30 ha rau gia vị với khoảng 500 hộ gia đình tham gia sản xuất, đạt giá trị lên từ
270 đến 300 triệu đồng/ha/năm. Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Đông Dư đã xây

1.1.2 Khái quát tình hình sản xuất rau gia vị ở Lạng Sơn
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lạng Sơn, toàn tỉnh có gần
5.000 ha rau, sản lượng khoảng 60.000 tấn/năm trở lên, tập trung ở các huyện Cao
Lộc, Lộc Bình, Văn Quan… Đặc biệt, trên địa bàn thành phố Lạng Sơn có 3 cơ sở
trồng rau quy mô lớn gồm hợp tác xã rau Nà Chuông, Rọ Phải, Quảng Hồng được
cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, sơ chế rau an toàn. Rau được trồng gồm
4 nhóm chính: Rau ăn lá, rau ăn quả, rau ăn củ và rau gia vị, trong đó, tập trung
nhiều nhất là nhóm rau ăn lá, chiếm khoảng 60%, sản xuất rau gia vị chiếm khoảng
20%. Tỉnh đã có những chính sách hỗ trợ về đất đai, phát triển sản xuất theo hướng
VietGAP, đào tạo, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, sơ chế, tiêu thụ rau an toàn, đồng
thời khuyến khích đầu tư sản xuất rau an toàn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả
kinh tế, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

Tính từ năm 2005 đến nay, Sở Khoa học và Công nghệ, các trạm khuyến
nông, tổ chức VECO đã xây dựng được trên 10 mô hình theo tiêu chuẩn rau an toàn
ở thành phố. Từ xây dựng các mô hình trình diễn thành công đã tạo đà cho phát
triển cây rau an toàn phát triển. Năng suất rau ở thành phố tăng từ 72,39 tạ/1ha năm
2000 lên 110 tạ/1ha vào năm 2012, trong đó rau vụ đông xuân có vùng đạt 115
tạ/1ha. Từ cây rau phát triển đã mang lại thu nhập cao cho người nông dân. Đến
nay, toàn tỉnh Lạng Sơn đã xây dựng được 19 mô hình sản xuất RAT với diện tích
gần 20 ha, gồm các loại rau như cải làn, cải bắp, cải hoa vàng, cải đắng, súp lơ
xanh, cà chua, dưa chuột, đậu…
1.1.3 Vị trí phân loại của bọ trĩ
Bọ trĩ thuộc bộ Thysanoptera, lớp côn trùng (insecta), ngành chân khớp
(Arthropoda) (CABI, 2014). Trên thế giới có hơn 5500 loài bọ trĩ thuộc 750 chi đã
được biết đến.
Theo Hà Quang Hùng và nnk (2005), những năm trước đây vị trí phân loại
của bọ trĩ dựa vào hệ thống của Priesner (1968) được trình bày ở bảng 1.1.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

Cho đến nay, vị trí phân loại của bộ cánh tơ trên thế giới đều dựa theo tài liệu
của Mound L.A (2007). Ông cho rằng Bộ cánh tơ (Thysanoptera) có 2 bộ phụ là
Tubulifera và Terebrantia. Số lượng loài và giống bọ trĩ trên thế giới được thể hiện
ở bảng 1.2.
Bảng 1.2. Vị trí phân loại của bộ cánh tơ (Thysanoptera) trên thế giới
Bộ phụ Họ Họ phụ
Số lượng
giống
Số lượng
loài
Terebrantia Merothripidae 3 15
Melanthripidae 4 65
Aeolothripidae 23 190
Fauriellidae 4 5
Adiheterothripidae 3 6
Heterothripidae 4 70
Thripidae Panchaetothripinae 35 125
Dendrothripinae 10 90
Sericothripinae 10 90
Thripinae 235 1800
Uzelothripidae 1 1
Tubulifera Phlaeothripidae Phlaeothripinae 350 2700
Idolothripinae 80 700
(Nguồn tài liệu: Mound L.A, 2007)
1.1.4 Đặc điểm chung của bọ trĩ
1.1.4.1 Cấu tạo chung của bọ trĩ
Cấu tạo chung của trứng, bọ trĩ non các tuổi, tiền nhộng và nhộng giả của bọ

