TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ KHÁNH TUYẾT
PHÂN TÍCH ẢNH HƢỞNG CỦA RỦI RO
GIÁ CẢ NÔNG SẢN ĐẾN THU NHẬP CỦA
NÔNG HỘ Ở THÀNH PHỐ VỊ THANH
TỈNH HẬU GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Quản trị Kinh doanh tổng hợp
Mã số ngành: 52340101
9 - 2013
i
LỜI CẢM TẠ
Trong suốt những năm học ở trƣờng Đại học Cần Thơ, tôi đã đƣợc
quý thầy cô của trƣờng nói chúng và quý thầy cô của khoa Kinh tế - Quản
trị kinh doanh nói riêng truyền đạt những kiến thức chuyên môn và kiến thức
xã hội vô cùng quý giá. Những kiến thức hữu ích đó sẽ trở thành hành trang
giúp tôi vƣợt qua những khó khăn, thử thách trong công việc cũng nhƣ trong
cuộc sống sau này.
Để hoàn thành luận văn này tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến
PGS.TS Lê Khƣơng Ninh, ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn, định hƣớng chuyên
môn, quan tâm giúp đỡ tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, để tôi
có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những ngƣời
luôn quan tâm, chia sẽ những khó khăn và động viên tôi trong suốt thời gian
thực hiện luận văn.
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện nhƣng luận văn không
thể tránh khỏi những thiếu sót. Mong nhận đƣợc sự góp ý của quý thầy cô và
bạn bè.
Cuối lời, tôi xin chúc quý thầy cô, gia đình và bạn bè có nhiều sức khỏe,
tràn ngập niềm vui trong cuộc sống và thành công trong công việc.
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Khánh Tuyết
iii
MỤC LỤC
__________________________________________________________ Trang
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu 2
1.3.2 Không gian nghiên cứu 2
1.3.3 Thời gian nghiên cứu 2
2.1.1 Một số khái niệm liên quan 3
2.1.1.1 Khái niệm hộ 3
2.1.1.2 Khái niệm nông hộ 3
2.1.1.3 Khái niệm kinh tế hộ nông dân 4
2.1.1.4 Khái niệm thu nhập của nông hộ 5
2.1.1.5 Khái niệm rủi ro 5
2.1.1.6 Rủi ro giá cả nông sản 6
2.1.2 Lƣợc khảo một số tài liệu có liên quan
3.2.1 Trồng trọt 20
3.3.2 Chăn nuôi 22
3.3.3 Thủy sản 23
3.3.1. Trong ngành trồng trọt 25
3.3.2. Trong ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm 26
3.3.3. Trong ngành thủy sản 26
CHƢƠNG 3 16
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NÔNG SẢN CỦA NÔNG HỘ Ở
THÀNH PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG 16
3.1 TỔNG QUAN THÀNH PHỐ VỊ THANH 16
3.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NÔNG HỘ Ở THÀNH
PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG 20
3.3. NGUỒN GỐC XẢY RA RỦI RO GIÁ CẢ NÔNG SẢN TRONG SẢN
XUẤT CỦA NÔNG HỘ THÀNH PHỐ VỊ THANH 25
CHƢƠNG 4 28
ẢNH HƢỞNG CỦA RỦI RO GIÁ CẢ NÔNG SẢN ĐẾN THU NHẬP CỦA
NÔNG HỘ Ở THÀNH PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG 28
4.1 THÔNG TIN CHUNG CỦA NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN
CỨU 28
v
4.1.1 Một số đặc điểm của nông hộ 28
4.1.2 Chi phí sản xuất nông nghiệp của nông hộ 29
4.1.3 Thu nhập và cơ cấu thu nhập của nông hộ 32
4.2.1 Tình hình biến động giá cả nông sản trong năm 2011 và 2012 34
4.2.2 Thực trạng rủi ro giá cả nông sản trong sản xuất của nông hộ 37
4.2.3 Thông tin thị trƣờng 38
4.2.4 Ảnh hƣởng của kênh tiêu thụ tới sự biến động giá cả nông sản 39
6.1.1 Kết quả của đề tài 49
6.1.2 Hạn chế của đề tài 49
nông sản tới thu nhập của nông hộ 42
viii
DANH MỤC HÌNH
_________________________________________________________ Trang
Hình 4.1 Cơ cấu trình độ học vấn của chủ hộ 29
Hình 4.2 Quy mô sản xuất của nông hộ 29
Hình 4.3 Cơ cấu chi phí của hộ trồng lúa năm 2012 30
Hình 4.4 Cơ cấu chi phí của nông hộ trồng cây ăn trái năm 2012 31
Hình 4.5 Cơ cấu chi phí của nông hộ trồng mía năm 2012 31
Hình 4.6 Cơ cấu chi phí của hộ chăn nuôi năm 2012 32
Hình 4.7 Cơ cấu thu nhập của nông hộ năm 2012 34
Hình 4.8 Ảnh hƣởng của thông tin thị trƣờng đến kết quả sản xuất kinh doanh
của nông hộ năm 2012 38
sống của ngƣời nông dân ngày càng khó khăn thì điệp khúc mất mùa đƣợc giá,
đƣợc mùa mất giá vẫn cứ đeo bám nông dân mỗi khi đến vụ mùa thu hoạch.
