đặc điểm sinh vật học của một số loài cá nuôi - Pdf 24

CHƯƠNG I
ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC CHỦ YẾU MỘT SỐ LOÀI CÁ NUÔI
1. CÁ CHÉP (Cyprinus carpio Linnaeus)
1.1. Vị trí phân loại
Cá chép tuy có nhiều dạng hình khác nhau, song chỉ có một loài duy nhất chúng
thuộc bộ cá chép.
Bộ cá chép: Cypriniformes
Họ cá chép: Cyprinidae
Giống cá chép: Cyprinus
Nhiều tác giả cho rằng trong giống cá chép Cyprinus có ba loài phụ đang phát
triển mạnh trên thế giới và ở nước ta.
• Cá chép vẩy: Cyprinus carpio linnẹ đây là loài cá nuôi phổ biến ở nước ta,
thân bao phủ một lớp vẩy đều đặn, chịu đựng rét cao, ở vùng Bắc Liên Xô
nhiệt độ có lúc xuống không độ nó vẫn sống được vài ngày (hình 1).
• Cá chép kính: Cyprinus curpeospecularis. Cá chép kính có bộ vẩy không
hoàn chỉnh, thường mỗi bên hông chỉ có ba hàng vẩy, vẩy mọc tập trung ở
đường bên. Vẩy to, nhỏ không đều, hàng giữa thường có vẩy rất to xếp
không có thứ tự, thân ngắn, lưng cao do đó có nhiều thịt.
• Cá chép trần: Cyprinus carpionudus, có nơi còn gọi là cá chép da vì thân
hoàn toàn không có vẩy bao bọc hoặc chỉ có rất ít và mọc lưa thưa.
1.2. Sự phân bố và đặc điểm hình thái cấu tạo
• Phân bố
Cá chép được phân bố rất rộng, gặp ở hầu hết các nước trên thế giới, tính thích
nghi caọ Cá chép được coi là loài cá nuôi ở ao hồ nước ngọt lâu đời nhất trên thế giớị
Cá chép ở nước ta phân bố tự nhiên không qua các tỉnh miền Trung. Nam bộ
không có cá chép gốc địa phương mà là cá nhập nội từ miền Bắc vàọ Cá chép sống được
ở hầu hết các thủy vực nước ngọt như ao, hồ, đầm, ruộng, sông, suối ở tầng giữa và đáỵ
Giới hạn nhiệt độ rộng từ 0 – 40
0
C, nhiệt độ thích hợp 20 – 27
0

• Chép trần: nói chung toàn thân không có vẩy, nếu có chỉ có một hàng vẩy
nhỏ trên lưng. ở nước ta không thấy có loại cá này.
1.3. Đặc điểm sinh sản
• Tuổi thành thục và cỡ cá thành thục
Tuổi thành thục và cỡ cá thành thục của cá chép cũng như các loài cá nuôi khác
phụ thuộc vào vĩ độ, vào chế độ dinh dưỡng. Cá chép Hungari, cá chép Nhật bản nuôi ở
Việt Nam thành thục sau một năm tuổị Cá chép Việt Nam sau một năm đã thành thục
tuyến sinh dục. Cá chép Bắc Á, Châu Âu thường 4 - 5 tuổi mới thành thục.
Cá chép Việt Nam thường trên dưới 200 gam đã phát dục thành thục lần đầu tiên.
Cá biệt có con còn nhỏ hơn đã thấy phát dục thành thục. Nhìn chung cá chép Hung vẩy
nuôi ở Việt Nam có cỡ cá thành thục lớn hơn cá chép Việt Nam và cá chép Nhật Bản.
• Sức sinh sản và sự nở của trứng
Sức sinh sản của cá chép phụ thuộc vào tuổi cá và cỡ cá, phụ thuộc vào chế độ
nuôi dưỡng. Cá chép nuôi ở nước ta lượng chứa trứng tăng nhanh vào lứa tuổi thứ 3 đến
5 tuổi và sau đó tăng không đáng kể (bảng 1).
Ở đồng bằng bắc bộ và miền núi phía Bắc, trong điều kiện ương nuôi thông
thường, trứng cá chép thường nở sau 3 ngày, có khi đến 4 - 5 ngàỵ Nhiệt độ thích hợp
nhất cho sự nở của trứng là 22 – 25
0
C.
Bảng 1: Mối quan hệ giữa kích thước, tuổi cá chép với lượng chứa trứng
Tuổi Chiều dài thân cá
(cm)
Khối lượng cá
(kg)
Tổng số trứng
1 17 – 20 0,2 – 0,28 46.000
2 23 – 26 0,4 – 0,55 53.000
3 35 – 41 0,9 – 1,2 163.000
4 51 – 56 1,8 – 2,7 1.000.000 – 1.300.000