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

chân trước. Phần phụ miệng của bọ trĩ là kiểu dũa hút không đối xứng cho nên bọ
trĩ gây hại để lại triệu chứng cho cây trồng. Phần miệng ở dưới có một hàm trên bên
trái phát triển đầy đủ và gần như thẳng còn hàm trên bên phải thoái hoá hoàn toàn,
hai hàm dưới rất phát triển, có môi trên và môi dưới.
Cả hai gai hàm trên có bờ và đường rãnh lắp vào nhau để tạo thành dạng ống
hút có lỗ mở ở phần cuối. Hàm dưới dạng môi có thể di chuyển được một cách tự
do. Mảnh sau cằm và trước cằm của môi dưới nối với nhau ở giữa. Đỉnh của miệng
được che phủ bởi mảnh bên lưỡi. Mỗi mảnh bên của lưỡi có 3 dạng hình tạo bởi 9-
10 tế bào cảm giúp bọ trĩ ngửi hoặc nếm được thức ăn. Hàm trên bên trái khoẻ được
sử dụng để tạo thành lỗ chích ban đầu trong mô cây nhờ cử động lên xuống của đầu.
Sau đó các gai hàm chia đôi đẩy mạnh vào trong cơ chất, các đường rãnh ở trong
của cả hai bên tạo thành các rãnh nhỏ dẫn thức ăn.
Ngực trước: do đầu và ngực trước thường có cùng một chức năng cho nên có
một khớp đặc biệt nối giữa các đốt ngực với ngực trước. Chân trước nối với đốt
ngực trước tạo điều kiện cho sự di động lên xuống của một vùng liên hợp đốt ngực
trước và đầu khi ăn.
Đốt ngực giữa và sau: ở loài có cánh đốt ngực giữa và sau rộng mang đôi
cánh. Nhờ đặc điểm này, đốt ngực giữa và sau có gai xương và màng ở trên có thể
di động được, nhưng các tấm nối ở phần dưới và bên cứng. Gốc của cánh có thể di
động. Trái ngược lại, các tấm bụng mở rộng. Nhờ đó mà bộ xương ngoài của lưng
ngực giữa và sau thích nghi rất tốt với khả năng bay.
Mảnh gốc của đốt ngực giữa và sau tạo thành tấm cứng nối với các cơ để bay.
Vị trí đốt háng ở ngực giữa và sau, đôi khi cuốn vào giữa cơ thể, điều này làm cho
chân sau có thể đẩy về phía trước, làm cho nhiều loài bọ trĩ có thể nhảy rất tốt.
Cả 4 cánh thường dài và thon có lông tơ ở mép cánh. Một số loài cánh có vân,
một số loài lại không có vân, một số loài cánh có sắc tố sáng và một số loài thì có
màu không rõ ràng. Chiều dài của cánh tỷ lệ với cơ thể thường thay đổi giữa các

Theo Hà Quang Hùng và nnk (2005), vòng đời của bọ trĩ có 6 giai đoạn phát
triển

Hình 1.3 Vòng đời của bọ trĩ
(Nguồn tài liệu: Mound L.A, 2007)
- Trứng (2-4 ngày)
- Bọ trĩ non tuổi 1 (1-2 ngày)
- Bọ trĩ non tuổi 2 (2-3 ngày)
- Tiền nhộng (1-2 ngày)
- Nhộng giả (1-3 ngày)
- Trưởng thành (có thể sống đến 45 ngày)
1.2 Một số kết quả nghiên cứu về bọ trĩ ở trong và ngoài nước
1.2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1.1 Những nghiên cứu về thành phần loài bọ trĩ
Tại Ấn Độ (Hà Quang Hùng và nnk, 2005), nhiều công trình nghiên cứu chỉ
rõ có tới 82 loài bọ trĩ chủ yếu gây hại trên 76 loại cây trồng khác nhau. Các nhà
khoa học đã phát hiện bọ trĩ Thrips flavus có mặt và gây hại trên 70 loại cây trồng
thuộc 26 họ thực vật khác nhau.
Tại khu vực Đông Nam châu Á bọ trĩ đã trở thành sâu hại nguy hiểm trên rau,
các cây trồng khác. Những loài bọ trĩ phổ biến phân bố rộng bao gồm Thrips palmi
Karny hại trên dưa chuột, ớt, cà chua, năm 1977 Philippines công bố vụ dịch Thrips
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