Mặc dù hiện nay chính phủ có nhiều chƣơng trình hỗ trợ cho nông hộ trong
việc giảm thiểu rủi ro giá nông sản thay đổi nhƣng hầu nhƣ những chính sách
này mang lại hiệu quả không cao, thu nhập của nông hộ vẫn không đƣợc cải
thiện. Đặc biệt là bài toán làm sao để nông dân có thể bán sản phẩm của mình
mà không bị thua thiệt bởi các yếu tố rủi ro (trong đó có rủi ro do tƣ thƣơng ép
giá) đến nay vẫn chƣa có lời giải. Nguyên nhân đƣợc nói nhiều nhất từ phía
chính phủ. Nhƣng bên cạnh đó, bản chất hay tâm lý của ngƣời nông dân vẫn
còn là một vấn đề đƣợc xem nhƣ một căn bệnh không thể thay đổi. Vì thế, trải
qua một thời gian dài, cuộc sống của nông hộ cũng không khá hơn là bao.
Đối mặt với những khó khăn, thách thức đó buộc nông hộ phải nhìn nhận 1
Lê văn Bảnh, 2012. Các giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở vùng Đồng bằng sông
Cửu Long.
2
Phƣơng Mai, 2009. Đồng bằng sông Cửu Long sẽ là vùng nông sản lớn.
2
lại tầm quan trọng của yếu tố giá cả, ảnh hƣởng của rủi ro giá cả nông sản đến
thu nhập của nông hộ để từ đó đề ra những giải pháp hạn chế rủi ro giá cả
nông sản góp phần nâng cao thu nhập cho nông hộ. Chính vì sự cấp thiết của
vấn đề này nên tôi quyết định chọn đề tài “Phân tích ảnh hưởng của rủi ro
giá cả nông sản đến thu nhập của nông hộ ở thành phố Vị Thanh tỉnh Hậu
Giang” để nghiên cứu.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của đề tài là phân tích ảnh hƣởng của rủi ro giá cả nông
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1 Khái niệm hộ
Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng nhƣ một số từ điển chuyên
ngành kinh tế, ngƣời ta định nghĩa về “hộ” nhƣ sau: “Hộ” là tất cả những
ngƣời sống chung trong một ngôi nhà và nhóm ngƣời đó có cùng chung huyết
tộc và ngƣời làm công, ngƣời cùng ăn chung.
Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về “Hộ” gồm những ngƣời
sống chung dƣới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung
một ngân quỹ.
Bên cạnh đó, một số tác giả cũng có những định nghĩa khác nhau về
“hộ”:
McGê (1989) cho rằng: “Hộ” là một nhóm ngƣời có cùng chung huyết
tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một
mâm cơm.
Năm 1981, Harris (London- Anh) trong tác phẩm của mình cho rằng:”Hộ
là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động”, và trên góc đọ này nhóm đại biểu
thuộc trƣờng phái “Hệ thống thế giới” (Mỹ) là Smith (1985) và Martin-
Beiltell (1987) có bổ sung thêm: “Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản
xuất nguồn lao động thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung”.