chuyển sang sống đáy, cá ăn sinh vật đáy là chính.
• Cá trưởng thành
Cá ăn sinh vật đáy là chủ yếu như giun nước, ấu trùng, côn trùng, mùn bã hưu cơ,
mầm non thực vật, các loại thức ăn nhân công như cám gạo, bột mì, bã đậu, khô dầu….
1.5. Đặc diểm sinh trưởng của cá chép
Tốc độ sinh trưởng của cá chép phụ thuộc vào chế độ thức ăn của vùng nước. Kết
quả khảo sát tốc độ sinh trưởng của cá chép ở Hồ Tây - Hà Nội từ năm 1965 - 1966 của
Trạm nghiên cứu cá Đình Bảng (bảng 2).
Bảng 2: Sinh trưởng của cá chép ở Hồ Tây Hà Nội (1965 - 1966)
Tuổi Chiều dài thân (cm) Khối lượng (g)
1 17,1 – 20,1 207 – 278
2 23,0 – 26,0 405 – 550
3 35,0 – 41,0 900 – 1200
Tốc độ sinh trưởng của cá chép trong các ao nuôi cá thịt (bảng 3).
ảng 3: Tốc độ sinh trưởng của cá chép qua các năm
Tuổi Khối lượng (g)
1 300 – 500
2 700 – 1000
3 1000 – 1500
1.6. Sự phát triển của phôi cá chép
• Cấu tạo trứng cá chép
Trứng cá chép có cấu tạo hai loại màng: màng sơ cấp và màng thứ cấp. Khi trứng
rơi vào nước màng thứ cấp trương lên, có độ dính. Màng thứ cấp thích nghi với tính bám
của trứng vào giá thể, ngoài ra còn có tính chất bảo vệ. Trong màng sơ cấp có sắc tố thở
carotinoid, noãn hoàng cá chép nhiều. Tất cả các đặc điểm trên đều biểu hiện tính thích
nghi của loài.
• Quá trình phát triển phôi
- Thời kỳ tiền phôi: tính từ khi trứng được thụ tinh, phân cắt trứng đến khi cá nở
được 2 - 3 ngày.
- Thời kỳ hậu phôi: theo Vac Nhe Xốp năm 1957 chia ra làm 7 giai đoạn:

- Yếu tố nhiệt độ
Nhiệt độ của nước ảnh hưởng rất lớn đến qúa trình phát triển phôi. Quan hệ giữa
nhiệt độ nước với thời gian nở của trứng cá chép (bảng 4).
Theo AM.orutjep, với cá chép nhiệt độ thích ứng từ 18
0
C – 23
0
C, tỷ lệ thụ tinh đạt
61,5 - 75,6%, ở nhiệt độ 24 – 25
0
C đạt 40,8%, ở nhiệt độ 26 – 28
0
C đạt 9,04%. ở nhiệt độ
16 – 17
0
C tỷ lệ thụ tinh chỉ đạt 7,8 - 8,0%.
- Ánh sáng
Ánh sáng có liên quan trực tiếp đến nhiệt độ của nước. Nhìn chung ánh sáng trắng
dịu thích hợp với sự phát triển của phôi cá chép.
Bảng 4: Nhiệt độ và thời gian nở của phôi
0
(C) Thời gian nở của trứng (h)
Nhiệt độ nước
18 - 20 96 - 84
20 - 22 84 - 72
22 - 24 72 - 60
24 - 27 60 - 52h
Nhiệt độ thích hợp nhất cho phôi cá chép phát triển từ 22
0
C – 25

