o
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐÀO MINH PHƯỢNG
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG TẠI HUYỆN TIÊN LỮ,
TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI , NĂM 2015BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Các số liệu và kết quả trong luận văn này là trung thực, không sao chép bất kỳ
một công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 15 tháng 7 năm 2015
Tác giả luận văn
Đào Minh Phượng Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
LỜI CẢM ƠN
Mục lục iv
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ viii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
2.1. Cơ sở lý luận 3
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của môi trường 3
2.1.2. Khái niệm, vai trò và đặc điểm quản lý nhà nước về môi trường 4
2.1.3. Nội dung quản lý nhà nước về môi trường 10
2.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến môi trường và công tác quản lý nhà
nước về môi trường 14
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý Nhà nước về môi trường 16
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về môi trường của một số nước trên
thế giới 16
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về môi trường tại Việt Nam 25
2.3 Một số bài học và kinh nghiệm rút ra đối với Việt Nam trong quản lý
nhà nước về môi trường 27
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 30
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 30
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của huyện Tiên Lữ 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 38
4.3.3 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý Nhà nước về
môi trường tại huyện Tiên Lữ 83
4.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến môi trường và công tác quản lý Nhà
nước về môi trường 86
4.5 Định hướng và giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý Nhà
nước về môi trường tại huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên 87
4.5.1 Phương hướng, mục tiêu quản lý nhà nước về môi trường tại huyện
Tiên Lữ, tỉnh Hưng yên 87
4.5.2 Các giải pháp tăng cường nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà
nước về môi trường tại huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên 88
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
5.1. Kết luận 93
5.2 Kiến nghị 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 99
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVMT
:
Bảo vệ môi trường
CĐ
:
Cao đẳng
ĐH
:
Đại học
4.5 Thực trạng nhận thức môi trường đất theo độ tuổi của đối tượng điều tra 53
4.6 Các văn bản ban hành từ năm 2012 – 2014 56
4.7 Người dân đánh giá về công tác tổ chức tuyên truyền luật môi trường
đến các gia đình 61
4.8 Kết quả kiểm tra môi trường trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất,
kinh doanh 64
4.9 Lãnh đạo địa phương đánh giá việc xây dựng hội đồng thẩm định các
dự án sản xuất kinh doanh 70
4.10 Lãnh đạo địa phương đánh giá về công tác đào tạo cán bộ phụ trách
chuyên môn về môi trường 74
4.11 Người dân địa phương đánh giá việc áp dụng các tiến bộ của khoa học
công nghệ mới 77 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số biểu Tên hình, biểu đồ Trang3.1 Cơ cấu kinh tế của huyện Tiên Lữ năm 2013 35
4.1 Thực trạng nhận thức môi trường không khí 45
4.2 Thực trạng nhận thức môi trường không khí 52
4.3 Công tác tổ chức tuyên truyền luật môi trường đến các gia đình 62
4.4 Lãnh đạo đánh giá Xây dựng hội đồng thẩm định các dự án sản xuất
kinh doanh 71
4.5 Lãnh đạo đánh giá về công tác đào tạo cán bộ phụ trách chuyên môn về
môi trường 75
Tiên Lữ là một trong số những huyện trọng điểm của tỉnh Hưng Yên đang
trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa mạnh mẽ, một mặt góp phần đáng
kể vào công cuộc phát triển chung của huyện, tỉnh. Mặt khác, đã làm nảy sinh
nhiều vấn đề về MT (UBND huyện Tiên Lữ, 2014) Đề tài: “Giải pháp tăng
cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường tại huyện Tiên Lữ
– Tỉnh Hưng Yên” đưa ra một cái nhìn tổng quát về thực trạng QLMT ở huyện
Tiên Lữ, phân tích những thành tựu và hạn chế của công tác QLNN về MT. Từ đó đề ra
các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác BVMT góp phần xây dựng huyện Tiên Lữ
ngày càng xanh – sạch – đẹp.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về môi trường, đề xuất
biện pháp tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực môi trường tại
huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về môi trường;
(2) Đánh giá, phân tích thực trạng quản lý Nhà nước về môi trường và các
yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về môi trường tại huyện Tiên Lữ, tỉnh
Hưng Yên;
(3) Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước
về môi trường cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, nhằm cải thiện môi
trường, đảm bảo sự phát triển bền vững.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý nhà nước về môi trường bao gồm chính sách, biện pháp
việc triển khai thực hiện công tác bảo vệ môi trường tại huyện Tiên Lữ, tỉnh
Hưng Yên.
con người”.
Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981: “Môi trường là toàn bộ
hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình,
trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài
nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của con
người”. Theo Luật bảo vệ môi trường của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá IX kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 27/12/1993: “Môi trường
bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất, nhân tạo, quan hệ mật thiết
với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại và
phát triển của con người và thiên nhiên”.
b) Đặc điểm môi trường
Là hệ thống hở gồm nhiều cấp bao gồm 3 phân hệ:
- Phân hệ sinh thái tự nhiên
- Phân hệ xã hội nhân văn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
- Phân hệ các điều kiện
c) Chức năng cơ bản của MT
Là không gian sống của con người và các loài sinh vật.
Cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của
con người. Nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra.
Giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật
trên trái đất. Nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
2.1.2. Khái niệm, vai trò và đặc điểm quản lý nhà nước về môi trường
a) Khái niệm
Quản lý nhà nước về Môi trường là một nội dung quản lý hành chính của
Nhà nước. Quản lý môi trường là việc sử dụng các công cụ quản lý trên cơ sở
khoa học, kinh tế, luật pháp để tổ chức các hoạt động nhằm đảm bảo giữ cân
bằng giữa phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường. “Quản lý nhà nước về
môi trường ngày càng được nâng cao, hiệu lực quản lý ngày càng tăng và đã góp
phần không nhỏ vào bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội (Bộ Tài
nguyên và Môi trường , 1998).
Nhu cầu tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải mở rộng quy mô sản xuất, phát
triển các ngành nghề. Sản xuất càng tăng thì tài nguyên khai thác, sử dụng càng
lớn và chất thải công nghiệp và sinh hoạt đổ vào môi trường càng tăng. Để giải
quyết mối quan hệ này không thể ngừng sản xuất để giữ gìn môi trường, hay khai
thác tài nguyên bằng mọi hình thức mà cần có sự quản lý một cách thích hợp. Sự
phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật cũng đã giúp cho việc khai thác tài
nguyên thiên nhiên dễ dàng hơn, nhưng cũng lại là nguyên nhân làm cho các
nguồn tài nguyên không tái tạo ngày càng bị cạn kiệt. Việc khai thác tùy tiện tài
nguyên thiên nhiên và gây ô nhiễm môi trường sống chính là những tác nhân hạn
chế sự phát triển bền vững, là nguyên nhân dẫn tới các thảm họa về môi trường
như hạn hán, lút bão…Chính vì vậy, Chính quyền các cấp, các ngành, người dân
phải nhận thức được vai trò, vị trí của con người, môi trường, mối quan hệ hữu cơ
giữa chúng. Nhận thức được vai trò quan trọng của con người đối với đời sống con
người và đối với sự phát triển bền vững, Nhà nước sẽ có những chủ trương, chính
sách phù hợp để kết hợp hài hòa các mục tiêu kinh tế, xã hội với quản lý và bảo vệ
môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 1998).
Giữa quản lý môi trường và bảo vệ môi trường có mối quan hệ biện chứng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
với nhau. Mục tiêu của quản lý môi trường là nhằm hướng tới sự phát triển bền
vững, tạo ra sự cân bằng giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường; còn
bảo vệ môi trường sẽ tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mới để phát triển
kinh tế xã hội trong tương lai. Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, đắc
điểm dân cư của môi trường, mỗi địa phương mà hoạt động và mục tiêu quản lý môi
trường có thể có nhiều cách khách nhau nhưng tất cả phải cùng tiến tới mục tiêu và
phát triển bền vững. Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường đã trở thành
nguồn tài nguyên hợp lý cho các ngành kinh tế cho giai đoạn trước mắt và lâu dài
theo hướng bền vững. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt
nam cần ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường, bảo
tồn đa dạng sinh học, nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô
thị và nông thôn. Sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ tạo điều kiện có đủ nguồn lực
để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường. Trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, đặc biệt là trong quá trình tiến vào nền kinh tế tri thức, kinh tế Việt
Nam nên dần tạo ra nền sản xuất hoàng hóa ít dựa vào tài nguyên thiên nhiên mà
chủ yếu dựa vào nguồn lực của con người, trí thức khoa học – công nghệ đảm bảo
cân bằng sinh thái. Điều này không những đảm bảo được hiệu quả kinh tế, nâng cao
sức cạnh tranh của hàng hóa mà còn thực hiện được mục tiêu phát triển bền vững.
Tuy nhiên, để kết nối được mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường, tạo ra sự phát triển bền vững thì cần phải có sự quản lý của Nhà nước về môi
trường (Đặng Dương Bình và Đặng Tâm Trung, 1998).
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã đưa ra mục tiêu tổng quát của phát
triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần văn hóa, sự
bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người
với tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là
phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.
Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định
với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân,
tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng cho
các thế hệ mai sau (Tạp chí cộng sản, 2013).
Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội là đạt được kết quả cao trong việc
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo chế độ dinh dưỡng và chất lượng
chăm sóc sức khỏe nhân dân, mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
giảm tình trạng đói nghèo và thu hẹp khoảng cách giầu nghèo giữa các tầng lớp và
Page 9
- Quản lý môi trường xuất phát từ quan điểm tiếp cận hệ thống và cần được
thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và thích hợp.
- Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc phải xử
lý, phục hồi chất lượng môi trường nếu để xảy ra sự cố, ô nhiễm môi trường.
- Dựa trên nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”: Người nào gây ô
nhiễm, tổn hại đến môi trường, phải trả kinh phí cho công tác phục hồi chất
lượng môi trường (Quốc hội, 2005)
e) Các công cụ quản lý nhà nước về môi trường
Phân loại theo chức năng: Công cụ điều chỉnh vĩ mô (các chính sách, pháp
luật liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường). Công cụ hành động (các công
cụ có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh tế – xã hội như các quy định hành
chính, quy định xử phạt…Công cụ hành động là biện pháp quan trọng nhất của tổ
chức môi trường trong việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường), công cụ hỗ
trợ ( các công cụ được đưa ra để quan sát, giám sát chất lượng môi trường, giáo
dục ý thức bảo vệ môi trường, công cụ hỗ trợ có tác dụng hỗ trợ và hoàn chỉnh
hai loại công cụ trên).
Phân loại theo bản chất: Công cụ luật pháp chính sách: Bao gồm các văn
bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch,
chính sách môi trường, quốc gia, các ngành, địa phương.
Công cụ kỹ thuật quản lý: các công cụ này thực hiện vài trò kiểm soát và
giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và
phân bổ chất ô nhiễm trong môi trường. Loại công cụ này bao gồm: đánh giá tác
động môi trường, quan trắc môi trường, tái chế và xử lý chất thải. Các công cụ kỹ
thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế nào.
Công cụ kinh tế: gồm các loại thuế, phí,…đánh vào thu nhập bằng tiền
của các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các công cụ kinh tế được áp dụng
nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ chức kinh tế để tổ
chức đó đưa ra các hành vi ứng xử có lợi hoặc ít nhất là không gây hại tới môi
được tiềm năng và cơ hội cho các thế hệ mai sau; đầu tư cho bảo vệ môi trường
là đầu tư cho phát triển bền vững.
Phát triển phải tôn trọng các quy luật tự nhiên, hài hòa với thiên nhiên,
thân thiện với môi trường; khuyến khích phát triển kinh tế phù hợp với đặc tính
sinh thái của từng vùng, ít chất thải, các-bon thấp, hướng tới nền kinh tế xanh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
Ưu tiên phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm; coi trọng tính hiệu quả, bền
vững trong khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; chú trọng bảo
tồn đa dạng sinh học; từng bước phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường;
tăng cường năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu.
Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, là nghĩa vụ của mọi
người dân; phải được thực hiện thống nhất trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm của
các Bộ, ngành, phân cấp cụ thể giữa Trung ương và địa phương; kết hợp phát huy
vai trò của cộng đồng, các tổ chức quần chúng và hợp tác với các nước trong khu
vực và trên thế giới.
Tăng cường áp dụng các biện pháp hành chính, từng bước áp dụng các chế tài
hình sự, đồng thời vận dụng linh hoạt các cơ chế kinh tế thị trường nhằm nâng cao
hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm các quy định của pháp luật các yêu cầu,
quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường được thực hiện.
- Tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ tài nguyên và các giá trị của môi
trường phải trả tiền; gây ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và đa dạng
sinh học phải trả chi phí khắc phục, cải tạo, phục hồi và bồi thường thiệt hại
(Chính phủ, 2004).
c) Tổ chức quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn
biến môi trường (Chính phủ, 2004).
d) Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các
cơ sở sản xuất, kinh doanh (Chính phủ, 2004).
e) Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường (Chính
các quốc gia. Các quốc gia cần tích cự tham gia và tuân thủ cá công ước, hiệp
định quốc tế về môi trường, đồng thời ban hành các văn bản quốc gia về luật
pháp, tiêu chuẩn quy định về quản lý môi trường (Tạp chí cộng sản, 2013).
+ Tạo lập hệ thống pháp lý thống nhất, thuận lợi cho việc bảo vệ tài
nguyên và môi trường. Một xã hội phát triển bền vững là xã hội có sự kết hợp hài
hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên môi trường. Nhà nước trung
ương và chính quyền địa phương phải có cơ cấu tổ chức và hệ thống pháp lý
thống nhất để quản lý môi trường và bảo vệ các dạng tài nguyên. Một cơ cấu
thống nhất cần kết hợp được các nhân tố con người, sinh thái và kinh tế; đây là
yếu tố quan trọng để xây dựng một xã hội phát triển bền vững. Muốn xây dựng
nền kinh tế phát triển bền vững thì trước hết phải lựa chọn những mục tiêu và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
chương trình ưu tiên như: Phải có thể chế thống nhất, có tầm nhìn xa, bao quát
các lĩnh vực khi quyết định các chương trình phát triển kinh tế - xã hội; phải có
các chính sách, cơ chế quản lý hữu hiệu để đảm bảo quyền lợi trước mắt của con
người và lợi ích của thế hệ tương lai; xây dựng các chính sách kinh tế - kỹ thuật
hợp lý không gây tác hại đến nguồn tài nguyên mà còn hỗ trợ đắc lực cho việc
bảo vệ tài nguyên và môi trường (Tạp chí cộng sản, 2013).
+ Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc
phải xử lý hồi phục môi trường nếu để xảy ra ô nhiễm. Phòng ngừa là biện pháp
ít tốn kém và hiệu quả hơn xử lý nếu để xảy ra ô nhiễm. Ngoài ra, khi chất ô
nhiễm tràn lan ra môi trường, chúng có thể xâm nhập vào tất cả các thành phần
môi trường, lan truyền theo các chuỗi thức ăn và không gian xung quanh. Để loại
trừ khỏi các ảnh hưởng của chất ô nhiễm với con người và sinh vật, cần phải có
nhiều công sức và tiền của hơn so với việc thực hiện các biện pháp phòng tránh
(Tạp chí cộng sản, 2013).
+ Quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên không tái tạo được. Đó là các loại tài
nguyên hóa thạch, chúng có vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế -
+ Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng
môi trường, dự báo diễn biến môi trường (UBND Thành phố Hồ Chí Minh, 2010).
+ Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và
các cơ sở sản xuất kinh doanh (UBND Thành phố Hồ Chí Minh, 2010).
+ Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường (UBND Thành phố
Hồ Chí Minh, 2010).
+ Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường (UBND
Thành phố Hồ Chí Minh, 2010).
k). Kiểm tra, điều chỉnh việc thực hiện bảo vệ môi trường
Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi
trường, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về BVMT, xử lý vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường (Nguyễn Hữu Cát, 2005).
2.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến môi trường và công tác quản lý nhà nước
về môi trường
a) Phong tục tập quán
Trước những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau của môi trường, con
người có những cách ứng xử khác nhau, đồng thời những hành vi ứng xử
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
của con người trước môi trường cũng tùy thuộc vào thói quen, phong tục,
tập quán và nhiều yếu tố khác nhau như văn hóa cá nhân, văn hóa cộng
đồng, văn hóa dân tộc.
Sự ứng xử của con người với môi trường có sự khác nhau giữa các khu
vực nông thôn – thành thị, đồng bằng – miền núi. Môi trường xã hội nông thôn
gắn bó chặt chẽ với quá trình sản xuất nông nghiệp, với các hình thức canh tác,
trồng trọt, chăn nuôi, trong đó yêu cầu thời tiết như mưa, nắng, gió, bão, lũ lụt,
hạn hán…ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và hiệu quả lao động. Mặc dù ngày
nay nước ta đã áp dụng một số tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông
nghiệp, nhưng môi trường tự nhiên vẫn đóng vai trò quyết định thành quả sản
thần và vật chất của con người được nâng cao. Đi đôi với nó là nhu cầu được
thỏa mãn về cả vật chất và tinh thần cũng ngày càng phát triển. Để thỏa mãn nhu
cầu đó con người tiến hành khai thác môi trường tự nhiên nhằm đáp ứng lợi ích
trước mắt, dẫn đến tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt. Do vậy việc nâng cao vai
trò của các tổ chức xã hội và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường tuyên
truyền giáo dục và nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân về bảo vệ môi
trường là hết sức cần thiết (Nguyễn Hữu Cát, 2005).
c) Khoa học công nghệ lạc hậu
Với phương châm “ đi tắt đón đầu” cập nhật công nghệ có hàm lượng chất
xám cao và công nghệ sạch của các nước phát triển nhằm nhanh chóng phát triển
kinh tế, Nhà nước có chủ trương đầu tư từng bước thay đổi trang thiết bị kỹ thuật
lạc hậu. Đó là điều hết sức cần thiết, song do trình độ của người lao động cũng
như của cán bộ quản lý nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu nên quá trình nhập
công nghệ mới từ nước ngoài về, chúng ta chưa đủ năng lực nghiên cứu, lựa chọn
và sử dụng hết công suất, tính năng của công nghệ mới, ứng dụng chưa có hiệu
quả những thành tựu khoa học và công nghệ thế giới vào sản xuất. Ở một số nơi,
một số ngành còn nhập công nghệ lạc hậu mà các nước phát triển đã sử dụng,
gây ô nhiễm môi trường (Nguyễn Hữu Cát, 2005).
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý Nhà nước về môi trường
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về môi trường của một số nước trên thế
giới
Hiện nay, trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về vai trò của
Nhà nước trong hoạt động quản lý môi trường từ nhiều góc độ khác nhau. Các