nghiên cứu tuyển chọn và đánh giá sinh trưởng phát triển của các dòng bố mẹ ở ruộng sản xuất hạt lai f1 một số tổ hợp lúa lai hai dòng mới - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

= = = = =

= = = = =
ĐÀO TRỌNG VĂN
NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN VÀ ĐÁNH GIÁ
SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC DÒNG BỐ MẸ
Ở RUỘNG SẢN XUẤT HẠT LAI F1 MỘT SỐ TỔ HỢP
LÚA LAI HAI DÒNG MỚI LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

HÀ NỘI
- 2015

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những số liệu, kết quả nghiên cứu và tài liệu trích dẫn
trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ
một học vị nào.
Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2015
Tác giả Đào Trọng Văn

sắc tới thầy giáo TS. Trần Văn Quang - Phó Trưởng Khoa Nông Học đã tận
tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập đề tài: "Nghiên cứu
tuyển chọn và đánh giá sinh trưởng phát triển của các dòng bố mẹ ở ruộng
sản xuất hạt lai F1 một số tổ hợp lúa lai hai dòng mới”.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa
Nông Học - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã xây dựng kế hoạch giảng
dạy, hướng dẫn để tôi được nâng cao kiến thức phục vụ công tác cũng như
hoàn thiện luận văn của mình một cách tốt nhất.
Nhân dịp này cho tôi được cảm ơn chân thành tới các anh chị em
Phòng nghiên cứu ứng dụng ưu thế lai Viện nghiên cứu và phát triển cây
trồng, các sinh viên thực tập tốt nghiệp năm 2014, 2015 đã cộng tác, giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian thực tập và nghiên cứu.
Lời cảm ơn sau nhưng vô cùng thiết thực là gia đình, bạn bè đồng
nghiệp đã giúp đỡ đầy đủ về tinh thần, vật chất để tôi có thể hoàn thành đề tài
luận án này.
Một lần nữa xin được cảm ơn tất cả!

Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2015
Tác giả Đào Trọng Văn Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii



2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 34
2.3. Nội dung nghiên cứu 34
2.4. Phương pháp nghiên cứu 35
2.4.1. Thí nghiệm 1: Nghiên cứu tuyển chọn một số tổ hợp lúa lai hai
dòng có triển vọng. 35
2.4.2. Thí nghiệm 2: Đánh giá sinh trưởng phát triển của các dòng bố
mẹ ở ruộng sản xuất hạt lai F1 một số tổ hợp lúa lai hai dòng mới
chọn được. 38
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1. KẾT QUẢ TUYỂN CHỌN TỔ HỢP LÚA LAI HAI DÒNG 40
3.1.1. Một số đặc điểm giai đoạn mạ của các tổ hợp lai trong vụ xuân 2014 40
3.1.2. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các tổ hợp lai 41
3.1.3. Động thái tăng trưởng của các tổ hợp lai 45
3.1.4. Một số đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai 51
3.1.5. Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các tổ hợp lai 54
3.1.6 Đánh giá tỉ lệ hữu dục của hạt phấn và tỉ lệ đậu hạt của các tổ
hợp lai trong vụ xuân 2014 57
3.1.7. Một số đặc điểm nông sinh học của các tổ hợp lai 58
3.1.8. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai 62
3.1.9. Một số chỉ tiêu chất lượng gạo của các tổ hợp lai 65
3.1.10. Kết quả đánh giá mùi thơm trên lá và nội nhũ của các tổ hợp lai
trong điều kiện vụ Xuân 2014. 67
3.1.11. Kết quả đánh giá cảm quan cơm bằng phương pháp cho điểm
(tiêu chuẩn 10 TCN 590- 2004) 69
3.2. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CÁC DÒNG BỐ MẸ Ở RUỘNG SẢN
XUẤT THỬ HẠT LAI F1 71
3.2.1. Đặc điểm giai đoạn mạ của các dòng bố mẹ trong vụ Mùa 2014 71
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