83 94
11 - 12
Công thức răng hầu 1 hàng 4 - 4.
Lược mang rất dài, xếp thành hàng mỏng (dạng hải miên) phần gốc có nhiều lỗ nhỏ.
Thân có 38 – 40 đốt sống, bóng hơi to, có 2 ngăn, ruột dài, cuộn khúc nhiều lần.
Thân cá màu trắng, phần lưng có màu sẫm, bụng màu trắng bạc.
Khi cá trưởng thành, trên mặt tia vây ngực của cá đực có nhiều khía răng cưa, sờ
tay vào thấy ráp, sắc, còn ở cá cái trơn nhẵn.
• Phân bố
Cá mè trắng là loài cá phổ biến ở sông ngòi miền Bắc nước ta có nhiều ở lưu vực
sông Hồng, sông Thái Bình và còn phát hiện thấy ở sông Mã, sông Lam. Đây là loài cá
điển hình ở đồng bằng miền Bắc nước ta.
2.3. Đặc điểm sinh sản
• Tuổi và kích thước phát dục
Cá mè trắng ở sông Hồng phần lớn thành thục tuyến sinh dục khi cá đạt tuổi 3
+
,
một số ít tuổi 2
+
: kích thước cá phát dục nhỏ nhất ở cá đực đạt 32,5 cm, khối lượng 75 g,
còn ở cá cái dài 37,3 cm, khối lượng 105 g.
Cá mè trắng Việt Nam nuôi trong ao, cá cái thành thục sinh dục ở 3
+
tuổi, dài 47
cm, khối lượng 2300g, cá đực 2
+
tuổi dài 40cm, khối lượng 2000g. ở sông Cà Lồ cá mè
trắng Việt Nam thành thục tuyến sinh dục khi cá đực dài 52cm, nặng 2500g, cá cái dài
53cm, cân nặng 2800g.


thúc vào hạ tuần tháng 6, một số năm kéo dài tới đầu tháng 7, cá đẻ tập trung nhất vào
15/05 đến 15/06.
Trong sinh sản nhân tạo cá mè trắng cho đẻ sớm hơn ở ngoài tự nhiên. Mùa vụ đẻ
tốt nhất vào trung tuần tháng 4 đến trung tuần tháng 5, một số nơi tháng 6 cho cá mè
trắng đẻ vẫn cho kết quả tốt.
b) Điều kiện sinh sản
Cá mè trắng thường đẻ ở vùng trung lưu các con sông như sông Thao (Phú Thọ,
Yên Bái); sông Đào (vùng Hòa Bình, Nghĩa Lộ) nơi giao lưu giữa sông và ngòi hoặc
dòng sông hẹp đột ngột hoặc đoạn sông quanh co uốn khúc, độ sâu thường từ 7 - 12m,
đáy sỏi cát, độ dốc 2 bờ 45 – 85
0
, độ dốc lòng sông 1 – 65
0
. Lưu tốc nước dao động từ 0,8
- 1,3 m/s, nước dâng cao, chảy quẩn là điều kiện rất quan trọng.
Nhiệt độ nước dao động từ 22 – 30
0
C thích hợp nhất từ 24 – 28
0
C.
Độ pH từ 7,0 - 7,5, hàm lượng ôxy từ 5 - 7 mg/l, độ trong của nước từ 6 - 12 cm.
Cá mè trắng đẻ nhiều đợt trong mùa, trứng trôi nổi về xuôi và nở dần thành cá bột.
2.4. Đặc điểm dinh dưỡng
- Tính ăn của cá mè trắng chưa trưởng thành. Sau khi nở được 3 - 4 ngày chiều dài
cơ thể từ 6 - 7 mm, thức ăn chủ yếu là động vật phù du cỡ nhỏ như luân trùng, chi giác và
ấu trùng không đốt của chúng. Sau 5 - 6 ngày lược mang bắt đầu xuất hiện có ăn thêm
thực vật phù du, khi cá đạt 3 - 4 cm cá chuyển sang ăn thực vật phù du là chủ yếu.
- Tính ăn của cá trưởng thành: cá mè trắng ăn thực vật phù du là chính, cộng thêm
một ít động vật phù du. Phân tích thành phần thức ăn trong ruột cá mè trắng cho thấy:
TVPD 60 - 70%