palmi trên dưa hấu, 1981 Wanjboonkong nêu rõ Thrips palmi trở thành sâu hại trên
cây bông ở Thái Lan. Scitothrips dorsalis, Thrips parvispinus, Thrips tabaci,
Haplothrips floricola và Thrips flavus là những loại bọ trĩ chính hại rau ở Thái Lan…
Maria Polozniak và Anna Sobolewska (2011) cho biết ở Phần Lan, trong cuộc
điều tra thành phần bọ trĩ trên các loại cây thảo mộc ở Vườn thảo mộc – Khoa Nông
học – Trường Nông nghiệp Cracow từ năm 2004 đến năm 2006 và ở Vườn thực vật

Frankliniella occidentalis, Frankliniella intonsa, Thrips tabaci, Thrips setosus,
Thrips palmi và Thrips hawaiiensis, do chúng có khả năng tích lũy protein N của
TSWV trong cơ thể.
1.2.1.3 Những nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sinh thái học của bọ trĩ
Khi nghiên cứu về đặc tính sinh học của bọ trĩ, Bournier (1987), cho biết bọ
trĩ đẻ trứng từng quả một dưới lớp biểu bì cây hoặc dưới bề mặt cây và được trộng
với chất dịch nhầy bao phủ thành lớp màng đệm bảo vệ.
Nghiên cứu về Thrips palmi của Wang (1989), một con cái trung bình đẻ 79
quả trứng/ngày và trong suốt một đời nó có thể đẻ từ 3-114 quả khi không có giao
phối và đẻ từ 3-204 quả khi có giao phối.
Vòng đời của bọ trĩ Thrips palmi là 11 ngày ở nhiệt độ 30
0
C và 26 ngày ở
nhiệt độ 17
0
C. Sự hóa nhộng xảy ra trong đất hoặc trong tàn dư thực vật. Trứng có
màu trắng vàng và nở sau 3 ngày. Sâu non tuổi 1 đẫy sức khoảng 3 ngày sau khi
trứng nở, chui xuống đất và nằm yên ở đó 1 - 2 ngày trước khi hóa nhộng. Giai đoạn
nhộng kéo dài khoảng 3 ngày. Thrips palmi là loài lưỡng tính, cá thể cái có thể sinh
sản có hoặc không giao phối, (Martin và Mau, 1992). Theo Martin và các cộng sự,
(1992); Lipa (1999), vòng đời của Thrips palmi kéo dài từ 17 - 27 ngày ở nhiệt độ
19 - 22°C. Theo Wang (1989) cho biết một số chỉ tiêu sinh học của loài Thrips palmi
như sau: thời gian trước đẻ trứng là 1 - 3 ngày. Bọ trĩ có xu hướng đẻ nhiều trong thời
gian 9 - 16 giờ trong ngày.
Nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện khí hậu, thời tiết tới sự phát sinh và
phát triển của bọ trĩ, Mound (1997) cho biết, loài Thrips tabaci thường ít thấy trong
điều kiện nhiệt đới ẩm, nhưng khá phổ biến trong những vùng khô ấm, ngược lại
Thrips palmi rất phổ biến ở những vùng ấm, ẩm.
Theo Mau và Matin (1992), và Chang (1987), quần thể bọ trĩ đạt cao nhất trong
các tháng mùa xuân và mùa hè, giảm vào mùa mưa và mùa đông. Biến động số lượng