trong điều kiện vụ Xuân 2014 48
3.5. Động thái tăng trưởng số nhánh của các tổ hợp lai hai dòng mới
trong điều kiện vụ Xuân 2014 50
3.6. Đặc điểm hình thái của các tổ hơp lúa lai hai dòng mới trong điều
kiện vụ Xuân 2014 52
3.7. Mức độ nhiễm sâu bệnh của các tổ hợp lúa lai hai dòng mới trong
điều kiện vụ Xuân 2014 55
3.8. Đánh giá tỉ lệ hữu dục của hạt phấn và tỉ lệ đậu hạt của các tổ hợp
lúa lai hai dòng mới trong vụ Xuân 2014 57
3.9. Một số đặc điểm nông sinh học của các tổ hợp lúa lai hai dòng mới
trong điều kiện vụ Xuân 2014 59
3.10. Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lúa lai hai dòng mới
trong điều kiện vụ Xuân 2014 62
3.11. Năng suất của các tổ hợp lúa lai hai dòng mới trong điều kiện vụ
Xuân 2014 64
3.12. Một số chỉ tiêu chất lượng gạo của các tổ hợp lúa lai hai dòng mới
trong điều kiện vụ xuân 2014 66
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

3.13. Đánh giá mùi thơm lá và mùi thơm nội nhũ của các tổ hợp lai trong
vụ Xuân 2014 68
3.14. Tổng hợp kết quả đánh giá cảm quan cơm bằng phương pháp cho
điểm (Tiêu chuẩn 10 TCN 590-2004) 69
3.15. Một số đặc điểm giai đoạn mạ của các dòng bố mẹ trong vụ Mùa
2014 71
3.16. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các dòng bố mẹ trong
vụ Mùa 2014 73
3.17. Động thái tăng trưởng số lá của các dòng bố mẹ trong vụ Mùa
2014 75
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

HYV
S
: Hight Yield Varieties: Giống năng suất cao
CMS : Cytoplasmic Male Sterile: Bất dục đực tế bào chất, ký
hiệu là dòng A
CST : Critical Sterility-inducing Temperature: Ngưỡng nhiệt
độ chuyển hóa tính dục
Dòng B : Maintainer line: Dòng duy trì bất dục đực cho dòng A
Dòng R : Restorer line: Dòng phục hồi hữu dục cho dòng A
Dòng P : Polinator line: Dòng bố cho phấn trong lúa lai hai dòng
EGMS : Environmental-Sensitive Genic Male Sterility: Bất dục
đực di truyền nhân mẫn cảm với điều kiện môi trường
GCA : General Combining Ability: Khả năng kết hợp chung
KNKH : Khả năng kết hợp
PGMS : Photoperiod-sensitive Genic Male Sterile: Bất dục đực
di truyền nhân mẫn cảm với quang chu kỳ
P(T)GMS : Photoperiod and Thermo-Sensitive Genic Male Sterile:
Bất dục đực di truyền nhân mẫn cảm với quang chu kỳ
và nhiệt độ
TGMS : Thermo-Sensitive Genic Male Sterile: Bất dục đực di
truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ
T(P)GMS : Thermo and Photoperiod sensitive Genic Male Sterile:
Bất dục đực di truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ và

cao hơn lúa thuần từ 20 đến 30%, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có diện
tích lúa lai lớn thứ 3 thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ. Tuy nhiên, điều
khiến các nhà khoa học, các cơ quan quản lý Nhà nước và nhiều địa phương
lo ngại chính là việc trong suốt hơn 15 năm qua Việt Nam vẫn chưa chủ động
được nguồn giống, hơn 70% giống lúa lai vẫn phải nhập khẩu từ Trung Quốc.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bất hợp lý đó là do công nghệ sản
xuất hạt giống lúa lai còn phức tạp, dễ gặp rủi ro của thời tiết nên sản lượng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