Hình 3: Cá Mè Trắng Hoa Nam
• Phân bố
Cá mè trắng Hoa Nam là loại cá đặc trưng của khu hệ cá đồng bằng Trung Quốc,
phân bố chủ yếu ở khu vực sông Trường Giang, sông Châu Giang, sông Tây Giang và
Hắc Long Giang.
Miền Bắc nước ta nhập nội cá này từ năm 1964, đã cho đẻ thành công là đối tượng
nuôi rộng rãi ở các ao hồ của Việt Nam hiện nay.
3.3. Đặc điểm sinh sản
• Tuổi thành thục và kích thước cá thành thục:
Cá mè trắng Hoa Nam ở Quảng Tây thành thục 2 - 3 tuổi, ở Hắc Long Giang từ 5 -
6 tuổị Kích thước thành thục nhỏ nhất ở Quảng Đông dài 20 cm, nặng 325 gam. ở miền
Bắc Việt Nam thành thục ở 2 tuổi.
• Chu kỳ phát dục của tuyến sinh dục
Vào mùa đông, tuyến sinh dục phần nhiều ở giai đoạn II và III (tháng 9 đến tháng
12) hệ số thành thục từ 1 - 4%. Cá biệt có những con cá lớn tuổi nuôi vỗ tốt tuyến sinh dục
ở giai đoạn III thậm trí đến đầu giai đoạn IV. Hệ số thành thục 5 - 7%. Sang mùa xuân
tháng 2 - 3, nhiệt độ nước ấm dần, tuyến sinh dục chuyển sang giai đoạn cuối của thời kỳ
sinh trưởng. Tốc độ phát dục nhanh, buồng trứng phần lớn lúc này ở giai đoạn 4a, 4b hệ số
thành thục 19 - 20%. Mùa vụ đẻ trứng của cá mè trắng Hoa Nam vào hạ tuần tháng 4 đến
cuối tháng 5, có thể kéo dài sang đầu tháng 6. Sang tháng 9 hệ số thành thục giảm đột ngột
từ 3 - 10% và đến tháng 10 tháng 11 hoàn thành quá trình hấp thụ.
Buồng tinh của cá đực phát triển sớm hơn của cá cái thường mùa đông tinh trùng
đã tới giai đoạn IV, nhưng mãi tới tháng 3 năm sau mới đạt giai đoạn V.
• Sức sinh sản
Cá mè trắng Hoa Nam sức sinh sản tuyệt đối biến thiên từ 1.722.000 - 1.925.000
trứng và tương đối từ 76 - 177 trứng. Sức sinh sản của cá mè trắng Hoa Nam ở miền Bắc
nước ta biến thiên từ 1.200.000 - 1.500.000 trứng, tương đối từ 129 - 180 trứng.
• Mùa vụ và điều kiện sinh thái sinh sản
Thời gian đẻ trứng từ tháng 4 đến tháng 6, tập trung nhất từ trung tuần tháng 4 đến

thục vận động ngắn phụ thuộc chất nước, loài cá, phụ thuộc vào nhiệt độ nước. Nếu nhiệt
độ nước tăng, tinh trùng vận động nhanh, tuổi thọ giảm.
• Thời kỳ thụ tinh
Trứng mới rơi vào nước ( = 1,3 - 1,5 mm, tinh trùng chui vào trứng khi trứng đang
phân chia giảm nhiễm lần thứ hai, tinh trùng chui vào màng sơ cấp, màng trương lên -
màng thụ tinh. ( = 5,5 mm. Nguyên sinh chất tập trung về cực động vật sau 25 phút ở nhiệt
độ 28,5(C - 29,5(C đĩa phôi xuất hiện. Sau 40 phút màng thụ tinh lớn nhất. Hạch tế bào
trứng và hạch tinh trùng kết hợp với nhau sau khi tinh trùng chui vào 20 phút.
• Thời kỳ phân cắt trứng
- Sau 35 phút phân cắt lần 1 2 tế bào
- Sau 46 phút phân cắt lần 2 4 tế bào
- Sau 54 phút phân cắt lần 3 8 tế bào
- Sau 64 phút phân cắt lần 4 16 tế bào
- Sau 1 giờ 20 phút phân cắt lần 5 32 tế bào
- Sau 1 giờ 35 phút phân cắt lần 6 64 tế bào
Từ lần thứ 7 trở đi phân cắt không theo quy tắc, tiếp tục phân cắt cho khối đa bào.
• Thời kỳ phôi nang
Phôi nang dạng đĩa: chia thành 3 giai đoạn: phôi nang cao, thấp, muộn. Sau 2h 20(
phôi nang cao; sau 3h30( phôi nang thấp, tầng phôi nang bọc xuống eo cắt không rõ, phôi
nang muộn: phôi nang và noãn hoàng gần tròn.
• Thời kỳ phôi vị
- Thời kỳ đầu phôi vị: sau 3h55p bắt đầu có nhẫn phôi và có phôi thuẫn, tầng phôi
nang bọc xuống từ 1/5 - 1/2 trứng.
- Thời kỳ giữa phôi vị: sau 3h55p bắt đầu có nhẫn phôi, sau 4h15p tầng phôi nang
bọc 2/3 trứng, phôi thuẫn kéo dài như cái lưỡi.
- Thời kỳ cuối phôi vị: tầng phôi bọc xuống 4/5 tế bào trứng, phôi thuẫn đất dài.
• Thời kỳ phôi không khép kín và phôi thần kinh
Đầu phôi thuẫn hơi nhô to, trước hơi gập xuống, dọc theo phôi thuẫn xuất hiện
tấm thần kinh. Tấm thần kinh trước dày, hẹp - sau mỏng - tấm thần kinh lộn xuống tạo
thành rãnh thần kinh.