Trên là một số khái niệm tiêu biểu về “Hộ”, mỗi quan điểm đặt ra một
vấn đề khác nhau, ở từng khía cạnh sẽ có những đóng góp khác nhau tuy nhiên
ta có thể hiểu chung nhƣ sau:
Đầu tiên, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có
chung huyết thống tuy nhiên cũng có những trƣờng hợp đặc biệt không cùng
huyết thống (con nuôi, ngƣời tự nguyện ở chung và có sự đồng ý của các
thành viên trong hộ cùng sống và sinh hoạt).
Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế, có nguồn lao động và phân công lao
động chung, có vốn và chƣơng trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung. Hộ
không phải là một thành phần kinh tế thống nhất mà có thể thuộc thành phần
hình nông hộ của nƣớc ta hiện nay.
2.1.1.3 Khái niệm kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân là một cơ sở kinh tế có đất đai, tƣ liệu sản xuất
thuộc sở hữu của hộ, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và
thƣờng là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhƣng chủ yếu đƣợc đặc
trƣng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trƣờng có xu hƣớng hoạt động với
mức độ không hoàn hảo cao.
3
Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ
yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của loại
hình kinh tế này trƣớc hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không phải
mục đích chính là sản xuất hàng hoá để bán).
4
Kinh tế hộ nông dân của nƣớc ta ngày càng khẳng định rõ vai trò tự chủ
của mình trong đời sống kinh tế xã hội nói chung và ở vùng nông thôn nói
riêng. Sự phát triển kinh tế hộ nông dân đã thực sự làm cho nền nông nghiệp
nƣớc ta đã đạt đƣợc những thành tựu to lớn khiến bộ mặt nông nghiệp nông
thôn và đời sống của ngƣời dân có những bƣớc thay đổi đáng kể (Đào Thế
Tuấn, 1997). 3
Trƣờng Cao đẳng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Bộ, 2007
4
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình, 2008
5
Có thể khẳng định trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn, kinh
Theo Rohrmann (1988) thì “Thuật ngữ rủi ro xuất hiện trong mọi khía
cạnh của cuộc sống và mọi ngƣời đều có thể gặp rủi ro: công nhân, ngƣời
nông dân, ngƣời kinh doanh,… Tuy nhiên, cách hiểu về khái niệm rủi ro rất
khác nhau giữa các ngành nghề và giữa các cá nhân”
Theo Ngô Quang Huân (2008) thì “Rủi ro có thể đo lƣờng đƣợc nhƣng
rủi ro là sự biến động tiềm ẩn những kết quả. Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu
hết mọi hoạt động của con ngƣời. Khi có rủi ro, ngƣời ta không thể dự đoán 5
Tổng cục thống kê
6
chính xác đƣợc kết quả. Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định. Nguy cơ
rủi ro xuất hiện bất cứ khi nào khi một hành động dẫn đến khả năng đƣợc hoặc
mất không thể đoán trƣớc”.
Theo Nguyễn Minh Duệ (2008) thì “Rủi ro là sự không đoán trƣớc đƣợc
nguyên nhân dẫn đến kết quả thực khác với dự đoán, rủi ro là khả năng xảy ra
tổn thất và mức độ rủi ro là khác nhau”.
Những trƣờng phái khác nhau, các tác giả khác nhau đƣa ra những định
nghĩa rủi ro khác nhau. Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng,
nhƣng tập trung lại có thể chia thành hai trƣờng phái lớn:
Theo trƣờng phái truyền thống, rủi ro đƣợc xem là sự không may mắn,
sự tổn thất mất mát, nguy hiểm. Nó đƣợc xem là điều không lành, điều không
tốt, bất ngờ xảy đến. Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận
thực tế so với lợi nhuận dự kiến. Rủi ro còn đƣợc hiểu là những bất trắc ngoài
ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác
động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Tóm lại, theo
quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu
tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra
nên giá không kịp thay đổi. Nhƣng nông nghiệp lại có chu kỳ sản xuất dài,
thƣờng là 3 - 4 tháng hoặc dài hơn, do đó quyết định sản xuất phải trƣớc đó,
với thời gian đó đủ để giá nông sản có thể thay đổi.