trong nước còn thấp. Mặt khác, chúng ta chưa có nhiều tổ hợp lai để đáp ứng
nhu cầu của người dân ở nhiều vùng khác nhau như: năng suất cao ổn định,
chất lượng tốt theo mục đích sử dụng, có khả năng kháng sâu bệnh, thích ứng
rộng với điều kiện sinh thái thổ nhưỡng và điều quan trọng là phải có hiệu quả
kinh tế trong sản xuất để tăng thu nhập cho người dân.
Theo kế hoạch của Bộ Nông Nghiệp và PTNT, từ năm 2013 - 2020,
diện tích lúa lai thương phẩm hàng năm sẽ đạt khoảng 700-800 nghìn ha. Sản
xuất hạt lai F1 trong nước sẽ cung cấp 50-60% nhu cầu hạt giống cho sản xuất
lúa lai đại trà; năng suất hạt lai F1 đạt trên 3 tấn/ha.
Từ cơ sở thực tiễn trên và qua tổng hợp, phân tích các nguồn số liệu
thống kê có liên quan, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu tuyển chọn và
đánh giá sinh trưởng phát triển của các dòng bố mẹ ở ruộng sản xuất hạt
lai F1 một số tổ hợp lúa lai hai dòng mới”.
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
- Nghiên cứu tuyển chọn được tổ hợp lai có triển vọng nhất ở vụ Xuân
2014 tại Gia Lâm - Hà Nội.
- Đánh giá được đặc điểm sinh trưởng phát triển, đặc điểm tính dục của
các dòng bố mẹ ở ruộng sản xuất thử hạt lai F1 của một số tổ hợp lúa lai hai
dòng mới triển vọng tại Gia Lâm - Hà Nội.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu và phát triển lúa lai trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Tình hình nghiên cứu và phát triển lúa lai trên thế giới
a. Tình hình nghiên cứu lúa lai trên thế giới
Năm 1964, Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu lúa lai. Năm 1973, họ đã
thành công trong việc nhân và duy trì các dòng để sản xuất hạt lai F1 hệ 3
dòng là: dòng bất dục đực (Cytoplasmic Male Sterile line: CMS), dòng duy trì
bất dục(Maintainer line) và dòng phục hồi(Restorer line).
Năm 1973, Shi Ming Song phát hiện ra nguồn nguyên liệu Nông-ken
58s cho hệ thống lúa lai hai dòng, đó là dòng bất dục đực trong lúa ở Hồ Bắc,
Trung Quốc và nghiên cứu thời gian chiếu sáng, điều kiện nhiệt độ ảnh hưởng
đến tính bất dục đực của Nông ken 58s trong 8 năm sau đó (Shi, 1981).

chất hữu cơ nên chỉ cần sử dụng hiệu quả 2,5% thì năng suất lúa có thể đạt
22,5 tấn/ha. Thực nghiệm cho thấy các giống lúa có chiều cao 1,3m có thể đạt
được năng suất 15-16 tấn/ha, với kiểu cây cao khoảng 1,5m có thể đạt năng
suất 17-18 tấn/ha. Do vậy để đạt được năng suất 18-20 tấn/ha thì chiều cao
cây của các giống siêu lúa lai phải có chiều cao từ 1,8-2,0m. Theo Yuan
(2014) để đạt được điều đó thì những giống siêu lúa lai có kiểu hình đẹp, đẻ
nhánh gọn, khỏe, tập trung. Chính vì thế, cần giải quyết vấn đề đổ ngã của
siêu lúa lai bằng việc lai khác loài để có bộ rễ mạnh khỏe và lai với các nguồn
gen có cổ bông to, thân đặc, đốt ngắn, các đốt ở dưới to.
Nghiên cứu về lúa lai đã được bắt đầu ở Ấn Độ vào những năm 1980
với nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc. (Tran Duc Vien and Nguyen Thi
Duong Nga, 2008)
Những tiến bộ ấn tượng được thực hiện tại Viện nghiên cứu lúa quốc
tế (IRRI) và các nơi khác trong việc nhân dòng bố mẹ phù hợp với hệ sinh
thái nhiệt đới điển hình và tối ưu hóa các kỹ thuật sản xuất giống đã thúc đẩy
Ấn Độ phát triển lợi ích của mình trong công nghệ lúa lai. Hội đồng Nghiên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

cứu Nông nghiệp Ấn Độ (ICAR) xác định giống lai như là một lĩnh vực ưu tiên
cho nghiên cứu trong tương lai. Điều này dẫn đến việc xây dựng và thực hiện
các mạng lưới nghiên cứu ICAR với chương trình phát triển quốc gia thống
nhất, tài trợ và sử dụng công nghệ lúa lai vào tháng 9 năm 1991, đó là sự phối
hợp của Tổng cục nghiên cứu lúa gạo (DRR), 2 cơ quan hướng dẫn trực thuộc,
7 công ty liên kết, 3 trung tâm nghiên cứu chiến lược và các cơ quan nhà nước
sản xuất hạt giống nằm ở các khu vực tương ứng. Hơn 2 triệu ha trải rộng trên
diện tích có tưới của tất cả các bang miền nam, và vùng Tây Bắc, trừ Kerala,
tạo thành môi trường mục tiêu ban đầu cho việc khai thác ưu thế lai.
Sau 2 năm nghiên cứu, đánh giá (bắt đầu vào năm 1989), họ đã tìm ra
các dòng bất dục tế bào chất (CMS) và các dòng phục hồi đầy hứa hẹn .