- Sau 7 ngày: cơ thể dài khoảng 12 - 13,5 mm, vây đuôi bắt đầu phân nhánh, vây
lưng và vây hậu môn bắt đầu có tia vây chất xương, bong bóng có 2 ngăn.
- Sau 10 ngày: cơ thể dài khoảng 18 mm, lược mang có 54 - 59 cái ruột gấp khúc.
- Sau 13 ngày: cơ thể dài khoảng 24 mm, các vây đã giống cá trưởng thành, lược
mang 105 - 129 cái.
- Sau 17 ngày: cá dài 27 mm, cá đủ vây, giống cá trưởng thành.
C- điều kiện sinh thái cho phôi phát triển
Nắm vững điều kiện sinh thái cho phôi phát triển, nhằm tạo điều kiện thích hợp
cho trứng nở là một trong những biện pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất cá bột.
• ôxy
ở các giai đoạn phát triển của phôi thai khác nhau, yêu cầu lượng tiêu hao ôxy
cũng khác nhau, lượng tiêu hao ôxy nhiều nhất là trước và sau khi nở 3 ngày, sau đó giảm
dần (xem bảng 6, 7, 8).
Bảng 6: Lượng tiêu hao ôxy của phôi cá mè trắng ở 25 – 27
o
C

Phôi
nang

Phôi
vị
Xuất
hiện
mầm
đuôi

Tim
đập


0,846

0,653

0,903

1,6

3,14

3,983
mg O
2
/ gam
trứng/ giờ

0,223

0,225

0,46

0,59

0,597

0,6

0,82


o
C23
o
7C 17
o
C
Bảng 8: Ngưỡng ôxy của cá ở các thời kỳ khác nhau
Thời kỳ
phát triển
Ngưỡng ôxy

Thời kỳ phôi

Thời kỳ cá
giống (11,7 cm )
Cá trưởng thành
(10 – 50 cm )
mgO
2
/l 1,6 0,79 0,3 – 0,4
Thời kỳ nở nếu trong điều kiện ôxy tự do phải mất hết 8 - 10 giờ mới nở hết, nếu
ôxy giảm đến gần ngưỡng chỉ sau 20 phút nở xong hết.
• Nhiệt độ
Phản ứng của phôi cá đối với nhiệt độ đã phản ánh khá rõ tính thích nghi với điều
kiện nhiệt độ của loài cá trong quá trình phát triển của cá thể. Trong quá trình phát triển
của phôi chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhiệt độ, nhiệt độ nước cao thì quá trình ấp nở
nhanh, nhiệt độ nước thấp thì ngược lại. Thí dụ ở nhiệt độ nước 18
o
C cá mè trắng ấp nở
mất 61 giờ, nhưng ở 28