2.1.2 Lƣợc khảo một số tài liệu có liên quan
Nghiên cứu khoa học của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trang đƣợc thực
hiện năm 2011 về vấn đề “Rủi ro biến động giá cả trong hoạt động sản xuất
nông nghiệp”. Nghiên cứu nhằm đánh giá nhận thức rủi ro của nhà sản xuất và
cách ứng phó với rủi ro cũng nhƣ mong muốn phòng ngừa rủi ro trong tƣơng
lai. Tác giả thực hiện nghiên cứu đối với 576 hộ nông dân ở Đồng bằng sông
Cửu Long và các tỉnh Tây Nguyên. Với phƣơng pháp đƣợc sử dụng chủ yếu là
thống kê mô tả, kết quả khảo sát cho thấy, đa số nông dân đều nhận thức rõ rủi
ro giá cả là yếu tố quan trọng nhất tác động đến thu nhập của nông hộ. Cụ thể,
trên 55% nông hộ cho rằng những biến động trong giá đầu vào và đầu ra là
nguyên nhân chủ yếu làm giảm thu nhập, trong khi đó thời tiết chỉ chiếm
12,6%, dịch bệnh 19,6%. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy nguyên nhân của
rủi ro giá cả là do khâu tiêu thụ và mua vật tƣ đầu vào còn phụ thuộc nhiều
vào thƣơng lái. Đa số nông hộ có nhu cầu phòng ngừa rủi ro nhƣng chƣa sẵn
lòng và còn nhiều băn khoăn khi tham gia sàn nông sản.
Nghiên cứu khoa học “Xây dựng mô hình liên kết giảm thiểu rủi ro trong
sản xuất của hộ chăn nuôi heo ở Thành phố Cần Thơ” của các tác giả Nguyễn
Quốc Nghi, Trần Quế Anh, Nguyễn Đinh Yến Oanh và Võ Văn Phong đƣợc
thực hiện năm 2013, đăng trên tạp chí khoa học trƣờng Đại học Cần Thơ.
Nghiên cứu này đƣợc thực hiện nhằm xây dựng mô hình liên kết giảm thiểu
rủi ro trong sản xuất của hộ chăn nuôi heo ở thành phố Cần Thơ. Số liệu của
nghiên cứu đƣợc thu thập từ 118 hộ nuôi heo ở thành phố Cần Thơ. Kết quả
phân tích thông qua phƣơng pháp thống kê mô tả chỉ ra rằng nông hộ chăn
nuôi heo phải đối mặt với nhiều rủi ro về sản xuất, thị trƣờng và tài chính.
Trong đó, nhóm rủi ro thị trƣờng bao gồm rủi ro giá cả có tác động rõ rệt nhất
đến lợi nhuận của hộ. Mặt khác, phản ứng của hộ chăn nuôi đối với các loại
rủi ro còn nhiều hạn chế, chủ yếu phụ thuộc vào kinh nghiệm chủ quan. Từ đó,
23%. Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng mô hình thực nghiệm để nghiên cứu
các yếu tố chính tác động đến thu nhập của nông hộ: các yếu tố đầu vào, thuê
đất, trình độ học vấn của chủ hộ, kinh nghiệm của chủ hộ, liên hệ với các hiệp
hội, cơ sở hạ tầng, chỉ số chất lƣợng đất và thu nhập phi nông nghiệp. Tuy
nhiên trong trƣờng hợp nghiên cứu thì các yếu tố chính tác động đến thu nhập
của nông hộ bao gồm các yếu tố đầu vào, cơ sở hạ tầng, chất lƣợng đất, kinh
nghiệm của chủ hộ, liên hệ với các hiệp hội và phi nông nghiệp.
Đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ chăn
nuôi gia cầm ở Đồng bằng Sông Cửu Long” do tác giả Mai Văn Nam và
Huỳnh Thị Đan Xuân thực hiện năm 2011. Mục tiêu của đề tài nhằm mô tả
thực trạng thu nhập, cơ cấu thu nhập và đa dạng hóa thu nhập của hộ chăn
nuôi gia cầm tại Đồng bằng Sông Cửu Long, đồng thời nghiêu cứu cũng xác
định các yếu tố ảnh hƣởng đến thu nhập của nông hộ. Để giải quyết các mục
tiêu đã đề ra, đề tài sử dụng kết hợp các phƣơng pháp phân tích.Thứ nhất, để
phân tích cơ cấu thu nhập và sự đa dạng thu nhập của nông hộ chăn nuôi gia
cầm, đề tài sử dụng phƣơng pháp phân tích lợi ích chi phí, thống kê mô tả, chỉ
số simpson. Thứ hai, để phân tích các yếu tố ảnh hƣởng tới thu nhập của hộ
9
chăn nuôi, đề tài sử dụng phƣơng pháp hồi quy tƣơng quan. Kết quả phân tích
cho thấy rằng, các biến tổng diện tích đất của nông hộ, vay vốn, kiểm dịch, thu
nhập từ chăn nuôi gia cầm, thu nhập từ chăn nuôi khác và thu nhập phi nông
nghiệp có ảnh hƣởng tới thu nhập của hộ chăn nuôi gia cầm. Ngoài ra, nghiên
cứu còn cho thấy thu nhập của hộ chủ yếu dựa vào hoạt động nông nghiệp
chiếm 95%. Nông hộ quan tâm đến đa dạng nguồn thu nhập tuy nhiên chỉ là tự
phát nên chƣa hiệu quả.
Đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình
ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long” của nhóm tác giả Bùi Văn
Trịnh, Trần Quế Anh và Nguyễn Quốc Nghi, thực hiện vào năm 2011, chỉ ra
rằng số nhân khẩu, kinh nghiệm làm việc của chủ hộ, độ tuổi của lao động,
10
2.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG
CỦA RỦI RO GIÁ CẢ NÔNG SẢN ĐẾN THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ
2.2.1 Cơ sở lý thuyết về ảnh hƣởng của rủi ro giá cả nông sản đến
thu nhập của nông hộ
Nông nghiệp vốn là ngành sản xuất gặp nhiều rủi ro, có những rủi ro
tiềm ẩn trong ngành nghề sản xuất mà ngƣời nông dân không thể tránh khỏi
nhƣ thời tiết, thiên tai, dịch bệnh, lại có những rủi ro đến từ thị trƣờng nhƣ rủi
ro về giá cả yếu tố đầu vào hay giá bán sản phẩm đầu ra. Bên cạnh đó, những
rủi ro đến từ những chính sách chính phủ ban hành cũng ảnh hƣởng rất nhiều
đến sản xuất của nông hộ. Kết quả nghiên cứu của Hardaker và cộng sự (1997)
chỉ ra rằng khi sản xuất nông nghiệp ngƣời nông dân phải chịu 5 nhóm rủi ro
chính: nhóm rủi ro liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất, nhóm rủi ro về
giá và thị trƣờng, rủi ro liên quan đến các chính sách liên quan của chính phủ,
nhóm rủi ro liên quan trực tiếp từ nông dân, nhóm rủi ro liên quan từ các yếu
tố tài chính. Những rủi ro khác nhau có mức độ tác động khác nhau đến kết
quả sản xuất của nông hộ. Trong đó, nông hộ đánh giá rằng giá bán là rủi ro
quan trọng trong sản xuất của hộ (Patrick và cộng sự, 1985).