tổ hợp lai do các đơn vị nhà nước chọn tạo và 39 tổ hợp lai do các công ty tư
nhân chọn tạo. Ấn Độ đưa ra chiến lược nghiên cứu là: 1-phát triển các dòng
bố mẹ có ưu thế lai cao; 2-chuyển gen ưu thế lai từ ngô sang lúa; 3- đa dạng
nguồn CMS; 4-xác định vùng sản xuất hạt lai tối ưu; 5- phát triển nguồn nhân
lực cho chọn tạo và phát triển lúa lai.
Nghiên cứu lúa lai đã được bắt đầu tại Viện nghiên cứu lúa gạo
Bangladesh (BRRI) vào năm 1983 nhưng chỉ cho mục đích học tập (Tran Duc
Vien and Nguyen Thi Duong Nga, 2008). Năm 1998-1999, Bangladesh bắt
đầu thử nghiệm giống lai F1, đánh giá CMS và dòng phục hồi giới thiệu từ
IRRI. Các kết quả nghiên cứu từ 1998- 2001 cho thấy lúa lai đã mang lại
năng suất cao hơn những giống truyền thống năng suất cao hiện tại (HYVs)
15-20%. Diện tích canh tác lúa lai năm 1999-2000 là 9.700 ha. (Abdus et al,
2008). Năm 2001, khoảng 20.000 ha được dành cho sản xuất lúa lai trong
nước. Năm 2003, con số này đã được báo cáo là 49.655 ha. (Tran Duc Vien
and Nguyen Thi Duong Nga, 2008). Năm 2004-2005 diện tích canh tác lúa lai
là 95000 ha. Năm 2005- 2006, giống lúa lai bao phủ khoảng 177.000 ha đất,
đến năm 2006-2007, các khu vực mục tiêu tăng gấp đôi lên 355.000 ha,
khoảng 4-5 % tổng diện tích đất lúa Boro (Ghani, 2006). Điều này cho thấy tỷ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

lệ tiến bộ thông qua lúa lai trên toàn quốc. Hơn nữa, tỷ lệ áp dụng giống lúa
lai ước tính dựa trên các trang trại mẫu cho thấy tỷ lệ áp dụng các giống lúa
lai đã tăng từ 26% năm 2004 lên 58% năm 2005 (Abdus et al, 2008).
Nghiên cứu bắt đầu vào năm 1989, khi một số dòng bất dục đực tế bào
chất (CMS) của IRRI đã được thử nghiệm ở miền bắc Philippines. Một số
dòng CMS và duy trì của họ đã được mua lại từ IRRI. Các dòng CMS ổn định
là V20A, IR62829A, IR58025A, IR66707A, IR54755A, và PR1A đã được
xác định để duy trì và phục hồi. Tỷ lệ hạt phấn bất dục dòng CMS là 98-100%
trong các thử nghiệm. Theo Dindo A. Tabanao et al (2014), đến năm 2013,