o
C. ương ấp cá ở nhiệt độ thích hợp nhất sẽ thu được hiệu suất cao và cá
bột có chất lượng tốt.
Tổng nhiệt độ cho sự phát dục của phôi cá mè là 600 - 700
o
C/h cá trắm cỏ là 650 -
700
o
C/h.
• Ánh sáng
Ánh sáng và màu sắc của ánh sáng có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát dục của
phôi cá mè trắng. ánh sáng vàng nhạt và trắng có ảnh hưởng tốt hơn so với ánh sáng tự
nhiên. ánh sáng màu sẫm (xanh lá cây, xanh lam, đỏ) có ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ nở của
phôi.
Theo tài liệu của Học viện thủy sản Thượng Hải (Trung Quốc) cho biết ảnh hưởng
của bóng tối liên tục đối với sự phát triển của phôi cá mè trắng; Thí nghiệm lần 1: sau khi
xuất hiện mầm đuôi thì phôi ngừng phát dục rồi chết. Thí nghiệm lần 2: có 45% phôi đến
thời kỳ chuyển động được thì ngừng phát triển, 15% phôi tuy nở nhưng tỷ lệ dị hình cao
và có con sau khi ra khỏi màng trứng 1 giờ cũng chết dần.
• pH
Sự thích ứng của cá với nồng độ H+ nhìn chung từ 6,7 – 8,6.
Nếu môi trường axít, ion H+ thâm nhập vào mang cá và gây ra sự tụ huyết ở các
mô dẫn đến cá chết, mặt khác nếu tác dụng của kiềm mạnh làm cho chất thải ra ở mang
bị ngưng kết, gây cản trở đến hô hấp của cá, cá bị chết.
• Địch hại
Chủ yếu: Chi giác, Cyclop, Dapnhia, nòng nọc Trong đó Thermocyclops
orthonoides là địch hại rất nguy hiểm đối với phôi và cá bột mè trắng. Mức độ làm hại tỷ
lệ thuận với thời gian tiếp xúc và mật độ của Thermocyclops (bảng 9)
Loài : Aristichthys nobilis (Richarson,1844)
4.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo và phân bố
• Hình thái cấu tạo
Cá mè hoa có hình thái cấu tạo như sau:
Số tia vây lưng III,7, vây ngực I,17 - 19, vây bụng I,8, vây hậu môn III,12 - 13.
Số vẩy đường bên
25 - 27
95 105
19 – 20
Răng hầu một hàng 4 - 4, mặt răng dẹt, trơn láng.
Lược mang dài, xếp dày nhưng không liền nhau
Toàn thân có 37 - 38 đốt sống, phần lưng thân màu xanh thẫm, có nhiều đốm xanh
đen rải rác khắp thân nên gọi là cá mè đen hay mè hoa
Phân biệt đực cái: khi trưởng thành ở cá đực trên mặt tia vây ngực có những khía
răng cưa nhỏ, ráp sắc, còn ở cá cái hoàn toàn trơn nhẵn.
• Phân bố
Cá mè hoa là một trong các loài cá điển hình ở khu hệ cá vùng đồng bằng Trung
Quốc. Năm 1958 được đưa vào thuần hóa ở Việt Nam. Hiện nay cá mè hoa là một trong
những đối tượng nuôi chủ yếu ở các hồ chứa nước của nước ta.
4.3. Đặc điểm sinh sản
• Tuổi và kích thước phát dục
Cá mè hoa tuổi thành thục tuyến sinh dục ở cá đực 2 tuổi thân dài 53 cm, nặng 2,5
kg, cá cái 3
+
tuổi, thân dài 60 cm, nặng 3,6 kg.
Trong điều kiện ao nuôi ở miền Bắc nước ta, cá mè hoa nuôi tốt sau 2 tuổi đã tham
gia sinh sản. Cá biệt ở cá đực 1 tuổi đã có tinh dịch.
• Chu kỳ phát dục và tuyến sinh dục
Đặc điểm phát dục của cá mè hoa căn bản giống cá mè trắng. Vào mùa đông
tháng 9 đến tháng 12, tuyến sinh dục ở giai đoạn II, III, hệ số thành thục ở cá cái thường