Bọ trĩ ăn trên bề mặt mô lá, vì thế các thuốc tiếp xúc, vị độc tỏ ra có hiệu quả hơn
các loại thuốc nội hấp (Kuepper, 2001).
b) Biện pháp cơ giới
Theo Kuepper (2001), việc bố trí thời vụ hợp lý giúp ngăn cản sự di chuyển
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

của bọ trĩ từ cây ký chủ phụ sang cây trồng chính và có thể hạn chế sự phát triển
mạnh của chúng. Mật độ bọ trĩ thường cao nhất vào mùa khô, nên cây thiếu nước
thường bị bọ trĩ nặng hơn, do đó tưới nước hợp lý cũng là một biện pháp phòng trừ
bọ trĩ. Việc tiêu huỷ cỏ dại ở trên đồng ruộng và xung quanh bờ có thể làm giảm
mật độ bọ trĩ vì đây là những chỗ qua đông và tái xâm nhiễm của bọ trĩ.
Thực tế là bọ trĩ có đặc tính dễ bị hấp dẫn bởi màu sắc, người ta đã đề xuất
sử dụng những tấm thảm màu trong phòng trừ bọ trĩ. Sử dụng tấm nhựa có khả năng
hấp thu bước sóng ánh sáng < 400nm làm vật liệu che phủ nhà kính, đã làm giảm
30% mật độ Thrips palmi so với nhà được che bằng tấm nhựa thường và giảm 20%
tỷ lệ ớt ngọt bị hại so với thông thường. Các loại bẫy dính màu trắng, bẫy chậu
nước màu trắng, các băng dính màu xanh dương cũng được sử dụng để thu bắt bọ
trĩ (Chu, 1987).
Các loại màng bằng chất dẻo có khả năng hấp thụ tia cực tím được sử dụng
để làm các đường bờ trong ruộng có khả năng bảo vệ cây trồng chống lại bọ trĩ
Frankliniella occidentalis, Frankliniella intonsa, bọ phấn trắng hại khoai lang và
rệp bông cũng như các loại bệnh do chúng truyền (Antignus et al., 1996).
c) Biện pháp sinh học
Các loài ong kí sinh được biết đến nhiều nhất thuộc các họ: 2 họ ong kí sinh
là Eulophidae và Trichogrammatidae đã được nhân nuôi và đưa ra sản xuất như
những sản phẩm thương mại đặc dụng trong phòng trừ bọ trĩ trong nhà kính
(Hoodle, 2000). Ong kí sinh Ceranisus menes (Hymenoptera: Eulophidae), được
Murai và Loomans, (2001), đánh giá là tác nhân sinh học mang lại hiệu quả phòng
trừ cao với các loài bọ trĩ: F. intonsa, F. occidentalis, T. palmi và T. tabaci.

Theo kết quả điều tra của Ngô Quỳnh Hoa (2007), thành phần bọ trĩ hại lạc
tại Gia Lâm - Hà Nội và Mê Linh - Vĩnh Phúc trên lạc vụ xuân 2007 gồm 7 loài:
Scirtothrips dorsalis Hood, Franklinilla intonsa Trybom, Thrips palmi Karny,
Thrips tabaci Lindeman, Megalurothrips sp., Thrips hawaiiensis Morgan,
Haplothrips sp. Trong đó, phổ biến nhất là hai loài Thrips palmi Karny và Thrips
tabaci Lindeman.
Theo Nguyễn Thị Minh Hằng (2007) lại cho biết thành phần bọ trĩ hại hoa
cúc xuất nhập khẩu tại Hà Nội gồm 5 loài phổ biến: Thrips palmi Karny, Thrips
hawaiiensis Morgan, Frankliniella occidentalis Pergande, Frankliniella intonsa
Trybom và Scirtothrips dorsalis Hood. Còn ở hoa hồng thì gồm 3 loài: Thrips
hawaiiensis Morgan, Frankliniella intonsa Trybom và Scirtothrips dorsalis Hood.
Trong đó loài Frankliniella intonsa Trybom là phổ biến nhất với mức độ xuất hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status