trong năm 2008 lên khoảng 2,8 triệu ha.
Mặc dù các khoản đầu tư, phát triển và cung cấp lúa lai ở Ấn Độ đã
phải đối mặt với một số thách thức, nhưng mục tiêu phát triển lúa lai của
chính phủ vẫn là trên 25% diện tích của tất cả các khu vực trồng lúa vào năm
2015. Tính đến 2008-09, lúa lai chiếm khoảng 6% của 44 triệu ha trồng lúa ở
Ấn Độ (Spielman et al, 2013).
Theo thành tựu và tác động của dự án lúa lai thương mại Philippines
(HRCP). Sản lượng lúa lai thương phẩm đã tăng từ 29.223 tấn trong năm
2002 lên 2,21 triệu tấn vào năm 2005. Năng suất của lúa lai so với lúa thường
dao động từ 25,75 - 46,32%, trung bình là 36,32%. Lợi thế năng suất trung
bình của sản xuất lúa lai so với thuần là 8% -14%. Từ 2001-2009, sự khác biệt
năng suất bình quân lúa lai và giống xác nhận là 1.59 tấn / ha. Các thành tựu
và tác động của dự án lúa lai thương mại (HRCP) đã dẫn đến tiết kiệm ngoại
tệ khoảng 23.25 triệu USD trong giai đoạn 2002-2004 (Regalado, 2010).
Nghiên cứu lúa lai ở Indonesia được bắt đầu vào năm 1983. Cho đến
những năm 1990, nghiên cứu vẫn chưa được thành công như mong đợi, khó
khăn trong việc tạo dòng CMS ổn định với tỷ lệ lai xa cao (≥ 25%) và thích
nghi với môi trường Indonesia. Từ năm 2001, nghiên cứu đã được tăng cường
sự hợp tác giữa IAARD với IRRI, FAO, và những nơi khác. ICRR đã đưa ra
một số tổ hợp lai, dòng CMS, duy trì và dòng phục hồi mới. Từ năm 2004 đến
năm 2011, ICRR đã công nhận rất nhiều giống cho năng suất cao, có khả
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

năng kháng sâu bệnh , và một trong số đó là thơm như: Hipa3, Hipa4, Hipa5
Ceva, Hipa6 Jete, Hipa7, Hipa8, Hipa9, Hipa10, Hipa11, Hipa12 SBU,
Hipa13, Hipa14 SBU, Hipa Jatim1, Hipa Jatim2, Hipa Jatim3(Satoto and
Mejaya, 2011).
Theo Suniyum Taprab et al (2014), năm 2011 Thái Lan đã chọn tạo
thành công giống lúa lai RDH1 và đến năm 2013 chọn tạo được giống lúa lai

Page 11

1.1.2. Nghiên cứu và phát triển lúa lai ở Việt Nam
a. Nghiên cứu phát triển lúa lai ba dòng
Năm 1992, Việt Nam bắt đầu nhập nội một số dòng CMS từ
Trung Quốc, IRRI và Ấn Độ như: IR58025A, IR62829A, IR68897A,
IR69628A, IR70369A, AMS30A, Zhenshan 97A, BoA, AMS24A, AMS39A,
II-32A, D62A, Kim 23A (Nguyễn Trí Hoàn & Nguyễn Hữu Nghĩa, 2003;
Nguyễn Như Hải, 2008; Nguyễn Thị Trâm, 2011). Bên cạnh nhập các dòng
CMS từ nước ngoài, Việt Nam cũng nhập một số tổ hợp lai và dòng phục hồi
(R) đồng thời chọn lọc và duy trì một số dòng R: Minh Khôi 63, Trắc 64, Quế
99, R903, Phúc Khôi 838, R527, R998, R718… Từ các dòng bố mẹ nhập nội
Việt Nam đã tổ chức sản xuất một số giống lúa lai phục vụ cho sản xuất như:
Shan ưu 63, Shan ưu Quế 99, Bắc ưu 64, Bắc ưu 903, Nhị ưu 63, Nhị ưu
838, Nhị ưu 718, Bác ưu 527, Bác ưu 253 (Nguyễn Thị Trâm, 2011; Nguyễn
Trí Hoàn, 2003; Trần Văn Quang, 2009; Vũ Văn Liết, 2009).
b. Nghiên cứu phát triển lúa lai hai dòng:
Việt Nam nhập nội và chọn tạo nhiều các dòng mẹ mới. Ngoài các
dòng TGMS nhập nội: 11S, TGMS7, TGMS11, TGMS6, TG10, TG5,
TG27, Peiải64S (Nguyễn Như Hải, 2008; Nguyễn Thị Trâm, 2006a; Phạm
Ngọc Lương, 2000; Nguyễn Trí Hoàn, 2003; Hà Văn Nhân, 2002; Phạm
Văn Ngọc, 2010; Nguyễn Bá Thông, 2006), còn có các dòng EGMS tạo mới:
VN-01, 11S, TGMSVN1, T1S-96, 103S, TGMS6, Hương 125S, T7S, 141S,
E15 và P5S (Hoàng Tuyết Minh, 2002; Nguyễn Trí Hoàn, 2003; Phạm
Ngọc Lương, 2000; Nguyễn Thị Trâm, 2006b, 2011; Trần Văn Quang,
2006; Nguyễn Thị Hảo, 2011). Nhưng số lượng dòng TGMS ứng dụng để
phục vụ sản xuất ở nước ta còn ít. Một số dòng còn có hạn chế về KNKH, khả
năng cho con lai có ưu thế lai cao về năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh
và điều kiện ngoại cảnh bất thuận. Hiện nay nước ta có hơn 20 dòng TGMS
mới được chọn tạo trong nước, tuy nhiên chỉ một số dòng: T1S-96, 103S,