độ trong nước 6 - 15 cm, nhiệt độ từ 20 - 30
o
C thích hợp 24 - 25
o
C, pH 7 - 8, ôxy hòa tan
từ 5 - 8 mg/l.
4.4. Đặc điểm dinh dưỡng
Thức ăn của cá mè hoa bột chủ yếu là động vật phù du. Ngoài thức ăn tự nhiên, cá
bột mè hoa còn sử dụng thức ăn nhân tạo.
Cá mè hoa ở giai đoạn trưởng thành ăn động vật phù du là chính cộng thêm với
một phần thực vật phù du.
Phân tích thành phần thức ăn tự nhiên trong ruột cá được thể hiện như sau:
ĐVPD 55 - 60%
TVPD 30 - 40%
Chất vẩn 5%
Động vật phù du bao gồm: Bosmira, Bosminosis, Mesocyclops, Cladocera,
Keratella ngoài ra còn thấy tảo lục, tảo lam, tảo Silic và tảo giáp cũng chiếm số lượng
đáng kể.
5. Cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus Cuvier & Valencienes, 1844)
5.1. Vị trí phân loại
Bộ cá Chép : Cypriniformes
Họ cá Chép : Cyprinidae
Giống cá Trắm Cỏ : Ctenopharyngodon
Loài cá Trắm Cỏ: Ctenopharyngodon idellus (Cuvier & Valencienes, 1844)
5.2. Hình thái cấu tạo và phân bố
• Hình thái cấu tạo
Số tia vây lưng 3,7; vây hậu môn 3,8; vây ngực 1,14; vây bụng 1,8; vẩy đường bên
7 - 8
41 45
5 - 6 - V

thuộc vào kích thước khá rõ.
Trong sinh sản nhân tạo sức đẻ trứng cao nhất 103 và trung bình 47 - 67 trứng/g
khối lượng cá, 1 kg cá trắm cỏ thu 60.000 - 80.000 cá bột.
• Mùa vụ và điều kiện sinh thái sinh sản
Cá trắm cỏ ở sông Hồng tháng 5 - 6 đã thấy đẻ trứng và đã vớt được cá bột.
Trong sinh sản nhân tạo, cá trắm cỏ đẻ sớm hơn, thường vào đầu tháng 3 đã cho
đẻ đạt kết qủa, thời gian đẻ trứng tập trung từ trung tuần tháng 3 đến cuối tháng 4.
Cá trăm cỏ đẻ nổị đẻ nhiều đợt, bãi đẻ tự nhiên thường ở trung lưu các sông,
thường là chỗ tiếp giáp 2 nguồn nước nơi uốn khúc hoặc đầu thác ghềnh, đáy thường là
cát sỏị Nhiệt độ thích hợp với việc đẻ trứng từ 22 - 28
oC
, lưu tốc nước từ 1 - 1,7m/s, tỷ lệ
đực cái là 1/1. Trứng trôi xuôi dòng trở thành cá bột.
Hiện nay nhiều cơ sở đã cho cá trắm cỏ đẻ nhân tạo thành công. Dưới ảnh hưởng
của kích thích tố, tác động của yếu tố nhiệt độ sự lặp lại chu kỳ phát dục của tuyến sinh
dục nhanh. Sau khi cho cá đẻ lần đầu, chúng ta tiếp tục đưa vào nuôi vỗ tái phát dục trong
thời gian từ 20 - 30 ngày, lại cho cá đẻ lần 2 trong năm.
5.4. Đặc điểm dinh dưỡng
Sau khi nở được 3 ngày thân dài trên 7 mm, cá bắt đầu ăn luân trùng, ấu trùng
không đốt và một số tảo hạ đẳng.
Khi cá dài 1 - 2cm, cá bơi khoẻ, cá ăn luân trùng, động vật giáp xác và ấu trùng
phù du cỡ nhỏ.
Khi cá dài 2 - 3 cm ruột dài 110 - 130% thân, cá bắt đầu ăn một ít nõn non của
thực vật thượng đẳng, tỷ lệ luân trùng trong thành phần thức ăn giảm dần, nhưng động
vật giáp xác, phù du vẫn chiếm thành phần chủ yếu.
Khi cá có chiều dài 3 cm, thực vật thủy sinh thượng đẳng là thức ăn chính
(Mactusep, 1964), cá từ 4 - 10 cm có thể nghiền nát thực vật thượng đẳng, cá bắt đầu
chuyển sang ăn thực vật thủy sinh non, các lá non mầm non thực vật.
Cá trắm cỏ dài 20 - 25 cm, nặng 135 - 230 g ăn thực vật trên cạn; thích ăn cỏ gà,
cỏ mồi, cỏ chỉ, ít ăn cỏ dày, ăn thực vật thủy sinh, cá thích ăn rong lá vòng hơn rong đuôi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status