Khi nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trƣờng, những bảo hộ trong
nông nghiệp dần dần đƣợc tháo gỡ. Bên cạnh đó, nền kinh tế ngày càng hội
nhập với thị trƣờng thế giới thì ngƣời nông dân phải đối mặt với rủi ro biến
động giá ngày càng gia tăng. Áp lực cạnh tranh giữa nông sản trong nƣớc với
các mặt hàng nông sản nhập khẩu ngày càng cao.Theo đó, do tâm lý sính
ngoại, thích sử dụng hàng ngoại của ngƣời tiêu dùng khiến cho việc tiêu thụ
nông sản trong nƣớc lại càng khó khăn, rủi ro giá nông sản thấp và không ổn
định xảy ra thƣờng xuyên hơn và đặc biệt vào mỗi vụ thu hoạch rộ. Vì vậy mà
mỗi lo về rủi ro giá cả đã trở thành nỗi lo thƣờng trực của ngƣời nông dân. Bởi
lẽ, giá bán là yếu tố gắn liền với thu nhập, khi rủi ro giá cả xảy ra, giá bán
nông sản sẽ xuống thấp, vì vậy thu nhập của nông hộ sẽ bị giảm có khi dẫn
đến thua lỗ. Chính vì thế, nông hộ đã nhận định rằng rủi ro biến động giá cả là
Một vấn đề mà hầu hết ngƣời sản xuất nào cũng quan tâm đó là chi phí
đầu tƣ cho các yếu tố đầu vào trong sản xuất bao gồm chi phí giống, chi phí
vật tƣ nông nghiệp và các chi phí khác. Nhƣ ta đã biết, giống là yếu tố tiên
quyết trong sản xuất. Giống có chất lƣợng tốt sẽ là yếu tố cơ bản hàng đầu để
đạt năng suất, chất lƣợng cao, tuy nhiên nếu nông hộ đầu tƣ quá nhiều vào chi
phí giống sẽ làm chi phí sản xuất tăng lên, thu nhập vì vậy sẽ bị giảm (Nguyễn
Quốc Nghi và cộng sự, 2011). Theo Rahman (2003), nguyên liệu đầu vào nhƣ
phân, thuốc hóa học có ảnh hƣởng rất lớn đến thu nhập của nông hộ. Thực tế
cho thấy, khi giá vật tƣ nông nghiệp tăng làm chi phí sản xuất của nông hộ
tăng, thu nhập theo đó cũng bị sụt giảm. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc
Trang (2011) cũng khẳng định sự biến động chi phí yếu tố đầu vào là một
trong những nguyên nhân chính làm giảm thu nhập của nông hộ. Ngoài ra,
một số chi phí khác có trong hoạt động sản xuất của nông hộ nhƣ chi phí cày
bừa, làm đất, gieo sạ, chăm sóc, bón phân, phun thuốc, thu hoạch, vận chuyển
cũng ảnh hƣởng đến thu nhập của nông hộ. Bởi khi những chi phí này tăng
lên, nông hộ phải bỏ ra thêm một số tiền nữa để chi trả cho những công việc
này, làm cho thu nhập của nông hộ bị ít đi.
Khi tham gia sản xuất trong nền kinh tế thị trƣờng, nông hộ không chỉ
quan tâm đến hoạt động sản xuất của mình mà bên cạnh đó cần phải tìm hiểu
về nhu cầu cũng nhƣ thị hiếu của ngƣời tiêu dùng, để qua đó nông hộ có thể
cung cấp chính xác những mặt hàng mà khách hàng cần. Khi hộ có đƣợc đầy
12
đủ những thông tin thị trƣờng, biết đƣợc nguồn tiêu thụ sản phẩm, giá cả,
thông tin về khách hàng, hộ sẽ chủ động hơn trong việc lựa chọn nơi tiêu thụ,
chủ động về giá sản phẩm, vì vậy nông hộ có thể bán sản phẩm với giá cao,
tăng nguồn thu nhập. Chính vì vậy, thông tin thị trƣờng là yếu tố quan trọng
ảnh hƣởng tới thu nhập của nông hộ.