cả dòng bố mẹ tốt nhất và trung bình về cường độ quang hợp, ở tất cả giai
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

đoạn sinh trưởng trong cả vụ Xuân và vụ Mùa (Phạm Văn Cường, 2006). Khi
nghiên cứu giống Việt lai 20 và dòng bố mẹ của chúng, tác giả còn phát hiện
khi tăng lượng đạm bón, giá trị ưu thế lai về năng suất hạt và năng suất tích
lũy trong vụ Xuân chủ yếu là do tăng tốc độ tích lũy chất khô ở giai đoạn đẻ
nhánh hữu hiệu và trỗ. Ở vụ Mùa chủ yếu là do tích lũy chất khô ở giai đoạn
trỗ (Phạm Văn Cường, 2007).
Dòng bất dục T1S-96 là dòng mẹ của một số tổ hợp lai hai dòng đang
phát triển rộng trong sản xuất hiện nay. Xác định vùng nhân dòng T1S-96 để
đạt năng suất cao rất có ý nghĩa trong sản xuất hạt giống lai. Nguyễn Thị
Trâm (2010) đã xác định thời vụ nhân dòng T1S-96 để đạt năng suất cao như
sau: Ở vùng đồng bằng vụ Xuân gieo vào 15-25/12. Ở vùng núi cao trên
950m so với mặt nước biển thì nên gieo vào 20-30 tháng 6 hàng năm.
c. Một số kết quả chọn giống lúa lai thơm
Các giống lúa lai thơm, năng suất chất lượng cao cũng đã và đang được
các nhà khoa học Việt Nam đầu tư nghiên cứu:
Giống lúa lai HYT100 do Viện Cây lương thực & Cây thực phẩm lai tạo,
chọn lọc, được công nhận giống chính thức năm 2010. Giống có thời gian sinh
trưởng ngắn: Vụ mùa 110 - 115 ngày và 130 - 135 ngày (vụ Xuân muộn).
Nhiễm nhẹ với bệnh bạc lá, đạo ôn, khô vằn, chịu rét và chống đổ khá. Năng
suất trung bình 75 - 80 tạ/ha (vụ Xuân), 70-73 tạ/ha (vụ Mùa), là giống lúa chất
lượng cao, hạt gạo trong, bóng, cơm mềm, ngon, có mùi thơm nhẹ. Thích hợp
trên các chân đất vàn hơi trũng, giàu dinh dưỡng (Phạm Đình Phục, 2013).
Giống luá lai hai dòng mới TH7-2 do Viện Nghiên cứu và Phát triển
cây trồng, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội chọn tạo, có thời gian sinh
trưởng ngắn, cây cứng, chống đổ tốt, lá xanh đậm, bông dài xếp hạt sít. Năng
suất trung bình 65-75 tạ/ha, chất lượng tốt, cơm thơm nhẹ, tỷ lệ gạo xát và

hai dòng, 100 ha diện tích sản xuất giống có năng suất trung bình 1-2 tấn/
ha.Trong thời gian ngắn, Việt Nam đã tham gia vào nghiên cứu và phát triển
lúa lai, một gói công nghệ sản xuất giống quy mô lớn cho lúa lai phát triển

Trích đoạn Chon tạo dòng bố mẹ lúa lai Chọn tạo giống lúa ưu thế lai bằng kỹ thuật cao Các bước trong quá trình sản xuất hạt lai F1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu tuyển chọn một số tổ hợp lúa lai ha Thí nghiệm 2: Đánh giá sinh trưởng phát triển của các dòng bố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status