Ngoài ra, nghiên cứu của Rahman (2003) còn cho thấy có mối quan hệ
giữa kinh nghiệm với thu nhập của nông hộ. Kinh nghiệm thể hiện những kiến
5
CPGIONG + β
6
CPPHANBON + β
7
CPKHAC +
β
8
TTDAURA + β
9
KINHNGHIEM + β
10
PHINONGNGHIEP + ε (2.1)
Trong mô hình (2.1), THUNHAP là biến phụ thuộc đo lƣờng thu nhập
của nông hộ (triệu đồng/năm). Ý nghĩa của các biến độc lập đƣợc giải thích và
kỳ vọng về dấu của các hệ số β
i
đƣợc trình bày trong bảng 2.1:
13
Bảng 2.1: Diễn giải các biến giải thích trong mô hình thu nhập và kỳ vọng về
dấu của các βi
cá, mía (1.000đ)
-
CPVTNN
Tổng chi phí phân bón, thuốc hóa học, sử dụng
cho sản xuất lúa, cây ăn trái, hoa màu, mía và chi
phí thức ăn sử dụng cho chăn nuôi gia súc gia
cầm, nuôi cá (1.000đ)
-
CPKHAC
Tổng chi phí lao động, thuê đất, máy móc sử
dụng cho sản xuất lúa, cây ăn trái, hoa màu, mía,
chăn nuôi gia súc gia cầm, nuôi cá (1.000đ)
-
TTDAURA
Bao gồm những thông tin đƣợc hỗ trợ nhƣ kênh
tiêu thụ, giá cả sản phẩm, nhu cầu, thị hiếu của
khách hàng. Nhận giá trị là 1 nếu nông hộ đƣợc
hỗ trợ thông tin, ngƣợc lại là 0 nếu nông hộ
không đƣợc hỗ trợ thông tin.
+
KINHNGHIEM
Số năm nông hộ tham gia sản xuất nông nghiệp
(năm)
+
PHINONGNGHIEP
Thu nhập từ các hoạt động khác nhƣ làm mƣớn,
buôn bán làm dịch vụ, công nhân, viên chức, thu
nhập từ đất cho thuê (triệu đồng)
+
nhiên các nông hộ để tiến hành phỏng vấn bằng bảng câu hỏi đƣợc soạn sẵn.
2.3.1.2 Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp đề tài sử dụng là những thông tin về tình hình kinh tế, xã
hội của thành phố Vị Thanh và hoạt động sản xuất của nông hộ. Những thông
tin này đƣợc thu thập từ báo cáo tổng kết của phòng nông nghiệp thành phố Vị
Thanh, niên giám thống kê, các bài nghiên cứu và một số website trong giai
đoạn năm 2010 - 2012.
2.3.2 Phƣơng pháp phân tích số liệu
Ở từng mục tiêu cụ thể, tác giả lựa chọn những phƣơng pháp khác nhau
để giải quyết vấn đề. Cụ thể nhƣ sau:
Đối với mục tiêu 1: Tác giả sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả nhằm
mô tả thực trạng giá cả nông sản và rủi ro giá cả mà nông hộ trên địa bàn
nghiên cứu gặp phải. Các đại lƣợng thống kê đƣợc sử dụng nhƣ giá trị lớn
nhất, giá trị nhỏ nhất, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn.
15
Thống kê là tổng hợp các phƣơng pháp lý thuyết và ứng dụng vào lĩnh
vực kinh tế bằng cách rút ra những kết luận dựa trên những số liệu và thông
tin thu thập đƣợc.
Thống kê mô tả là trong hai chức năng chính của thống kê (thống kê mô
tả và thống kê ứng dụng). Thống kê mô tả là tập hợp tất cả các phƣơng pháp
đo lƣờng, mô tả và trình bày số liệu.
Đối với mục tiêu 2: Tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để xác
định ảnh hƣởng của yếu tố rủi ro giá cả đến thu nhập của nông hộ. Mục tiêu
phân tích mô hình hồi quy tƣơng quan nhằm giải thích biến phụ thuộc bị ảnh
hƣởng bởi nhiều biến độc lập.
Phƣơng trình hồi quy có dạng:
Y = β
0
+ β
1
,
X
2
,…, X
k
bằng 0.
β
1,
β
2,
…, β
k
: là hệ số hồi quy riêng. Hệ số hồi quy riêng cho biết ảnh
hƣởng từng biến độc lập lên giá trị trung bình của biến phụ thuộc khi các biến
còn lại đƣợc cố định. Khi X
1
, X
2
…X
k
tăng hay giảm một đơn vị thì trung bình
của Y sẽ tăng hay giảm bao nhiêu đơn vị, với điều kiện các biến còn lại không
thay đổi.
ε
i
: sai số trong ƣớc lƣợng
Đối với mục tiêu 3:Từ kết quả phân tích, đánh giá ở mục tiêu 1 và 2, tác
giả sử dụng phƣơng pháp suy luận để đề xuất giải pháp nhằm hạn chế rủi ro
giá cả nông sản cho nông hộ.